TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2024/HS-ST Ngày 08-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Ninh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Xuân Thủy;
Bà Lăng Thị Lê Thùy .
- Thư ký phiên tòa: Bà Lành Thị Thanh Nụ- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Minh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 02, 05 và 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 88/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/HSST-QĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024, Thông báo tạm ngừng phiên tòa số 01/TB-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Sỹ T, tên gọi khác: không có, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1968 tại tỉnh Hưng Yên; số căn cước công dân: [...], cấp ngày 24/11/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số B, đường L, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Sỹ T1 (đã chết) và bà Đặng Thị M; vợ: Trịnh Thị T2, con: có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bản án số 71/HS-ST ngày 15/11/1991, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 6 năm tù về tội Cướp tài sản công dân, đã được xóa án tích. Bản án số 829/HS-PT ngày 21/5/1999, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPHC ngày 24/12/2008, Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích, phạt tiền 1.500.000 đồng, đã được xóa tiền sự. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22/QĐ-XPHC ngày 27/8/2020 Công an thành phố L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Công nhiên chiếm đoạt tài sản, phạt tiền 1.500.000 đồng, đã được xóa tiền sự. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05 ngày 24/6/2021, Công an thành phố L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản, phạt tiền 3.500.000 đồng, đã được xóa tiền sự; bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/02/2024 đến nay; có mặt.
· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Mai Kim A, sinh năm 1975; địa chỉ: Số E, ngõ C, khối G, đường T, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Hiền L, sinh năm 1987; địa chỉ: Số B, ngõ C, đường V, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Bà Đinh Ngọc V, sinh năm 1980; địa chỉ: Số G, T, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; văng mặt.
- Ông Nguyễn Đức T3, sinh năm 1980; địa chỉ: Số B, đường P, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1981; địa chỉ: Số B, đường T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Bà Hoàng Thị D, sinh năm 1977; địa chỉ: Số B, đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1988; địa chỉ: Số C, L, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Ông Giáp Văn P, sinh năm 1975; địa chỉ: Số F, ngõ B, đường H, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Chị Lộc Thị N, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 26/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp nhận đơn tố giác tội phạm của Đỗ T5 về việc đối tượng Đặng Sỹ T có hành vi cho vay tiền với mức lãi suất cao hơn mức quy định của Nhà nước. Ngày 29/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L triệu tập Đặng Sỹ T đến trụ sở làm việc, Đặng Sỹ T giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A92, màu xanh, số Imei 1: 86751105032455, Imei 2 867511050324548, lắp kèm sim số 0363.333.856, 0983.972.770 và 01 bản phô tô hợp đồng cho cá nhân vay tiền đề ngày 04/4/2024, nội dung cho Nguyễn Đức T3 vay số tiền 6.000.000 đồng; tiến hành khám xét nơi ở của Đặng Sỹ T không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tiến hành kiểm tra điện thoại di động thu giữ của Đặng Sỹ T, phát hiện nội dung tin nhắn đi và đến trao đổi về việc vay tiền của Đặng Sỹ T đến các tài khoản Zalo: “Lương văn vỷ” (số điện thoại 0847.699.xxx của Nguyễn Thị Hiền L; “Thành Làm T6” (số điện thoại 0979.622.xxx của Nguyễn Đức T3); “Kim A” (số điện thoại 0358.632.xxx của Mai Kim A); “Vân Ngân” (số điện thoại 0379.216.xxx của Đinh Ngọc V).
Quá trình điều tra, Mai Kim A nộp 03 trang tài liệu là ảnh in chụp màn hình điện thoại thể hiện nội dung Đặng Sỹ T yêu cầu trả lãi, Đinh Ngọc V nộp 02 tờ giấy A4 gồm 06 ảnh chụp màn hình chi tiết giao dịch. Ngày 23/5/2024, Đặng Sỹ T giao nộp: 01 tờ hợp đồng cho cá nhân vay tiền đề ngày 20/6/2022, nội dung cho Nguyễn Thị T4 vay 8.000.000 đồng; 01 bản phô tô thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Thị T4; 01 bản phô tô Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 004287 mang tên Nông Văn D1.
Căn cứ tài liệu điều tra, xác định: Khoảng từ tháng 10/2019 đến ngày 28/01/2024, Đặng Sỹ T thấy một số người có nhu cầu vay tiền nên đã thực hiện việc cho vay với lãi suất cao thu lợi bất chính dưới hình thức cho vay tính lãi ngày, thu lãi theo kỳ (1 kỳ là 10 ngày) và thu lãi hàng tháng, mức lãi 5.000đ/1triệu/1ngày, tương ứng mức lãi suất 182,5%/năm, yêu cầu người vay khi trả nợ gốc thì phải trả đủ số tiền vay trong một lần trả, nếu không Đặng Sỹ T chỉ tính là trả tiền lãi. Tuy nhiên tùy từng người vay, bị cáo cắt lãi trước 10 ngày hoặc cắt lãi trước 01 tháng; sau khi vay đến thời điểm nhất định bị cáo yêu cầu trả gốc không cần trả lãi.
Các trường hợp cho vay lãi, Đặng Sỹ T tự thỏa thuận và cho khách vay, có trường hợp lập giấy vay tiền, có trường hợp thì không lập giấy. Bị cáo sử dụng số điện thoại 0363.333.xxx được lắp vào điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu xanh (số IMEI 1: 867511050324555 và IMEI 2: 867511050324548) để liên lạc, hẹn gặp người vay, thỏa thuận việc cho vay tiền và đòi tiền nợ gốc, nợ lãi. Việc giao dịch tiền có thể giao, nhận tiền mặt hoặc qua hình thức chuyển khoản ngân hàng thông qua số tài khoản 35110000710440 mở tại ngân hàng B1 và số tài khoản 8400205243574 mở tại ngân hàng A1 của Đặng Sỹ T.
Về lãi suất cho vay được quy đổi theo tỷ lệ %/năm (lãi suất năm) và được tính theo công thức:
Lãi suất tính lãi (%/năm) = Số tiền lãi thực tế x 365 x 100/số tiền vay x số ngày vay.
Căn cứ Bộ luật dân sự năm 2015, số tiền lãi hợp pháp được hưởng theo quy định được tính theo công thức:
Tiền lãi hợp pháp được hưởng = 20% x số tiền vay x số ngày vay/ 365 ngày.
Số tiền thu lợi bất chính được xác định = Số tiền lãi - tiền lãi hợp pháp được hưởng.
Quá trình điều tra bị cáo khai đã cho 09 người vay, cụ thể như sau:
1. Khoản vay của bà Mai Kim A: Giữa tháng 10/2019 (ngày 15/10/2019), Mai Kim A vay Đặng Sỹ T số tiền 10.000.000 đồng, hình thức cho vay trả lãi theo ngày, lãi suất thỏa thuận 5000đ/1 triệu/1 ngày. Khi vay, Đặng Sỹ T cắt trước tiền lãi của 10 ngày là 500.000 đồng, Mai Kim A nhận được 9.500.000 đồng. Đến ngày 12/9/2022, Mai Kim A không có khả năng tiếp tục trả tiền lãi, nên xin cho trả dần vào tiền gốc, Đặng Sỹ T đồng ý. Lãi nhận được khoảng 6.500.000 đồng (gồm cả tiền lãi đã cắt trước). Hiện nay Mai Kim A còn nợ Đặng Sỹ T số tiền gốc khoảng 2.000.000 đồng.
(Tổng số tiền bị cáo cho bà Mai Kim A vay 10.000.000 đồng, số tiền lãi hợp pháp là 5.830.137 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính 47.369.863 đồng, số tiền lãi đã nhận là 6.500.000 đồng).
2. Khoản vay của bà Nguyễn Thị Hiền L: Giữa tháng 4/2021 (ngày 15/4/2021), Nguyễn Thị Hiền L vay của Đặng Sỹ T số tiền 10.000.000 đồng, hình thức cho vay trả lãi theo ngày, lãi suất thỏa thuận 5.000đ/1 triệu/1 ngày. Khi vay, Đặng Sỹ T cắt trước tiền lãi của 10 ngày là 500.000 đồng, Nguyễn Thị Hiền L nhận được 9.500.000 đồng. Với khoản vay này đến ngày 29/10/2021, Nguyễn Thị Hiền L đã trả đủ gốc và lãi cho Đặng Sỹ T. Ngày 15/02/2022, Nguyễn Thị Hiền L tiếp tục vay của Đặng Sỹ T 10.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất như khoản vay trước đó. Với khoản vay này, đến ngày 28/01/2024 Nguyễn Thị Hiền L vẫn chưa trả tiền gốc cho Đặng Sỹ T, còn nợ số tiền gốc 10.000.000 đồng. Lãi nhận được của 2 khoản vay khoảng 5.000.000 đồng (gồm cả tiền lãi đã cắt trước).
(Tổng số tiền bị cáo cho bà Nguyễn Thị Hiền L vay 20.000.000 đồng, số tiền lãi hợp pháp là 4.991.780 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính của từng khoản là 8.815.069 và 31.743.151 đồng, số tiền lãi đã nhận là 5.000.000 đồng).
3. Khoản vay của bà Đinh Ngọc V: Ngày 08/5/2023, Đinh Ngọc V vay Đặng Sỹ T số tiền 10.000.000 đồng, hình thức cho vay lấy lãi theo ngày, lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày. Khi vay, Đặng Sỹ T cắt trước tiền lãi của 10 ngày là 500.000 đồng, Đinh Ngọc V nhận được 9.500.000 đồng. Lãi nhận được khoảng 3.500.000 đồng (gồm cả tiền lãi đã cắt trước).Với khoản vay này, đến ngày 28/01/2024 bà Đinh Ngọc V chưa trả tiền gốc cho Đặng Sỹ T, còn nợ số tiền gốc 10.000.000 đồng.
(Tổng số tiền bị cáo cho bà Đinh Ngọc V vay 10.000.000 đồng, số tiền lãi hợp pháp là 1.457.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính 11.842.000 đồng, số tiền lãi đã nhận là 3.500.000 đồng).
4. Khoản vay của ông Nguyễn Đức T3: Đầu tháng 02/2023, Đặng Sỹ T cho Nguyễn Đức T3 vay 10.000.000 đồng với hình thức cho vay lấy lãi theo ngày, lãi suất là 5.000đ/1 triệu/1 ngày. Khi vay, Đặng Sỹ T cắt trước tiền lãi của 01 tháng là 1.500.000 đồng, Nguyễn Đức T3 nhận được 8.500.000 đồng. Với khoản vay này, tháng 4/2023, Nguyễn Đức T3 đã trả đủ cả gốc lẫn lãi cho Đặng Sỹ T.
Ngày 04/04/2023, Nguyễn Đức T3 tiếp tục vay của Đặng Sỹ T số tiền 6.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất như khoản vay trước. Khi vay, Đặng Sỹ T cắt trước tiền lãi của 01 tháng là 900.000 đồng, Nguyễn Đức T3 nhận được 5.100.000 đồng. Đến ngày 28/01/2024, Nguyễn Đức T3 chưa trả tiền gốc cho Đặng Sỹ T, còn nợ số tiền gốc 6.000.000 đồng.
Đầu tháng 7/2023, Nguyễn Đức T3 tiếp tục vay của Đặng Sỹ T số tiền 10.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất như khoản vay trước. Khoản vay này, Đặng Sỹ T cũng cắt trước tiền lãi của 01 tháng là 1.500.000 đồng, Nguyễn Đức T3 nhận được 8.500.000 đồng. Đến ngày 28/01/2024, Nguyễn Đức T3 chưa trả tiền gốc cho Đặng Sỹ T, còn nợ số tiền gốc 10.000.000 đồng.
Lãi nhận được của 3 khoản vay khoảng 5.500.000 đồng (gồm cả tiền lãi đã cắt trước). Tiền nợ gốc chưa trả là 16.000.000 đồng.
(Tổng số tiền bị cáo cho ông Nguyễn Đức T3 vay 26.000.000 đồng, số tiền lãi hợp pháp là 2.476.712 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính của từng khoản là 2.671.233 đồng, 8.013.699 đồng và 9.438.356 đồng, số tiền lãi đã nhận là 3.500.000 đồng).
5. Khoản vay của bà Nguyễn Thị L1: Giữa tháng 02/2022 (Ngày 15/02/2022), Nguyễn Thị L1 vay Đặng Sỹ T số tiền 10.000.000 đồng với hình thức cho vay tính lãi theo ngày, lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày. Với khoản vay này, Nguyễn Thị L1 trả lãi đến ngày 31/01/2023 thì không có khả năng chi trả tiếp nên Nguyễn Thị L1 xin không trả lãi mà trả dần vào tiền gốc, Đặng Sỹ T đồng ý. Lãi nhận được khoảng 3.500.000 đồng (gồm cả tiền lãi đã cắt trước). Hiện nay Nguyễn Thị L1 còn nợ Đặng Sỹ T khoảng 1.000.000 đồng.
6. Khoản vay của bà Hoàng Thị D: Tháng 5/2023, Hoàng Thị D vay Đặng Sỹ T số tiền 10.000.000 đồng, thỏa thuận tính lãi theo ngày, lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày. Đặng Sỹ T cắt trước tiền lãi của 01 tháng là 1.500.000 đồng, Hoàng Thị D nhận được số tiền 8.500.000 đồng. Sau khoảng 02 tháng (6 kỳ) trả tiền lãi, Hoàng Thị D trả trước số tiền gốc 5.000.000 đồng, còn nợ lại 5.000.000 đồng, và tiếp tục trả lãi 5 triệu còn lại, Đặng Sỹ T đồng ý. Lãi nhận được khoảng 3.000.000 đồng (gồm cả tiền lãi đã cắt trước). Đến ngày 28/01/2024, Hoàng Thị D vẫn nợ Đặng Sỹ T 5.000.000 đồng.
(Tổng số tiền bị cáo cho bà Hoàng Thị D vay 10.000.000 đồng, số tiền lãi hợp pháp là 827.397 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính 6.722.603 đồng, số tiền lãi đã nhận là 3.000.000 đồng).
7. Khoản vay của bà Nguyễn Thị T4: Tháng 6/2022, Nguyễn Thị T4 vay Đặng Sỹ T số tiền 8.000.000 đồng với hình thức vay trả lãi theo ngày, lãi suất 5.000đ/1 triệu/1 ngày, trả lãi theo kỳ 10 ngày. Khi vay, Đặng Sỹ T cắt trước tiền lãi 10 ngày là 400.000 đồng, Nguyễn Thị T4 nhận được số tiền 7.600.000 đồng. Nguyễn Thị T4 trả lãi 01 kỳ (là kỳ bị cáo cắt trước), sau đó không trả lãi thêm, Nguyễn Thị T4 không còn khả năng trả tiền lãi theo thỏa thuận nên đã xin trả dần vào tiền gốc, Đặng Sỹ T đồng ý. Lãi nhận được 400.000 đồng (là tiền lãi đã cắt trước). Hiện nay, Nguyễn Thị T4 còn nợ Đặng Sỹ T số tiền là 6.400.000 đồng.
(Tổng số tiền bị cáo cho bà Nguyễn Thị T4 vay 8.000.000 đồng, số tiền lãi hợp pháp là 1.183.562 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính 9.616.438 đồng, số tiền lãi đã nhận là 400.000 đồng).
8. Khoản vay của ông Giáp Văn P: Năm 2020, Giáp Văn P vay Đặng Sỹ T số tiền 10.000.000 đồng, với hình thức cho vay tính lãi theo ngày, lãi suất 5000đ/1 triệu/1 ngày. Với khoản vay này sau 10 ngày Giáp Văn P đã trả cả tiền gốc và tiền lãi cho Đặng Sỹ T đủ số tiền 10.500.000 đồng.
Từ năm 2021-2022, Giáp Văn P tiếp tục vay của Đặng Sỹ T 03 lần mỗi lần 10.000.000 đồng, cùng hình thức, thỏa thuận lãi suất vay như lần trước. Đối với 03 lần vay này, Giáp Văn P đều trả đủ cả tiền gốc và tiền lãi cho Đặng Sỹ T sau 10 ngày vay.
Ngày 13/02/2023, Giáp Văn P tiếp tục vay của Đặng Sỹ T 10.000.000 đồng, với hình thức, thỏa thuận lãi suất như các lần vay cũ. Đối với khoản vay này, ngày 23/4/2023, Giáp Văn P đã trả hết cả tiền gốc và tiền lãi cho Đặng Sỹ T.
Lãi nhận được của 5 khoản vay khoảng 5.500.000 đồng (gồm cả tiền lãi đã cắt trước).
(Tổng số tiền bị cáo cho ông Giáp Văn P vay 50.000.000 đồng, số tiền lãi hợp pháp là 602.742 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính của 4 khoản vay này là 1780.820 đồng và khoản vay cuối là 3.116.438 đồng, số tiền lãi đã nhận là 5.500.000 đồng).
9. Khoản vay của bà Lộc Thị N: Giữa tháng 12/2021 (Ngày 15/12/2021), Lộc Thị N vay Đặng Sỹ T số tiền 10.000.000 đồng, với hình thức cho vay tính lãi theo ngày, lãi suất là 5.000đ/1 triệu/1 ngày, thỏa thuận sẽ trả tiền lãi 10 ngày 01 lần. Khi vay Đặng Sỹ T cắt trước tiền lãi của 10 ngày là 500.000 đồng, đưa cho bà N 9.500.000 đồng. Đến ngày 23/3/2022, do không có khả năng trả lãi nên Lộc Thị N xin chỉ trả dần vào tiền gốc, Đặng Sỹ T đồng ý. Đối với khoản nợ trên, Lộc Thị N đã trả xong cả tiền gốc và tiền lãi cho Đặng Sỹ T. Lãi nhận được khoảng 5.000.000 đồng (gồm cả tiền lãi đã cắt trước).
(Tổng số tiền bị cáo cho bà Lộc Thị N vay 10.000.000 đồng, số tiền lãi hợp pháp là 542.466 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính của là 4.407.534 đồng, số tiền lãi đã nhận là 5.000.000 đồng).
Hiện tại, số tài khoản 35110000710440 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (B1) có số tiền 533.268 đồng và số tài khoản 8400205243574 mở tại Ngân hàng N2 (A1) có số tiền 369.976 đồng của Đặng Sỹ T đang bị phong tỏa tài khoản.
Quá trình điều tra, bị cáo Đặng Sỹ T khai đã làm thất lạc các giấy vay tiền của bà Mai Kim A, Nguyễn Thị Hiền L, Đinh Ngọc V, Nguyễn Thị L1, Hoàng Thị D, Giáp Văn P và Lộc Thị N, hiện không biết ở đâu. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét chỗ ở của bị cáo nhưng không phát hiện, tạm giữ được. Bị cáo Đặng Sỹ T giao nộp giấy vay tiền của Nguyễn Thị T4 kèm 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004287 tên Nông Văn D1 và 01 Thẻ bảo hiểm y tế số GD4202020062890 tên Nguyễn Thị Tuyết . Cơ quan CSĐT Công an T đã xác minh, xác định Nguyễn Thị T4 mua lại xe nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đen xám, biển kiểm soát 12U1-084.05 kèm giấy tờ xe, hiện không còn giấy tờ mua bán, sau khi mua chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ, do thời gian đã lâu, Nguyễn Thị T4 không nhớ đã mua của ai. Anh Nông Văn D1 trình bày năm 2018 đã bán xe mô tô cho một người tại thành phố L nhưng không nhớ là ai, giấy tờ mua bán đã bị thất lạc.
Tại bản Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đặng Sỹ T về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Sỹ T khai: Trong khoảng thời gian từ tháng tháng 10/2019 đến tháng 12/2021, trên địa bàn thành phố L, tùy theo mối quan hệ và mức độ thân thiết bị cáo đã cho nhiều người vay tiền dưới hình thức “vay lãi ngày” số tiền mỗi lần vay là 10.000.000 đồng với lãi suất tính 5.000 đồng/1 triệu đồng/1 ngày, trong đó bị cáo đã cho 9 người trên địa bàn thành phố L và huyện C vay. Tùy mối quan hệ của từng người mà bị cáo cắt lãi trước 10 ngày bằng 500.000 đồng hoặc 01 tháng bằng 1.500.000 đồng. Bị cáo khai như lời khai tại Cơ quan điều tra về việc cho 9 đối tượng vay tiền, nhất trí số liệu truy tố, số tiền thu lợi bất chính tính theo pháp luật bị cáo sẽ được thu trong khoảng thời gian bị cáo cho vay lãi là 161.164.382 đồng, với lãi suất 182,5%/ năm, gấp 9 lần lãi suất quy định của Bộ luật Dân sự, tổng số tiền gốc bị cáo cho vay là 149.000.000 đồng. Bị cáo thừa nhận được nhận tiền lãi và tiền nợ gốc của người vay đã trả như đã khai tại cơ quan điều tra. Riêng đối với Nguyễn Đức T3 đến trước thời điểm Tòa án xét xử vào cuối tháng 7/2024 đã trả hết số tiền gốc 16.000.000 đồng cho bị cáo.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt tại phiên tòa, tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt họ đều có ý kiến giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra về số lần vay, thời gian vay, số tiền vay, lãi suất và việc trả nợ gốc và lãi như nêu trên, đều đề nghị xét xử bị cáo theo quy định pháp luật. Ông Giáp Văn P yêu cầu bị cáo trả lại số tiền lãi suất đã thu theo quy định pháp luật. Tại đơn xin xét xử vắng mặt bà Mai Kim A, Lộc Thị N trình bày số tiền lãi suất được bị cáo trả lại theo quy định, nhưng không yêu cầu lấy lại mà đề nghị sung vào ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như trong bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Sỹ T phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Áp dụng khoản 2 khoản 3 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Sỹ T từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt tiền bị cáo 30.000.000 đồng - 35.000.000 đồng.
Về áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
- Truy thu bị cáo Đặng Sỹ T số tiền gốc bị cáo cho vay lãi nặng mà đã được người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án trả, để sung ngân sách Nhà nước.
- Truy thu đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án số tiền gốc bị cáo Đặng Sỹ T cho vay lãi nặng, mà chưa trả cho bị cáo, để sung ngân sách Nhà nước. .
- Truy thu bị cáo Đặng Sỹ T số tiền lãi đã thu tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền 19.835.618 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Đặng Sỹ T phải trả lại cho những người vay số tiền lãi bị cáo đã thu vượt mức lãi suất 20%/năm. Truy thu bị cáo Đặng Sỹ T số tiền lãi những người có quyền lợi nghĩa liên quan đến vụ án được bị cáo trả lại nhưng không yêu cầu lấy lại mà đề nghị sung vào ngân sách nhà nước.
Vật chứng: Tịch thu để hóa giá sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu xanh, số IMEI 1: 867511050324555 và IMEI 2: 867511050324548, đã qua sử dụng, bên trong có gắn 02 (hai) sim điện thoại di động lần lượt là 0363.333.856 và 0983.972.770. Đối với 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004287 tên Nông Văn D1, 01 (một) Thẻ bảo hiểm y tế số GD4202020062890 tên Nguyễn Thị Tuyết .
Duy trì lệnh phong tỏa tài khoản của Cơ quan cảnh sát điều tra đối với các tài khoản của bị cáo mở tại các Ngân hàng liên quan đến việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo biết hành vi bị cáo đã thực hiện là sai, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được tống đạt hợp lệ, đều vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ; bà Mai Kim A, bà Đinh Ngọc V, bà Lộc Thị N, ông Giáp Văn P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng đã thu giữ được và toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở xác định: Từ khoảng tháng 10/2019 đến ngày 28/01/2024, bị cáo Đặng Sỹ T đã cho Mai Kim A, Nguyễn Thị Hiền L, Đinh Ngọc V, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Thị L1, Hoàng Thị D, Nguyễn Thị T4, Giáp Văn P, Lộc Thị N vay lãi tổng số tiền 149.000.000 đồng, dưới hình thức “vay lãi ngày” với mức lãi suất 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự mục đích để hưởng lợi số tiền lãi 181.000.000 đồng, trong đó lãi hợp pháp 19.835.618 đồng, lãi thu lợi bất chính 161.164.382 đồng; bị cáo đã được nhận tiền lãi 35.900.000 đồng. Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Sỹ T phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đối với số tiền gốc, bị cáo và những người vay đều khai thống nhất về số tiền, thời gian bắt đầu vay. Theo diễn biến trả nợ, lời khai của các bên, xác nhận số tiền gốc còn nợ đến thời điểm xét xử gồm: Bà Mai Kim A còn nợ gốc 2.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Hiền L còn nợ gốc 10.000.000 đồng; bà Đinh Ngọc V còn nợ gốc 10.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị L1 còn nợ gốc 1.000.000 đồng; bà Hoàng Thị D còn nợ gốc 5.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị T4 còn nợ gốc 6.400.000 đồng; ông Nguyễn Đức T3, ông Giáp Văn P, bà Lộc Thị N đã trả hết không còn nợ gốc.[5] Đối với tiền lãi thực tế đã trả, các bên không có tài liệu có xác nhận giữa hai bên vay- mượn ghi lại đầy đủ về số tiền lãi đã trả. Theo diễn biến trả nợ, lời khai của các bên, xác định số tiền lãi bị cáo thực tế đã nhận được của những người vay tiền, tính bao gồm cả tiền bị cáo đã cắt lãi trước, như sau: Bà Mai Kim A đã trả lãi là 6.500.000 đồng; bà Nguyễn Thị Hiền L đã trả lãi là 5.000.000 đồng; bà Đinh Ngọc V đã trả lãi là 3.500.000 đồng; ông Nguyễn Đức T3 đã trả lãi là 5.500.000 đồng; bà Nguyễn Thị L1 đã trả lãi là 3.500.000 đồng; bà Hoàng Thị D đã trả lãi là 3.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị T4 đã trả lãi là 400.000 đồng; Ông Giáp Văn P đã trả lãi là 5.500.000 đồng; bà Lộc Thị N đã trả lãi là 5.000.000 đồng.[6] Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về lĩnh vực tài chính, ngân hàng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm cho nhiều gia đình lâm vào cảnh khó khăn, điêu đứng. Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật, nhưng vì lợi nhuận trước mắt, muốn nhanh chóng có tiền tiêu sài bị cáo đã phạm tội. Để có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. [7] Về nhân thân: Ngoài lần phạm tội này bị cáo đã nhiều lần bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, tuy đã được xóa án tích, nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu.
[8] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 khoản cho vay đối với Mai Kim A và Nguyễn Thị Hiền L trong khoảng thời gian dài, số tiền lãi thu lời bất chính của mỗi khoản trên 30.000.000 đồng, đánh giá bị cáo phạm tội nhiều lần, nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[9] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[10] Đánh giá các căn cứ quyết định hình phạt như trên, thấy cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[11] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội về kinh tế, hiện nay đang kinh doanh dịch vụ hàng tạp hóa có thu nhập, nên cần xử phạt tiền là hình phạt bổ sung để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
[12] Về biện pháp tư pháp:
[13] Số tiền gốc bị cáo Đặng Sỹ T cho vay lãi nặng 149.000.000 đồng là phương tiện phạm tội, cần truy thu sung ngân sách Nhà nước; trong đó số tiền những người vay đã trả lại cho bị cáo, cần truy thu từ bị cáo; những người vay chưa trả lại cho bị cáo, cần truy thu từ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cụ thể: Truy thu bị cáo Đặng Sỹ T 114.600.000 đồng; truy thu bà Mai Kim A 2.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Hiền L 10.000.000 đồng, bà Đinh Ngọc V 10.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị L1 1.000.000 đồng, bà Hoàng Thị D 5.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị T4 6.400.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
[14] Đối với số tiền lãi bị cáo Đặng Sỹ T đã thu tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự là 19.835.618 đồng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm cần truy thu sung ngân sách Nhà nước. Khoản này bị cáo Đặng Sỹ T đã thu từ những người vay nên cần phải truy thu từ bị cáo.
[15] Đối với số tiền lãi bị cáo Đặng Sỹ T đã thu vượt mức lãi suất 20%/năm là đối với từng người vay (được làm tròn), cần buộc bị cáo phải trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa liên quan đến vụ án đã vay tiền bị cáo, cụ thể trả lại bà Nguyễn Thị Hiền L 8.000 đồng, bà Đinh Ngọc V 2.043.000 đồng, ông Nguyễn Đức T3 1.023.000 đồng, bà Nguyễn Thị L1 1.577.000 đồng, bà Hoàng Thị D 2.172.500 đồng, ông Giáp Văn P 4.897.000 đồng. Số tiền lãi những người có quyền lợi nghĩa liên quan đến vụ án được bị cáo trả lại nhưng không yêu cầu lấy lại gồm: Bà Mai Kim A 670.000 đồng, bà Lộc Thị N 4.457.500 đồng, cần truy thu từ bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước.
[16] Về vật chứng: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu xanh, số IMEI 1: 867511050324555 và IMEI 2: 867511050324548, đã qua sử dụng, bên trong có gắn 02 (hai) sim điện thoại di động lần lượt là 0363.333.856 và 0983.972.770, bị cáo sử dụng để liên lạc trao đổi cho vay lãi nặng, nên cần tịch thu để hóa giá sung ngân sách nhà nước. Đối với 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004287 tên Nông Văn D1; 01 (một) Thẻ bảo hiểm y tế số GD4202020062890 tên Nguyễn Thị T4, đây là giấy tờ của bà Nguyễn Thị T4 đưa cho bị cáo để làm tin vay tiền, cần trả lại cho bà Nguyễn Thị Tuyết .
[17] Đối với các giao dịch chuyển tiền vào tài khoản từ bà Lương Thị B (sinh năm 1972, trú tại khối H, phường Đ, thành phố L), bà Nguyễn Lệ H (sinh năm 1977, trú tại số A, đường B, phường T, thành phố L), ông Hoàng Văn H1 (sinh năm 1968, trú tại thôn P, xã M, thành phố L) là tiền mua bán hàng hóa, tiền chuyển vào tài khoản để lấy tiền mặt, tiền vay không tính lãi. Đối với một số giao dịch ghi nội dung chuyển tiền lãi, Đặng Sỹ T không nhớ cụ thể, xác minh đối với những tài khoản có liên quan, người chuyển tiền là Lương Ngọc T7 (khu H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn); Nguyễn Thị Thúy H2 (sinh năm 1975, trú tại: tại tổ A, khối E, phường Đ, thành phố L, chỗ ở: số A, đường N, khối C, phường T, thành phố L); Nguyễn Thùy N1 (trú tại số E, đường L, phường H, thành phố L) đều không có mặt tại địa phương và một số đối tượng khác, do vậy chưa có căn cứ làm rõ để xử lý trong vụ án, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
[18] Đối với các Lệnh phong tỏa tài khoản của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đối với tài khoản số 8400205243574 mở tại Ngân hàng N2- Chi nhánh L2 và tài khoản số 35110000710440 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh L2 của bị cáo Đặng Sỹ T, cần tiếp tục duy trì, tạm giữ tiền trong tài khoản, để đảm bảo thi hành án.
[19] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và các nội dung khác là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[20] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[21] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 201, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292, khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Sỹ T phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Sỹ T 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Đặng Sỹ T số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về biện pháp tư pháp
- Truy thu, sung ngân sách Nhà nước từ bị cáo Đặng Sỹ T số tiền 139.563.118đ (một trăm ba mươi chín triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn một trăm mười tám đồng), gồm các khoản tiền:
- - Số tiền gốc bị cáo Đặng Sỹ T cho vay lãi nặng 114.600.000đ (một trăm mười bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).
- - Số tiền lãi bị cáo Đặng Sỹ T đã thu tương ứng với mức 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự 19.835.618đ (mười chín triệu tám trăn ba mươi lăm nghìn sáu trăm mười tám đồng).
- - Số tiền lãi (được làm tròn) 5.127.500đ (năm triệu một trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng) những người có quyền lợi nghĩa liên quan đến vụ án được bị cáo trả lại nhưng không yêu cầu lấy lại mà đề nghị sung vào ngân sách nhà nước gồm: 670.000 đồng (là tiền trả bà Mai Kim A) và 4.457.500đ (là tiền trả bà Lộc Thị N).
- Truy thu, sung ngân sách Nhà nước từ người có quyền lợi lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án khoản tiền gốc bị cáo Đặng Sỹ T đã cho vay lãi nặng gồm:
- - Truy thu bà Mai Kim A 2.000.000đ (hai triệu đồng).
- - Truy thu bà Nguyễn Thị Hiền L 10.000.000đ (mười triệu đồng).
- - Truy thu bà Đinh Ngọc V 10.000.000đ (mười triệu đồng).
- - Truy thu bà Nguyễn Thị L1 1.000.000đ (một triệu đồng).
- - Truy thu bà Hoàng Thị D 5.000.000đ (năm triệu đồng).
- - Truy thu bà Nguyễn Thị Tuyết 6 (sáu triệu bốn trăm nghìn đồng).
- Buộc bị cáo trả lại những người vay số tiền lãi bị cáo đã thu vượt mức 20%/năm (được làm tròn), tổng số tiền là 11.702.500đ (mười một triệu bảy trăm linh hai nghìn năm trăm đồng), cụ thể trả lại những người sau:
- - Trả lại bà Nguyễn Thị Hiền L số tiền 8.000đ (tám nghìn đồng).
- - Trả lại bà Đinh Ngọc V số tiền 2.043.000đ (hai triệu không trăm bốn mươi ba nghìn đồng).
- - Trả lại ông Nguyễn Đức T3 số tiền 1.023.000đ (một triệu không trăm hai mươi ba nghìn đồng).
- - Trả lại bà Nguyễn Thị L1 số tiền 1.577.000đ (một triệu năm trăm bảy mươi bảy nghìn đồng).
- - Trả lại bà Hoàng Thị Duyên s tiền 2.172.500đ (hai triệu một trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm đồng).
- - Trả lại ông Giáp Văn P số tiền 4.897.000đ (bốn triệu tám trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu để hóa giá sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu xanh, số IMEI 1: 867511050324555 và IMEI 2: 867511050324548, bên trong có gắn 02 (hai) sim điện thoại di động lần lượt là 0363.333.856 và 0983.972.770, máy đã qua sử dụng.
- Trả lại bà Nguyễn Thị T4 các giấy tờ sau:
- - 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004287 tên Nông Văn D1;
- - 01 (một) Thẻ bảo hiểm y tế số GD4202020062890 tên Nguyễn Thị Tuyết
(Vật chứng nêu trên được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).
- Về biện pháp cưỡng chế: Duy trì các Lệnh phong tỏa tài khoản của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L số 157/LPT-CQĐT ngày 07/022024 đối với tài khoản số 8400205243574, chủ tài khoản là Đặng Sỹ T đối với số tiền 369.976đ (ba trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi sáu đồng) tại Ngân hàng N2 - Chi nhánh L2 và số 156/LPT-CQĐT ngày 07/02/2024 đối với tài khoản số 35110000710440, chủ tài khoản là Đặng Sỹ T đối với số tiền 533.268đ (năm trăm ba mươi ba nghìn hai trăm sáu mươi tám đồng) tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh L2, tạm giữ tiền còn trong tài khoản, để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Sỹ T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Lạng Sơn;
- - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
- - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- - VKSND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
- - Công an TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
- - Chi cục THADS TPLS, T. Lạng Sơn;
- - Bị cáo, NCQLNVLQÐVA;
- - Lưu hồ sơ, HСТР.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hải Ninh
- Truy thu, sung ngân sách Nhà nước từ bị cáo Đặng Sỹ T số tiền 139.563.118đ (một trăm ba mươi chín triệu năm trăm sáu mươi ba nghìn một trăm mười tám đồng), gồm các khoản tiền:
Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về hình sự sơ thẩm về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 98/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Sỹ T - Trộm cắp tài sản
