Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 98/2024/HS-ST

Ngày 07-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Dương Văn Quí.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Hưng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Đạt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H; giới tính: N; sinh năm 1974 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 2/155 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông: Nguyễn Văn S (đã chết) và bà: Nguyễn Thị H1 (đã chết); bị cáo có vợ: Võ Thị T, sinh năm 1976 và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/12/2023 đến ngày 20/12/2023 được trả tự do áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H là chủ hộ kinh doanh tạp hóa Hoàng T1; Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 4188018309 tại địa chỉ: 2 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình buôn bán, khách hàng thường xuyên hỏi mua thuốc lá J và H2 ngoại nhập lậu trong khi tạp hóa của H bán nhiều loại thuốc lá có tem nhãn nên để đa dạng các mặt hàng thuốc lá nên H nảy sinh ý định buôn bán thuốc lá ngoại nhập lậu khoảng từ đầu tháng 11/2023. Nguồn thuốc lá H mua của người thanh niên tên Đ (không rõ lai lịch) với giá 185.000 đồng/10 bao thuốc lá hiệu Jet (01 cây thuốc), 155.000 đồng/10 bao thuốc lá Hero. Mỗi tuần, Đ đến giao cho H 300 bao thuốc thuốc lá Jet và 100 bao thuốc lá Hero. H mua của Đ được 05 lần, bán được 1.200 bao thuốc lá hiệu Jet thu lợi 480.000 đồng và 400 bao thuốc lá hiệu Hero thu lợi 160.000 đồng. Lúc 11 giờ 15 phút ngày 11/12/2023, Đoàn kiểm tra theo Quyết định số 5764/QĐ-UBND, ngày 03/10/2023 của Chủ tịch UBND huyện H, thành phần gồm: Đại diện Phòng kinh tế - UNBD huyện H làm trưởng đoàn; Đại diện Đội QLTT số 18 làm phó đoàn; Đại diện Đội PCCC Công an huyện H là thành viên; Đại diện Đội Cảnh sát kinh tế Công an huyện H là thành viên tiến hành kiểm tra cơ sở Hộ kinh doanh tạp hóa H3 phát hiện bắt quả tang 2.000 bao thuốc lá hiệu Jet ngoại nhập lậu được đựng trong 04 túi nylon màu đen, sau đó H tự nguyện giao nộp thêm 230 bao thuốc lá hiệu Jet và 120 bao thuốc lá hiệu Hero.

Ngày 13/12/2023 H4 có Công văn số: 232/CV – 2023 HHTL VN về việc thẩm định thuốc lá, kết quả: 2.230 bao thuốc lá hiệu Jet và 120 bao thuốc lá hiệu Hero là thuốc lá điếu nhập lậu.

Vật chứng thu giữ:

  • 2.230 bao thuốc lá hiệu Jet;
  • 120 bao thuốc lá hiệu Hero.

Tại bản Cáo trạng số 112/CT-VKSHHM ngày 28/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  • Truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Buôn bán hàng cấm”;
  • Áp dụng b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm.
  • Về vật chứng thu giữ: Thuốc lá điếu nhập lậu là hàng hóa cấm lưu thông, buôn bán trên thị trường nên đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ. Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi chính là 640.000 (sáu trăm, bốn mươi nghìn) đồng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cho bị cáo hưởng án treo để có điều kiện chăm lo cho gia đình, bị cáo là lao động chính trong gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu bị cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng; nội dung bị cáo khai nhận phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố.

Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn H tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và lời khai qua xét hỏi công khai tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản (tạm giữ đồ vật - tài liệu; niêm phong và mở niêm phong vật chứng), lời khai của người chứng kiến, người làm chứng; cùng các tài liệu, biên bản về hoạt động tố tụng khác của Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án.

Đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 11/12/2023, tại hộ kinh doanh tạp hóa H3 địa chỉ: 2 ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh, bị can Nguyễn Văn H có hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc là điếu nhập lậu, bị bắt quả tang thu giữ 2.230 bao thuốc lá hiệu Jet và 120 bao thuốc lá hiệu Hero.

Xét thấy, bị cáo đã buôn bán hàng cấm bị thu giữ gồm 2.230 bao thuốc lá hiệu Jet và 120 bao thuốc lá hiệu Hero. Căn cứ công văn số: 232/CV – 2023 HHTL VN, ngày 13/12/2023 của H4 về việc thẩm định thuốc lá, kết quả: 2.230 bao thuốc lá hiệu Jet và 120 bao thuốc lá hiệu Hero là thuốc lá điếu nhập lậu. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương; Bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình sẽ bị pháp luật trừng trị, nhưng chỉ vì tham lam, muốn thu nhiều lợi nhuận bất chính mà bị cáo đã bất chấp hậu quả. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, về hình phạt đặt ra phải nghiêm cần có mức hình phạt tương xứng với bị cáo trong khung hình phạt được áp dụng mới có tác dụng của hình phạt, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhằm tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét: khi bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt đáng ra phải chịu theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân bị cáo: phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo là lao động chính đang nuôi 03 ba người con (lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2014), có hoàn cảnh khó khăn và khi bị cơ quan chức năng kiểm tra đã tự nguyện giao nộp thêm hàng cấm chưa bị phát hiện cho cơ quan chức năng cũng là thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo. Do đó, căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 2 và Điều 3 của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về án treo, thấy không cần thiết bắt bị cáo Nguyễn Văn H chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có tác dụng của hình phạt đối với bị cáo nói riêng và công tác đấu tranh, phòng ngừa chung; thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4]. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn H về tội danh, khung hình phạt và điều luật truy tố đã viện dẫn là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai; mức hình phạt đề nghị xử phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng: Thuốc lá điếu nhập lậu là hàng hóa thuộc danh mục Nhà nước cấm tuyệt đối buôn bán, lưu thông trên thị trường nên cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ: 2.230 bao thuốc lá hiệu Jet; 120 bao thuốc lá hiệu Hero.

Trong vụ án này bị cáo thu lợi bất chính số tiền 640.000 (sáu trăm, bốn mươi nghìn) đồng từ hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo nộp lại sung vào ngân sách Nhà nước.

[6] Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Buôn bán hàng cấm”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án.

    Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án.

  2. Về xử lý vật chứng:

    - Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy:

    • 2.230 bao thuốc lá hiệu Jet;
    • 120 bao thuốc lá hiệu Hero.

    Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 640.000 (sáu trăm, bốn mươi nghìn) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

  3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát ND TP. HCM; (1)
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hóc Môn (3)
  • - Công an huyện Hóc Môn; (2)
  • - Chi cục THA DS huyện Hóc Môn; (1)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - Trại giam; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Đương sự; (1)
  • - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THAHS, hồ sơ. (12) (23)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Ngọc Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 98/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Buôn bán hàng cấm”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger