Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 98/2024/DS- PT

Ngày: 08/5/2024

V/v “Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở ngày 06/02/2022 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Quyết.
  • Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang
  • Ông Nguyễn Việt Hùng

Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Đình Đức - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 08/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 324/2023/TLPT- DS ngày 13 tháng 12 năm 2023 về việc “Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở ngày 06/02/2022 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 61/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 70B/2024/QĐ-PT ngày 15/02/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 94/2024/TB-TA ngày 13/03/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 125/2024/QĐ- PT ngày 11/04/2024 giữa:

  • - Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  • - Bị đơn: Bà Hoàng Thị T sinh năm 1959; Địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị T1 sinh năm 1986 Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

Người kháng cáo: Nguyên đơn chị Vũ Thị N và bị đơn bà Hoàng Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 17/02/2023 và ngày 22/5/2023 chị Bùi Thị N1 là nguyên đơn trình bày trong các bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa:

Ngày 28/9/2021 tại gia đình bà T, giữa chị và bà T có làm hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền đất và tài sản gắn liền với đất. Theo hợp đồng đặt cọc thì bà T có chuyển nhượng cho chị thửa đất 215 có diện tích 1.034,2m² ở tờ bản đồ số 79. Thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ cho bà Hoàng Thị T. Trị giá thửa đất là 1.284.000.000đ. Chị sẽ phải đặt cọc trước số tiền là 50.000.000đ. Đến ngày 03/10/2021 chị tiếp tục đặt cọc cho bà T lần 2 số tiền là 234.000.000đ. Đến ngày 07/01/2022 giữa chị và bà T tiếp tục làm bản hợp đồng đặt cọc vẫn nội dung như bản hợp đồng ngày 28/9/2021. Trong hợp đồng đặt cọc, chị có đặt cọc tiếp số tiền 500.000.000đ cho bà T. Tổng số tiền theo hợp đồng đặt cọc ngày 07/01/2022 chị đã chuyển cho bà T là 784.000.000đ. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, đến ngày 14/01/2022 chị giao nốt số tiền 500.000.000đ thì bà T phải làm các thủ tục chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chị thửa đất có diện tích trên. Đến ngày 14/01/2022 tại văn phòng C1 ở địa chỉ T, Thị trấn V, huyện L chị có trả tiếp cho bà T số tiền 500.000.000đ để bà T làm thủ tục chuyển nhượng đất cho chị tại văn phòng C1. Tổng số tiền bà T đã nhận là 4 lần, tổng số tiền là 1.284.000.000đ. Nhưng do bà T vướng mắc về tình trạng hôn nhân giữa bà T với chồng bà T là ông U sống chung với nhau từ năm 1979 đến năm 1983 thì theo bà T nói ông U có bỏ lên Điện Biên lấy vợ khác và sinh được 3 người con, đến năm 2012 ông U chết, chính vì vậy mà không làm được các thủ tục chuyển nhượng đất cho chị.

Ngày 06/02/2022 tại gia đình nhà bà T, chị và bà T đã thống nhất lại việc mua bán, chuyển nhượng đất ở. Hai bên có viết giấy thỏa thuận có nội dung “………………… Bà N1 sẽ giao lại GCNQSDĐ cho bà T để bà T làm thủ tục cho tặng con gái tên là Phạm Thị T1 sinh năm 1986 hộ khẩu thường trú ở xã T, huyện L, sau đó bà T1 có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng cho bà N1 theo quy định của pháp luật. Nếu vì bất kỳ lý do nào bà T1 không làm thủ tục chuyển nhượng cho bà N1 thửa đất trên thì bà T phải trả lại toàn bộ số tiền bà N1 đã mua là 1.284.000.000đ và bồi thường cho bà N1 một khoản tiền gấp 2 lần số tiền bà N1 đã đặt cọc......”. Sau khi 2 bên viết giấy thỏa thuận chuyển nhượng đất ở như vậy, bà T tiếp tục không làm các thủ tục tặng cho chị T1 đất theo giấy thỏa thuận ngày 06/02/2022 để chuyển nhượng đất cho chị mặc dù chị đã yêu cầu nhiều lần nhưng bà T vẫn không làm. Nay chị yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng đất ở ngày 06/02/2022 giữa chị và bà T vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và chị không đề nghị Tòa án giải quyết toàn bộ số cây trồng trên thửa đất 215 của bà T và thửa đất của bà T hiện chị đang sử dụng.

Bị đơn bà Hoàng Thị T trình bày trong các biên bản lấy lời khai: Năm 2007 bà có được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ cho bà được quyền sử dụng 1.336m² đất ở ở tại thửa đất số 1262 tờ bản đồ số 30. Đến năm 2021 UBND huyện L yêu cầu gia đình bà cấp đổi lại từ sổ đỏ sang GCNQSDĐ mới là sổ hồng. Đến ngày 18/12/2021 UBND huyện L đã cấp lại cho hộ bà Hoàng Thị T (là bà) được quyền sử dụng 1.034,2m² đất ở nông thôn ở tại thửa đất số 215, tờ bản đồ số 79 thuộc thôn N, xã X, huyện L. Trước khi chưa được cấp lại ngày 28/9/2021 do bà cần một số tiền để chữa bệnh bà đã làm hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng thửa đất trên cho chị N1thôn T, xã X. Trị giá thửa đất là 1.284.000.000đ, chị N1 đã đặt trước cho bà là 50.000.000đ. Đến ngày 03/10/2021 chị N1 đặt cọc tiếp cho bà được 234.000.000đ. Đến ngày 07/01/2022 giữa bà với chị N1 tiếp tục làm hợp đồng đặt cọc với nội dung thỏa thuận vẫn như hợp đồng đặt cọc ngày 18/12/2021. Chị N1 tiếp tục đặt cọc cho bà số tiền là 500.000.000đ. Theo hợp đồng đặt cọc này thì đến ngày 14/01/2022 thì chị N1 chuyển nốt số tiền còn lại thì bà sẽ có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng diện tích đất trên cho chị N1. Ngày 14/01/2022 chị N1 gọi bà lên tại văn phòng C1 ở tại thị trấn V để chị N1 trả nốt tiền và bà sẽ làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất trên cho chị N1. Khi lên văn phòng C1 chị N1 yêu cầu bà giao GNCQSDĐ, ngay sau đó chị N1 thanh toán cho bà nốt số tiền. Khi thanh toán xong bà có hỏi chị N1 có làm thủ tục giấy tờ gì liên quan đến việc chuyển nhượng đất không, chị N1 trả lời “không phải làm gì, thế là xong hết rồi”. Khi đó có cả mặt con gái bà là T2, T1 và con rể bà là C đều biết. Khi chị N1 nhận GCNQSDĐ bà giao chị N1 cũng không hỏi cấp cho riêng hoặc chung gì. Sau một thời gian thì chị N1 lại điện cho con gái bà bảo cho mượn mẹ một lúc, con gái bà có trả lời là mẹ em không đi được xe, xuống chở mẹ em đi, chị N1 có xuống chở bà đến văn phòng C1, chị N1 có bảo bà ký vào các loại giấy tờ để chị N1 làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà cho người khác. Nhưng khi ký văn phòng C1 yêu cầu phải có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của bà thì mới làm được thủ tục vì liên quan đến chồng bà và các con riêng của chồng bà hiện đang sinh sống ở tỉnh Điện Biên. Sau đó không làm được bà đi về thì đến ngày 06/02/2022 chị N1 tự viết giấy thỏa thuận chuyển nhượng đất ở xuống bảo bà và bảo con gái bà là Phạm Thị T1 để về cùng ký vào biên bản. Nhưng khi con gái bà về và lên văn phòng C1 thì cháu T1 không được ký và chỉ có bà và chị N1 cùng ký vì văn phòng công chứng Quang M vẫn yêu cầu về làm giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của bà. Sau đó chị N1 có yêu cầu bà phải cung cấp mọi thông tin đầy đủ liên quan đến việc chuyển nhượng đất để chị N1 tự làm nhưng sau cũng không làm được. Hai bên có thống nhất bà sẽ trả tiền nhưng khi trả chị N1 không nhận. Nay bà vẫn nhất trí chuyển nhượng thửa đất trên cho chị N1. Nếu vướng mặc thủ tục pháp luật quy định không làm được, chị N1 đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng đất ở ngày 06/02/2022 là vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, bà cũng hoàn toàn nhất trí. Nhưng bà xin được trả dần. Còn chị N1 yêu cầu bà phải bồi thường thêm 2 lần tiền bằng số tiền đặt cọc, bà không nhất trí vì không phải lỗi của bà, hoàn toàn do lỗi chị N1. Hiện thửa đất số 215 chị N1 trồng một số cây cối trên đất và đang sử dụng, nay bà không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Chị Phạm Thị T1 trình bày trong bản tự khai và biên bản lấy lời khai: chị xác nhận không liên quan gì đến hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà Vũ Thị N và bà Hoàng Thị T, chị cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với việc chuyển nhượng đất của bà T cho bà N. Thửa đất bà T chuyển nhượng cho bà N đã được UBND huyện L cấp cho hộ bà Hoàng Thị T, bà không biết từ đâu mà có, chỉ biết khi bà lớn lên thì bà sinh sống trên thửa đất này. Nay chị xin được từ chối tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Do trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án nên nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ và định giá đối với tài sản tranh chấp. Kết quả định giá tài sản ngày 27/6/2023 như sau:

Áp dụng quyết định số 72/2021/QĐ-UBND ngày 27/12/2021 của UBND tỉnh B đất đang tranh chấp có các vị trí vị trí 2, khu vực 2, xã N, giá giao dịch tại thời điểm định giá giá tham khảo tại địa phương là:

  • - 360m² đất ở trị giá: 2.500.000₫ x 360m² = 900.000.000đ.
  • - 672,4m² đất trồng cây lâu năm trị giá: 700.000₫ x 674,2m² = 471.940.000₫.
  • - Toàn bộ cây cối trên đất là của chị N trồng năm 2022 gồm:
    • + 165 cây bạch đàn nhỏ cao 1m có giá 15.000đ/1 cây = 2.475.000₫
    • + 90 cây bạch đàn đường kính gốc 1-2cm, cao 2-3m giá 34.000đ/1 cây x 90 cây = 3.060.000đ.
    • + 2 cây mít đường kính gốc 9-12cm có giá 425.000đ/1 cây= 850.000₫
    • + 1 cây đu đủ trị giá 107.000₫
    • + 1 cây bưởi gốc đến 5cm trị giá 1.091.000đ.

Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 61/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang đã quyết định:

  1. Áp dụng Điều 26, 35, 39; 147, 227, 271 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, 119, 123, 129, 131, 500, 501, 502 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167 Luật Đất đai năm 2013; Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị N: Tuyên bố “Giấy thoả thuận chuyển nhượng đất ở” ngày 06/02/2022 giữa chị Vũ Thị N và bà Hoàng Thị T về việc thoả thuận chuyển nhượng thửa đất số 215, tờ bản đồ số 79, diện tích 1.034,2m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 472905 cấp ngày 18/12/2021 mang tên hộ bà Hoàng Thị T là vô hiệu.
  3. Buộc bà T phải hoàn trả số tiền 1.284.000.000₫ đã nhận của chị N và bồi thường cho chị N số tiền 43.970.000đ (là 1/2 tiền chênh lệch theo định giá thửa đất ngày 27/6/2023 so với số tiền bà T đã nhận của chị N). Tổng cộng bà T phải trả chi chị N số tiền 1.327.970.000đ (Một tỷ ba trăm hai mươi bẩy triệu chín trăm bẩy mươi nghìn đồng).
  4. Buộc bà T phải trả cho chị N 6.500.000đ tiền chi phí đo vẽ, thẩm định, định giá tài sản.
  5. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 06/10/2023, nguyên đơn chị Vũ Thị N kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án.

Ngày 06/10/2023, bị đơn bà Hoàng Thị T kháng cáo không đồng ý bồi thường bà N 43.000.000₫.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn chị N tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo. Bị đơn bà Hoàng Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:

  • - Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 289 của BLTTDS đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị Vũ Thị N; căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS, không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị T.
  • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Vũ Thị N phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm.

Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Hoàng Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Tòa án xét xử vắng mặt những người này là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Hoàng Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Xét “Giấy thoả thuận chuyển nhượng đất ở” ngày 06/02/2022 thì thấy:

  • - Về hình thức: “Giấy thoả thuận chuyển nhượng đất ở” ngày 06/02/2023 được ký kết giữa chị N và bà T chỉ được ký kết giữa hai bên, không được công chứng, chứng thực theo khoản 1 Điều 502 BLDS năm 2015 và điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 là không tuân thủ đúng về hình thức của hợp đồng theo quy định pháp luật.
  • - Về nội dung của hợp đồng: Trong hợp đồng có nội dung chị N và bà T thống nhất để bà T làm thủ tục tặng cho con gái là chị T1 thửa đất số 215, tờ bản đồ số 79, địa chỉ tại thôn N, xã X, huyện L, diện tích 1.034,2m² được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/12/2021, số DĐ 472905, vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00053. Sau đó chị T1 có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng cho chị N. Nếu chị T1 không làm thủ tục chuyển nhượng cho chị N vì bất cứ lý do gì thì bà T phải trả lại toàn bộ số tiền 1.284.000.000đ và bồi thường bằng hai lần số tiền chị N đã đặt cọc. Tuy nhiên trong giấy thoả thuận không có chữ ký của chị T1, chị T1 trình bày không nhớ đã thấy giấy này hay chưa, không biết nội dung thoả thuận này, trong khi chị T1 là đồng sở hữu cùng với bà T đối với quyền sử dụng thửa đất số 215 nhưng không được biết và ký kết nên nội dung của hợp đồng không đảm bảo theo Điều 501 BLDS năm 2015.

Xét thấy, “Giấy thoả thuận chuyển nhượng đất ở” ngày 06/02/2022 không đảm bảo về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng và vi phạm về hình thức. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố “Giấy thoả thuận chuyển nhượng đất ở” ngày 06/02/2022 giữa chị Vũ Thị N và bà Hoàng Thị T về việc thoả thuận chuyển nhượng thửa đất số 215, tờ bản đồ số 79, diện tích 1.034,2m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 472905 cấp ngày 18/12/2021 mang tên hộ bà Hoàng Thị T là vô hiệu là phù hợp với quy định tại Điều 117, 123, 129 BLDS năm 2015.

[2.2] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:

Như đã phân tích ở mục [2.1] “Giấy thoả thuận chuyển nhượng đất ở” ngày 06/02/2022 không đảm bảo về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng và vi phạm về hình thức nên vô hiệu. Căn cứ lời khai của các bên đương sự thể hiện các đương sự đều biết việc bà T phải có giấy tờ xác nhận rõ tình trạng hôn nhân thì mới làm thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng được. Thửa đất số 215, tờ bản đồ số 79, diện tích 1.034,2m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 472905 cấp ngày 18/12/2021 mang tên hộ bà Hoàng Thị T, trong đó có chị Phạm Thị T1 là thành viên hộ gia đình nhưng không thông báo cho chị T1 biết mà vẫn xác lập nội dung có quyền, nghĩa vụ của chị T1 trong giấy thoả thuận chuyển nhượng. Như vậy đánh giá lỗi của chị N và bà T dẫn đến hợp đồng vô hiệu là 50/50.

Vũ Thị N đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Căn cứ quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự quy định: “....Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận....”

Do bà T đã nhận đủ số tiền 1.284.000.000đ từ ngày 14/01/2022 nên cần buộc bà T trả lại đủ số tiền 1.284.000.000đ cho chị N. Bên cạnh đó, theo định giá ngày 27/6/2023 thì thửa đất số 215 trị giá: 360m² đất ở x 2.500.000đ + 674,2m² đất trồng cây lâu năm x 700.000đ= 1.371.940.000đ; chênh lệch so với giá trị đất theo thoả thuận chuyển ngày 06/02/2022 là 1.371.940.000₫ – 1.284.000.000₫ = 87.940.000₫.

Như đã phân tích ở trên, lỗi của mỗi bên dẫn đến hợp đồng vô hiệu là 50/50, vì vậy cần buộc bà T trả 1/2 của khoản tiền chênh lệch theo định giá của thửa đất số 215 so với số tiền đã nhận là phù hợp. Bà T phải bồi thường cho chị N là 87.940.000đ/2 = 43.970.000₫.

Tổng cộng bà T phải trả lại chị N tổng số tiền là 1.284.000.000₫ + 43.970.000₫ = 1.327.970.000₫.

Ngoài những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, phía nguyên đơn cũng như bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Đối với kháng cáo của chị Vũ Thị N, tại phiên tòa phúc thẩm, chị Vũ Thị N tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo. HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 289 của BLTTDS đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị N.

[4] Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 29 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án, chị Vũ Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Hoàng Thị T thuộc diện người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 289 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị Vũ Thị N.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Hoàng Thị T. Giữ bản án dân sự sơ thẩm số 61/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 12; khoản 4 Điều 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án

    Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Hoàng Thị T.

    Chị Vũ Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số 0000681 ngày 13/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị N đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.

  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND, Chi cục THADS cấp sơ thẩm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/DS- PT ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở ngày 06/02/2022 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu

  • Số bản án: 98/2024/DS- PT
  • Quan hệ pháp luật: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở ngày 06/02/2022 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger