|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 98/2024/HS-PT Ngày: 06/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Yển.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tân và bà Quách Thị Phương Thúy
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 6 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo Quách Văn L và Lý Văn T, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
- Bị cáo kháng cáo:
1. Bị cáo: Quách Văn L, sinh năm 1996 tại tỉnh Hòa Bình; ĐKHK và cư trú tại: Thôn M, xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quách Văn Đ và bà Quách Thị L1; Vợ: Ngân Phương T1; có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện tại ngoại (có mặt).
2. Bị cáo: Lý Văn T, sinh năm 1991 tại tỉnh Lào Cai; ĐKHK: thôn T, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Tạm trú: thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý A D và bà Bùi Thị T2; Vợ: Đèo Thị P (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại (có mặt).
3. Người làm chứng: Bà Bùi Thị H; anh Đinh Văn H1; anh Thùng Văn H2; chị Đỗ Thị M; chị Trịnh Thị H3 (vắng mặt).
Ngoài ra, vụ án còn 01 bị cáo không kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 02/12/2023, Bùi Văn C điều khiển xe môtô chở bạn tên là D1 (không xác định được địa chỉ cụ thể) từ quán A, ở khu vực chân cầu vượt thôn L, xã C, huyện C về phòng trọ của D1 ở trong thôn L Khi C điều khiển xe đến lối rẽ vào đường trục chính thôn L (cổng thôn L, giáp cầu vượt) thì gặp Quách Văn L đang ngồi trên xe môtô đợi bạn. Lúc này, giữa C và L xảy ra mâu thuẫn về việc L đỗ xe trên đường nên C dừng xe và đi bộ quay lại vị trí L đứng thì hai bên xô xát, đấm đá nhau nhưng được người dân can ngăn. C đi ra vị trí đỗ xe không thấy anh D1 nên C quay xe lại định đi về phòng trọ thì Lý Văn T (là bạn của L) đi đến. T thấy L bị xước ở đầu (mặt) đã hỏi L xảy ra việc gì, L chỉ tay về phía C nói với T về việc vừa bị C đánh. Khi C điều khiển xe đến vị trí L và T đứng thì xe môtô của C bị đổ ra đường. Lúc này, L dùng tay đấm C, C và L xô đẩy nhau trên đường làm vỡ chậu hoa bằng sứ trước cửa quán điện thoại của bà Bùi Thị H. Thấy L và C đánh nhau, T cũng xông vào cùng L đuổi đánh C tại khu vực cổng thôn L (khi C đuổi đánh T thì L đuổi đánh C, khi C đuổi đánh L thì T đuổi đánh C). Quá trình xô xát, C cầm một mảnh sứ từ chậu cây cảnh bị vỡ (của bà H) đuổi đánh T, thấy vậy L đuổi theo để đánh C, C quay lại cầm mảnh sứ bằng tay phải đánh vào đầu và người L. L chạy về khu vực bày bán rau, hoa quả và nước uống ở cổng thôn L của anh Đinh Văn H1 lấy chiếc ghế nhựa dơ lên vụt về phía C, C đưa tay lên đỡ. L lùi lại phía sau và ngã ra đường bị C cầm mảnh sứ đâm vào người, L đưa tay lên đỡ thì C tiếp tục dùng chân đạp vào người L. Sau đó được người dân can ngăn nên hai bên không đánh nhau nữa, C đến Công an xã C đầu thú. L bị chảy máu vùng đầu được T và người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H đên ngày 08/12/2023 ra viện.
Sau khi sự việc xô xát giữa C, L và T xảy ra ngày 02/12/2023 gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên ngày 05/12/2023 UBND xã C và đại diện các ban ngành thôn L có báo cáo gửi Công an huyện C đề nghị Cơ quan có thẩm quyền điều tra xử lý nghiêm các đối tượng theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/12/2023, Quách Văn L có đơn yêu cầu khởi tố đối với Bùi Văn C về tội "Cố ý gây thương tích". Ngày 28/12/2023, Quách Văn L đã tự nguyện làm Đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Bùi Văn C về hành vi "Cố ý gây thương tích". Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Bùi Văn C về tội "Cố ý gây thương tích" và chuyển phần vụ việc "Cố ý gây thương tích" tới Công an huyện C để xử lý hành chính đối với Bùi Văn C, Quách Văn L, Lý Văn T về hành vi "Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự".
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Quách Văn L. Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý Văn T. Xử phạt bị cáo Quách Văn L 24 (Hai mươi tư) tháng tù; bị cáo Lý Văn T 09 (Chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/6/2024, bị cáo Quách Văn L, Lý Văn T kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo L và T xuất trình biên lai nộp án phí sơ thẩm, xác định bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số đến Hải Dương làm công nhân, nguyên nhân mâu thuẫn do bị cáo C, hơn nữa bị cáo L còn bị tổn thương sức khỏe 8% nên đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo, cho các bị cáo hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh tham gia phiên tòa sau khi phân tích các tình tiết trong vụ án xác định cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo L về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; bị cáo T về tội "Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo L, T thấy rằng: Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo: Quách Văn L 24 tháng tù (Mức án khởi điểm của khung hình phạt), Lý Văn T 09 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng là mức án phù hợp với tính chất của hành vi phạm tội, nhân thân cũng như vai trò của các bị cáo trong vụ án. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo tự nguyện nộp án phí sơ thẩm nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự, giữ vai trò sau trong vụ án; các bị cáo là người dân tộc thiểu số đến Hải Dương làm thuê; Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Quách Văn L và Lý Văn T; giữ nguyên mức hình phạt tại bản án sơ thẩm, cho các bị cáo được hưởng án treo cũng có tác dụng giáo dục các bị cáo. Giao bị cáo Luân T3 cho UBND xã nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của bị cáo Quách Văn L và Lý Văn T trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Lời khai của các bị cáo L, T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại cấp sơ thẩm, phù hợp với lời khai bị hại; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa. HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 02/12/2023, tại khu vực cầu vượt thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương, do mâu thuẫn phát sinh trong quá trình đi đường, Bùi Văn C, Quách Văn L và Lý Văn T đã có hành vi đuổi đánh nhau. Bùi Văn C đã dùng mảnh sứ đâm nhiều nhát vào người của L làm L bị tổn thương cơ thể 8%, Quách Văn L đã dùng ghế nhựa có tựa lưng vụt vào người C. T dùng chân tay không đánh C làm C bị bầm tím cơ thể tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 0%.
Hành vi của các bị cáo đuổi đánh nhau gây ầm ĩ ở khu vực đông dân cư, nhiều hộ kinh doanh buôn bán trong khoảng thời gian dài đã xâm phạm đến trật tự chung tại nơi công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân. Hành vi của các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội "Gây rối trật tự cộng cộng" quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo Quách Văn L sử dụng hung khí khi thực hiện hành vi gây rối, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo C, L về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; bị cáo T về tội "Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về tội danh bị cáo không kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân không kháng nghị.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo L và T xin được hưởng án treo thì thấy:
Tại cấp sơ thẩm các bị cáo không bị áp dụng tình tiết nào tăng nặng trách nhiệm hình sự; các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Thanh giữ vai trò đồng phạm thứ yếu trong vụ án, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án, mọi xô sát bắt đầu từ việc bị cáo C và L xảy ra mâu thuẫn về việc L đỗ xe trên đường nên C dừng xe và đi bộ quay lại vị trí L đứng, hai bên xô xát, đấm đá nhau, bị cáo T sau khi thấy bị cáo L bị C đánh nên mới cùng L tiếp tục đuổi đánh C. Do vậy, bị cáo L có vai trò sau bị cáo C; bị cáo T sau khi thấy bị cáo L bị đánh mới dùng tay đuổi đánh bị cáo C, bị cáo T giữ vai trò sau cùng.
Xét tại cấp phúc thẩm, bị cáo L, T tự nguyện nộp án phí sơ thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số xuống Hải Dương làm công nhân, đều là lao động chính trong gia đình. Do vậy, HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, T; giữ nguyên mức hình phạt tù của bản án sơ thẩm, nhưng cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung với xã hội, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo L, T được chấp nhận nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án lệ phí Toà án.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Quách Văn L và Lý Văn T; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt của các bị cáo Quách Văn L và Lý Văn T.
2. Điều luật áp dụng và hình phạt:
2.1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Quách Văn L.
Xử phạt bị cáo Quách Văn L 24 (Hai mươi tư) tháng tù, cho hưởng án treo về tội "Gây rối trật tự công cộng", thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 06/9/2024).
Giao bị cáo Quách Văn L cho UBND xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý Văn T
Xử phạt bị cáo Lý Văn T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo về tội "Gây rối trật tự công cộng", thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 06/9/2024).
Giao bị cáo Lý Văn T cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án lệ phí Toà án: Bị cáo L, T không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. (Ngày 06/9/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Yển |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ | |
| Nguyễn Minh Tân | Quách Thị Phương Thúy | Vũ Thị Yển |
Bản án số 98/2024/HS-PT ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự phúc thẩm (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 98/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
