TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2024/HS-ST Ngày 07-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hứa Thị Thanh Xuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Đức Hiếu.
Ông Nông Ngọc Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phấn, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Kỳ Anh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 và 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HS ngày 10/7/2024, Thông báo chuyển ngày xét xử vụ án hình sự số 07/2024/Tb-TA ngày 23/7/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thị H; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 01 tháng 02 năm 1987 tại tỉnh Bắc Ninh; nơi thường trú và chỗ ở: Khu phố T, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; số căn cước công dân: [...] cấp ngày 17/08/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội – Bộ C1; nghề nghiệp: Tự do; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 07/12; con ông Nguyễn Hữu L và bà Nguyễn Thị S; có chồng là Nguyễn Văn T và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, xử ký hành chính, xử lý kỷ luật. Bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 17/01/2024. Bị áp dụng sang biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/01/2024 đến nay.
- Nguyễn Văn T; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 14 tháng 3 năm 1982 tại tỉnh Bắc Ninh; nơi thường trú và chỗ ở: Khu phố T, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; số căn cước công dân: [...], cấp ngày 17/8/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội – Bộ C1; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Nguyễn Thị H và 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, xử ký hành chính, xử lý kỷ luật. Bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 17/01/2024. Bị áp dụng sang biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/01/2024 đến nay.
- Dương Văn T1; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 01 tháng 6 năm 1987 tại tỉnh Hưng Yên; nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; chỗ ở: Thôn P, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...], cấp ngày 15/12/2016, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội – Bộ C1; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 03/12; con ông Dương Xuân Đ và bà Đào Thị H2 (đã chết); có vợ là Vũ Thị Q và 04 con, tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, xử ký hành chính, xử lý kỷ luật. Bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 17/01/2024. Bị áp dụng sang biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/01/2024 đến nay.
- Bùi Văn L1; tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 01 tháng 6 năm 1981 tại tỉnh Thái Bình; nơi thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; số căn cước công dân: [...], cấp ngày 27/10/2014, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội – Bộ C1; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 09/12; con ông Bùi Văn K và bà Lê Thị L2; có vợ là Lê Thị T2 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không có. nhân thân: Chưa bị kết án, xử ký hành chính, xử lý kỷ luật. Bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 17/01/2024. Bị áp dụng sang biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/01/2024 đến nay.
- Nguyễn Thị Minh T3; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 08 tháng 3 năm 1996 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi thường trú và chỗ ở: Số A, đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...], cấp ngày 09/5/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội – Bộ C1; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn L3 và bà Bùi Thị B; có chồng là Trình A K1 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, xử ký hành chính, xử lý kỷ luật. Bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 17/01/2024. Bị áp dụng sang biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/01/2024 đến nay.
- Lê Thị A; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 27 tháng 8 năm 1978 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi thường trú và chỗ ở: Thôn S, xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...], cấp ngày 22/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội – Bộ C1; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 03/12; con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Trần Thị P; có chồng là Đinh Văn K2 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 119/QĐ-XPHC ngày 27/5/2022 của Công an thành phố L, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Ngày 27/5/2022, đã thi hành xong (đã được xóa tiền sự). Bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 17/01/2024. Bị áp dụng sang biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/01/2024 đến nay.
- Nguyễn Thị H3; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 29 tháng 5 năm 1984 tại tỉnh Bắc Ninh; nơi thường trú và chỗ ở: Phố T, phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; số căn cước công dân: [...], cấp ngày 10/10/2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội – Bộ C1; nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 09/12; con ông Nguyễn Văn B1 (đã chết) và bà Phạm Thị L4; có chồng là Nguyễn Quang N1 và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không có. nhân thân: Chưa bị kết án, xử ký hành chính, xử lý kỷ luật. Bị áp dụng sang biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/5/2024 đến nay.
- Lương Thị L5; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 12 tháng 01 năm 1986 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: [...],cấp ngày 11/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội – Bộ C1; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lương Đình L6 và bà Dương Thị L7; có chồng là Hà Văn H4 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, xử ký hành chính, xử lý kỷ luật. Bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 17/01/2024. Bị áp dụng sang biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/01/2024 đến nay.
- Trần Văn T4; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 06 tháng 10 năm 1981 tại tỉnh Nam Định; nơi thường trú và chỗ ở: Thôn V, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; số thẻ CCCD: [...], cấp ngày 02/7/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH – Bộ C1; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 05/12; con ông Trần Văn H5, và bà Trần Thị L8; có vợ là Vũ Thị H6 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực An ninh, trật tự số 28/QĐ-XPVPHC ngày 22/01/2020 của Ủy ban nhân dân thành phố L, phạt tiền 7.500.000 đồng về hành vi Vận chuyển trái phép pháo. Ngày 31/01/2020, đã thi hành xong (đã được xóa tiền sự). Bị áp dụng sang biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ từ ngày 15/3/2024 đến nay .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 50 phút ngày 11/01/2024, tại xưởng mộc của Trần Văn T4, địa chỉ tại thôn T, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, Công an thành phố L bắt quả tang Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Minh T3, Nguyễn Thị H3, Lương Thị L5, Lê Thị A, Bùi Văn L1, Dương Văn T1 đang đánh bạc dưới hình thức “Liêng”, thắng, thua bằng tiền. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.410.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, 01 chăn nhung màu đỏ.
Ngoài ra còn thu giữ các tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng của Nguyễn Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng của Nguyễn Thị Minh T3; số tiền 50.000 đồng của Lương Thị L5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh dương, số tiền 3.400.000 đồng và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ-đen, biển kiểm soát 12D1-260.38 của Lê Thị A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 7 Z5G, màu xanh dương, số tiền 500.000 đồng và 01 ví giả da màu nâu của Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S, màu đỏ và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen, biển kiểm soát 12U1-026.54 của Dương Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 màu hồng và số tiền 1.200.000 đồng của Bùi Văn L1. Trong quá trình điều tra thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng của Nguyễn Thị H3.
Tại Kết luận giám định số 770/KL-KTHS ngày 16/5/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh L kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam: 11.560.000đồng được niêm phong trong 05 (Năm) phong bì gửi giám định đều là tiền thật.
Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 11/01/2024, Nguyễn Thị H rủ Nguyễn Văn T, Lê Thị A, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3 và Nguyễn Thị H3 đánh bạc tại xưởng mộc của Trần Văn T4 dưới hình thức “Liêng”, thắng thua bằng tiền. Nguyễn Thị H chuẩn bị sẵn 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, 01 chăn nhung màu đỏ trải ra giữa phòng khách để ngồi và cùng Nguyễn Văn T, Lê Thị A, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3 và Nguyễn Thị H3 chơi đánh bạc.
Cách thức đánh bạc của các đối tượng như sau: Các đối tượng sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân để đánh bạc bằng hình thức "liêng", mỗi người được chia ba quân bài. Khi bắt đầu, mỗi người góp 10.000 đồng vào chiếu, sau đó sẽ tiến hành chơi theo chiều kim đồng hồ và lựa chọn một trong ba hành động sau: “Tố”: thấy bài đẹp, khả năng thắng cao sẽ tăng số tiền cược lên; “Bỏ”: thấy bài xấu thì bỏ tham gia vòng chơi và chịu mất số tiền cược lúc ban đầu; “Theo”: nếu như theo được người chơi trước, được lựa chọn quyền theo. Mỗi lượt tố thấp nhất là 10.000 đồng đến không giới hạn. Cách tính điểm theo thứ tự: “Sáp” là ba lá bài có giá trị giống nhau, nếu như hai người chơi đều sở hữu bộ sáp thì cần so sánh giá trị quân bài; “Liêng” là ba lá bài liên tiếp nhau không cùng một bộ; “Liêng đồng hoa” là liêng trong đó có ba quân bài cùng chất với nhau; cuối cùng là tính điểm tổng của 03 quân bài cộng lại, lấy số hàng đơn vị của tổng điểm; điểm cao nhất là 9 điểm, thấp nhất là 0 điểm (các lá 10, J, Q, K). Người thắng cược là người có điểm cao nhất hoặc sau khi tố mà không có người tố theo và được nhận toàn bộ số tiền đã góp ban đầu cùng số tiền của những người đã tố theo. Ván bài kết thúc khi chỉ còn một người chơi, người đó là người chiến thắng cuối cùng, thẻ của người đó được ẩn, không bị lộ và người đấy sẽ được nhận hết số tiền cược trên bàn. Trường hợp nhiều người vẫn đang chơi cần so sánh để tìm ra người điểm cao nhất thì thắng, nếu như cùng điểm với nhau thì sẽ so sánh quân bài: người nào có quân rô màu đỏ sẽ là cao nhất, quân cơ thứ hai, quân tép thứ ba và quân bích cuối cùng, ai có quân bài to hơn theo thứ tự trên thì người đó thắng. Khi một người được “Sáp” và “Đồng hoa” thì những người còn lại sẽ góp 50.000 đồng cho người đó và sẽ cắt lại 50.000 đồng cho Trần Văn T4 gọi là tiền hồ.
Quá trình đánh bạc đã góp được 100.000 đồng tiền hồ cho Trần Văn T4. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Thị H3 thua hết tiền nên đi về, sau đó Lương Thị L5 sử dụng 100.000 đồng tiền hồ để trên ghế phòng khách của Trần Văn T4 để đánh bạc. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thành phố L đến bắt quả tang Lê Thị A, Lương Thị L5, Bùi Văn L1, Dương Văn T1, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Minh T3 đang đánh bạc.
Quá trình điều tra làm rõ, Nguyễn Văn T mang theo 3.160.000 đồng, sử dụng 2.660.000 đồng để đánh bạc nhưng không rõ thắng, thua; Lê Thị A mang theo 3.700.000 đồng sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc và thua hết; Nguyễn Thị Minh T3 sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc và thua 50.000 đồng; Nguyễn Thị H sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc nhưng không rõ thắng, thua; Bùi Văn L1 mang theo 1.800.000 đồng, sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc và thắng 450.000 đồng; Nguyễn Thị H3 sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc và thua hết; Dương Văn T1 sử dụng 650.000 đồng để đánh bạc và thắng 350.000 đồng; Lương Thị L5 không mang theo tiền, sử dụng 100.000 đồng tiền hồ để đánh bạc và thua 50.000 đồng. Sau khi Nguyễn Thị H3 thôi không đánh bạc, không có ai đưa thêm tiền vào chiếu bạc. Xác định tổng số tiền đánh bạc của các bị cáo là 6.460.000 đồng.
Đối với số tiền thu giữ trên người các bị cáo khi bị bắt quả tang gồm: 50.000 đồng của Lương Thị L5 xác định là số tiền còn lại của số tiền hồ 100.000 đồng L5 lấy để đánh bạc, đã thua 50.000 đồng nên xác định là số tiền dùng để đánh bạc. Đối với số tiền 3.400.000 đồng thu giữ của Lê Thị A; 500.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T và 1.200.000 đồng thu giữ của Bùi Văn L1, các đối tượng khai nhận đây là số tiền dùng để phục vụ sinh hoạt gia đình, không sử dụng vào việc đánh bạc.
Trần Văn T4 khai nhận biết rõ việc Đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cho 08 người Đánh bạc tại địa điểm do mình quản lý với số tiền đánh bạc là 6.460.000 đồng và nhận tiền hồ.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Cáo trạng số 84/CT-VKS, ngày 12/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn T, Lê Thị A, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3, Nguyễn Thị H3, Lương Thị L5, Trần Văn T4 phạm tội Đánh bạc.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 47, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn T, Lê Thị A, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3, Trần Văn T4; áp dụng thêm Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị H3, Lương Thị L5; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Văn T1, Nguyễn Thị Minh T3, Bùi Văn L1, Lê Thị A. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H, Lê Thị A mỗi bị cáo 8 - 9 tháng tù cho hưởng án treo; các bị cáo: Nguyễn Văn T, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3, Trần Văn T4 mỗi bị cáo 6 - 7 tháng tủ cho hưởng án treo; đề nghị xử phạt bị cáo các bị cáo Nguyễn Thị H3, Lương Thị L5 mỗi bị cáo từ 12 đến 14 tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc 6.460.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 52 lá bài tú lơ khơ và 01 chiếc chăn nhung màu đỏ đều đã qua sử dụng.
Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng của bị cáo Nguyễn Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh dương của bị cáo Lê Thị A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 màu hồng của bị cáo Bùi Văn L1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng của bị cáo Nguyễn Thị H3.
Trả lại cho bị cáo Lê Thị A số tiền 3.400.000 đồng, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ-đen, biển kiểm soát 12D1-260.38. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 7 Z5G, màu xanh dương, số tiền 500.000 đồng, 01 ví giả da màu nâu. Trả lại cho bị cáo Dương Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen, biển kiểm soát 12U1-026.54. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Minh T3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng. Trả lại cho bị cáo Bùi Văn L1 số tiền 1.200.000 đồng.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ theo quy định pháp luật.
Các bị cáo đều không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng các bị cáo đều trình bày: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ để các bị cáo có điều kiện tiếp tục lao động kiếm sống nuôi con, chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện, các tài liệu chứng cứ đã thu thập đều hợp pháp.
- [2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Qua đó có căn cứ xác định: Tối ngày 11/01/2024, tại xưởng mộc của Trần Văn T4 địa chỉ tại thôn T, xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, 08 bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn T, Lê Thị A, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3, Nguyễn Thị H3, Lương Thị L5 đã sử dụng bộ tú lơ khơ 52 quân để đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh "liêng". Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.410.000 đồng và trên người Lương Thị L5 số tiền 50.000 đồng, là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Đối với Trần Văn T4 biết rõ việc Đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cho 08 người Đánh bạc tại địa điểm do mình quản lý với số tiền đánh bạc là 6.460.000 đồng và nhận tiền hồ. Hành vi của Trần Văn T4 đồng phạm về tội Đánh bạc với vai trò giúp sức. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn T, Lê Thị A, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3, Nguyễn Thị H3, Lương Thị L5, Trần Văn T4 phạm tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [3] Hành vi phạm tội của các bị cáo tuy ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến trật tự công cộng, là nguyên nhân, tiền đề phát sinh thiệt hại về kinh tế và các loại tội phạm khác gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo đều là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi bất chính các bị cáo đã phạm tội. Để quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.
- [4] Vụ án thuộc trường hợp đồng phạm nhưng có tính chất giản đơn. Bị cáo Nguyễn Thị H là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị Minh T3, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Lê Thị A đánh bạc ở xưởng mộc của bị cáo Trần Văn T4, chuẩn bị bộ bài 52 lá, mang theo chăn để trải ra ngồi đánh bạc và trực tiếp đánh bạc nên bị cáo Nguyễn Thị H có vai trò chính trong vụ án. Số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc là 1.500.000 đồng.
- [5] Các bị cáo Nguyễn Văn T, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3, Lê Thị A, Nguyễn Thị H3, Lương Thị L5 đều là người trực tiếp đánh bạc, có vai trò thứ yếu so với bị cáo Nguyễn Thị H. Số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là: Nguyễn Văn T 2.660.000 đồng, Dương Văn T1 650.000 đồng, Bùi Văn L1 600.000 đồng, Nguyễn Thị Minh T3 500.000 đồng, Lê Thị A 300.000 đồng, Nguyễn Thị H3 200.000 đồng, Lương Thị L5 100.000 đồng,.
- [6] Bị cáo Trần Văn T4 tuy không trực tiếp đánh bạc, biết rõ việc Đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cho 08 người khác Đánh bạc tại địa điểm do mình quản lý với số tiền đánh bạc là 6.460.000 đồng và thu tiền hồ. Hành vi của Trần Văn T4 là đồng phạm về tội Đánh bạc với vai trò là người giúp sức trong vụ án.
- [7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tại phiên tòa các bị cáo đều có thái độ ăn năn hối cải nên đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Dương Văn T1 có bố đẻ là ông Dương Xuân Đ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến, bị cáo Nguyễn Thị Minh T3 có tham gia ủng hộ quỹ Vì người nghèo năm 2024, bị cáo Bùi Văn L1 có giấy chứng nhận của Trung đoàn 591 đạt danh hiệu Chiến sĩ giỏi năm 2001, bị cáo Lê Thị A tháng 4 năm 2024 gia đình gặp hỏa hoạn bị thiệt hại nặng về tài sản có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; do đó các bị cáo Dương Văn T1, Nguyễn Thị Minh T3, Bùi Văn L1, Lê Thị A được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- [9] Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn T, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3, Nguyễn Thị H3, Lương Thị L5 đều chưa từng bị kết án, chưa từng bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nên xác định có nhân thân tốt. Bị cáo Lê Thị A, đã 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc năm 2022, bị cáo Trần Văn T4 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển trái phép pháo năm 2020, nhưng đều đã được xóa tiền sự.
- [10] Về hình phạt chính: Xét thấy, số tiền mỗi bị cáo sử dụng để đánh bạc và tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc không lớn (tổng cộng 6.460.000 đồng). Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và đều có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo Dương Văn T1, Nguyễn Thị Minh T3, Bùi Văn L1, Lê Thị A còn có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn T, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3, Nguyễn Thị H3, Lương Thị L5 đều có nhân thân tốt. Đối với các bị cáo Lê Thị A, Trần Văn T4 đã từng bị xử lý vi phạm hành chính nhưng đều đã được xóa tiền sự. Các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Các bị cáo đều có con nhỏ cần phải chăm sóc nuôi dưỡng, các bị cáo đều là những người lao động chính trong gia đình, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì cuộc sống gia đình sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để cho các bị cáo cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và sự giúp đỡ của gia đình cũng đảm bảo tính giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Đối với các bị cáo Nguyễn Thị H, Trần Văn T4, Nguyễn Văn T, Lê Thị A, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3 có đủ các điều kiện cho hưởng án treo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; việc cho các bị cáo hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Đối với bị cáo Nguyễn Thị H3 số tiền sử dụng đánh bạc 200.000 đồng, bị cáo Lương Thị L5, số tiền sử dụng đánh bạc 100.000 đồng, số tiền đánh bạc ít hơn so với các bị cáo khác nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo là phù hợp, do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không khấu trừ thu nhập, không buộc các bị cáo phải lao động công ích.
- [11] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- [12] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 6.410.000 đồng thu trên chiếu bạc và 50.000 đồng thu trên người của bị cáo Lương Thị L5, tổng cộng là 6.460.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 52 lá bài tú lơ khơ và 01 chiếc chăn nhung màu đỏ đã qua sử dụng là vật các bị cáo dùng để đánh bạc và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với các điện thoại gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng của bị cáo Nguyễn Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh dương của bị cáo Lê Thị A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 màu hồng của bị cáo Bùi Văn L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 màu trắng của bị cáo Nguyễn Thị H3 là các điện thoại dùng vào việc liên lạc rủ rê đánh bạc cần tịch thu hóa giá nộp vào ngân sách Nhà nước. Đối với các tài sản gồm: Số tiền 3.400.000 đồng và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ-đen, biển kiểm soát 12D1-260.38 thu giữ của Lê Thị A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 7 Z5G, màu xanh dương, số tiền 500.000 đồng và 01 ví giả da màu nâu thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen, biển kiểm soát 12U1-026.54 thu giữ của bị cáo Dương Văn T1; số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của Bùi Văn L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị Minh T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S, màu đỏ thu giữ của bị cáo Dương Văn T1 do không liên quan đến hành vi đánh bạc cần trả lại cho các bị cáo.
- [12] Về án phí: Các bị cáo bị kết án, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- [13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố L về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo và các nội dung khác là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [14] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 50, 58, của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo;
Căn cứ thêm Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị H, Lê Thị A, Nguyễn Văn T, Trần Văn T4, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3.
Căn cứ thêm Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị H3, Lương Thị L5.
Căn cứ thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Văn T1, Nguyễn Thị Minh T3, Bùi Văn L1, Lê Thị A;
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn T, Lê Thị A, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3, Nguyễn Thị H3, Lương Thị L5, Trần Văn T4 phạm tội Đánh bạc.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Lê Thị A 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bẩy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn T4 07 (bẩy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Dương Văn T1 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân xã M, thành phố L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn L1 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh T3 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã, phường trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự;
Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H3 01 (một) năm cải tạo không giam giữ; thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Xử phạt bị cáo Lương Thị L5 01 (một) năm cải tạo không giam giữ; thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án, được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 17/01/2024 là 06 (sáu) ngày, quy đổi thành 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người bị kết án hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 6.460.000 đồng (sáu triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Tịch thu, tiêu hủy 52 (năm mươi hai) lá bài tú lơ khơ và 01 (một) chiếc chăn nhung màu đỏ đã qua sử dụng.
- Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số imei 358603073894916 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh dương, số imei 866787051540073 thu giữ của bị cáo Lê Thị A; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 màu hồng, số imei 866760033691313 thu giữ của bị cáo Bùi Văn L1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 màu trắng, số imei 069559058555777 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị H3.
- Trả lại bị cáo Lê Thị A số tiền 3.400.000 đồng (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng) và 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ-đen, biển kiểm soát 12D1-260.38, số khung 7903HZ038442, số máy JF79E0650566, xe đã qua sử dụng;
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 7 Z5G, số imei 065543053388230, màu xanh dương, 01 (một) ví giả da màu nâu;
- Trả lại bị cáo Dương Văn T1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S, màu đỏ, số imei 861871043700063; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen, biển kiểm soát 12U1-026.54, số khung RLHJC4326AY186033, số máy 5655666, xe đã qua sử dụng;
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Minh T3 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, đã bị khoá.
- Trả lại bị cáo Bùi Văn L1 số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
(Các vật chứng nêu trên được lưu giữ, quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn và giấy nộp tiền ngày 12/6/2024.
4. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn T, Lê Thị A, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3, Nguyễn Thị H3, Lương Thị L5, Trần Văn T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn T, Lê Thị A, Dương Văn T1, Bùi Văn L1, Nguyễn Thị Minh T3, Nguyễn Thị H3, Lương Thị L5, Trần Văn T4 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Thị Thanh Xuyến |
Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về đánh bạc
- Số bản án: 98/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H và đồng phạm
