Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/HS-ST

Ngày 05-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Tiến Bộ và ông Phan Mạnh Tưởng.

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Tuấn Đ, sinh năm 1969 tại phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Nơi cư trú: phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn K (đã chết) và bà Hoàng Thị N (đã chết); vợ là Nguyễn Thị N1 và có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án:

  • + Bản án số 121/2021/HSST ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Phạm Tuấn Đ 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 09/10/2022, nộp tiền án phí tháng 5 năm 2022.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Bản án số 123/HSST ngày 27/01/1997 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Phạm Tuấn Đ 08 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
  • + Bản án số 79/HSST ngày 06/3/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt Phạm Tuấn Đ 30 tháng tù về tội Cướp tài sản. Tổng hợp hình phạt với bàn án số 123/HSST ngày 27/01/1997 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, tổng hình phạt của Phạm Tuấn Đ là 10 năm 06 tháng tù, ra trại ngày 01/02/2005. Ngày 20/6/2011 được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định đình chỉ thi hành số tiền 50.000 đồng tiền án phí và 2.700.000 đồng tiền bị tịch thu sung quỹ nhà nước. Ngày 25/11/2020 đã bồi thường số tiền 750.000 đồng cho bị hại. Ngày 20/6/2000 đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự.
  • + Bản án số 499/2013/HSST ngày 20/12/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt Phạm Tuấn Đ 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ra trại ngày 30/8/2015, nộp tiền án phí 14/3/2014.

Bị cáo bị bắt theo Lệnh truy nã và bị tạm giữ từ ngày 14/8/2023 đến 17/8/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – Công an thành phố H.

- Bị hại:

  • + anh Hoàng Văn V, sinh năm 1984. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
  • + anh Nguyễn Thị H, sinh năm 1984. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
  • + anh Lê Mạnh Đ1, sinh năm 1990. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + chị Trần Thị T, sinh năm 1973. Có mặt.
  • Nơi cư trú: số A đường C, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định.
  • + ông Phạm D, sinh năm 1966. Có mặt.
  • Nơi cư trú: 36/93/181 P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/11/2022, Công an xã H, huyện M, thành phố Hà Nội tiếp nhận đơn trình báo của anh Hoàng Văn V, sinh năm 1984, trú tại thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội về vụ việc như sau: Khoảng 16 giờ ngày 02/11/2022, anh V điều khiển xe ô-tô Biển kiểm soát: 89C – 176.33 chở vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1984 và chị gái của H là Nguyễn Thị P, sinh năm 1980 đi từ thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội để đến huyện L, tỉnh Hòa Bình. Khi đi qua khu vực cầu B, xã H, huyện M khoảng 30m thì bị trộm mất túi tiền của chị H để bên ghế phụ xe ô-tô, bên trong có 85 triệu đồng gồm 08 cọc mỗi cọc 10.000.000 đồng và 01 cọc 5.000.000 đồng, 01 điện thoại Samsung Galaxy màu xanh đen lắp 2 sim di động 0363.254.634 và 0343.218.965; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị H, 02 thẻ ngân hàng A mang tên Hoàng Văn V và Nguyễn Thị H, 02 chùm chìa khóa, 03 quyển sổ loại nhỏ ghi chép việc mua, bán gà.

Ngày 03/11/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện M tạm giữ của Hoàng Văn V 01 vỏ hộp điện thoại Samsung Galaxy A20S màu trắng; 01 phiếu bảo hành của Công ty TNHH N2 và 01 phiếu biên nhận số BL 14163839 của cửa hàng Ngọc Vũ M.

Ngày 03/11/2022, Công an huyện M truy tìm vật chứng tại khu vực ao nước thuộc xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình phát hiện có 01 túi xách bằng vải màu xanh tím than, kích thước 15x20cm bên trong có chứa 01 căn cước công dân và 01 thẻ ngân hàng mang tên Nguyễn Thị H, 01 thẻ ngân hàng mang tên Hoàng Văn V, 01 quyển sổ bìa bọc da màu đen, 01 quyển sổ bìa giấy màu trắng có kích thước 12x15cm.

Ngày 09/11/2022, thông qua công tác truy xét Công an huyện M đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Văn K1, sinh năm 1964, trú tại số A C, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định và Trần Minh V1, sinh năm 1987, trú tại số I L, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định vì có liên quan đến vụ việc trên.

Quá trình giữ người trong trường hợp khẩn cấp Vũ Văn K1, Trần Minh V1. Công an huyện M thu giữ những đồ vật của các đối tượng như sau:

  • - Thu giữ của Trần Minh V1:
  • + 01 điện thoại di động Nokia loại bàn phím, màu xanh.
  • + 01 áo sơ mi dài tay màu xanh.
  • + 01 mũ bảo hiểm loại 3/4 đầu, màu đen có kính chắn gió.
  • - Thu giữ của Vũ Văn K1:
  • + 01 xe máy nhãn hiệu Honda, màu sơn xanh-đen-bạc, số máy: 1478798, số khung: 124689, Biển kiểm soát: 29M1-51935.
  • + 01 điện thoại Nokia loại bàn phím, màu đen bị vỡ màn hình.
  • + 01 áo khoác vải màu xanh.
  • + Số tiền 100.000.000 đồng.

Quá trình điều tra mở rộng Vũ Văn K1 và Trần Minh V1 còn thừa nhận ngoài hành vi phạm tội ngày 02/11/2022 tại huyện M thì với thủ đoạn như trên vào ngày 08/11/2022, các đối tượng còn thực hiện trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện L, tỉnh Hòa Bình với số tiền các đối tượng trộm cắp được khoảng hơn 160.000.000 đồng.

Ngày 08/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình tiếp nhận đơn trình báo của anh Lê Mạnh Đ1, sinh năm 1990, trú tại: xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, với nội dung: Ngày 08/11/2022, Đ1 điều khiển xe ô-tô Biển kiểm soát: 36C-12081 chở Lê Hữu T1, sinh năm1987, trú tại thôn T, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đi từ T Hà Nội. Khi di chuyển trên đường M thuộc địa phận thôn O, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình thì bị trộm mất túi xách để trong cabin xe, bên trong có khoảng 170.000.000 đồng; 01 giấy phép lái xe máy và đăng ký xe máy mang tên Lê Mạnh Đ1. Quá trình điều tra vụ việc trên đã được Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình làm rõ và khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vũ Văn K1 và Trần Minh V1 để điều tra về hành vi trộm cắp tài sản.

Ngày 09/11/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện M tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Văn K1 và Trần Minh V1 nhưng không phát hiện, thu giữ gì.

Ngày 10/11/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện M tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức C và Phạm Tuấn Đ nhưng không phát hiện, thu giữ gì.

Ngày 23/11/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện M ra Yêu cầu định giá tài sản số 62/YC-CQĐT đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M tiến hành định giá tài sản sau: “01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A20, màu xanh, bộ nhớ trong 32Gb; 01 chiếc túi xách vải màu xanh, kích thước 22x18cm”.

Tại kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 26/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: “01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A20S, màu xanh, bộ nhớ trong 32 Gb trị giá 2.195.000 đồng và 01 chiếc túi xách vải màu xanh, kích thước 22x18cm từ chối định giá.”

Đến ngày 18/01/2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình có Quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan điều tra Công an huyện M, thành phố Hà Nội để nhập vụ án và điều tra theo quy định.

Ngày 31/01/2023, Nguyễn Đức C, sinh năm 1966, trú tại phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định đến Công an huyện M đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản cùng Vũ Văn K1 và Trần Minh V1 vào ngày 02/11/2022 tại khu vực cầu B, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.

Quá trình điều tra làm rõ:

Do biết các lái xe ô-tô tải chở hàng thường đem theo số lượng lớn tiền mặt để trên xe nên Vũ Văn K1 cùng Trần Minh V1, Nguyễn Đức C và Phạm Tuấn Đ đã bàn bạc, rủ nhau đi trộm cắp tài sản trên khoang lái cabin của các chủ xe ô-tô tải này. Phương thức, thủ đoạn là từng cặp hai bị can điều khiển chở nhau trên một xe máy đi trên các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ để tìm kiếm các ô-tô tải đang lưu thông trên đường rồi tìm cách ra hiệu yêu cầu tài xế ô-tô dừng xe lại, sau đó dùng cách điều tài xế xuống khỏi cabin ô-tô rồi dùng một số câu hỏi, câu giao tiếp để nhằm đánh lạc hướng tài xế rời xa cabin xe ô-tô của họ, tạo điều kiện cho cặp bị can còn lại đi cùng tìm cách lén lút vào cabin xe ô-tô tìm và trộm cắp tiền, tài sản và các bị can đã tiến hành các lần trộm cắp như sau:

Lần thứ nhất: chiều ngày 02/11/2022, bốn đối tượng hẹn nhau ở khu vực siêu thị Big C tỉnh N. Sau đó, K1 điều khiển xe máy Honda Airblade màu xanh – đen, Biển kiểm soát: 29M1-51935 chở V1, C điều khiển xe máy Honda Airblade, Biển kiểm soát: 29P1-56259 chở Đ. Khi đi đến đoạn đường thuộc xã H, huyện M, thành phố Hà Nội thì phát hiện xe ô-tô tải loại 1,5 tấn, Biển kiểm soát: 89C – 176.33 do Hoàng Văn V điều khiển chở vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1984 và chị gái của H là Nguyễn Thị P, sinh năm 1980, trú tại thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội. Thấy xe ô-tô này chưa có hàng trên thùng xe nên nhóm của K1 biết xe này đang đi mua hàng và với phương thức, thủ đoạn thống nhất từ trước, K1 điều khiển xe máy chở V1 tiếp cận xe tải này rồi tìm cách ra hiệu yêu cầu Hoàng Văn V dừng phương tiện. Khi anh V xuống xe, V1 hỏi anh V: “có phải xe này vừa thả một người phụ nữ xuống không?”. Anh V đáp: “Không” thì V1 yêu cầu anh V xuống phía sau xe để nói chuyện, còn K1 đi sang cửa bên ghế phụ cabin yêu cầu chị H và chị P cùng xuống phía sau xe nói chuyện. Chị H định cầm túi xách theo người thì K1 yêu cầu chị H bỏ lại túi xách trên xe. Chị H bỏ lại túi xách ở bên ghế phụ rồi cùng chị P đi xuống cuối xe. Cùng lúc đó, C đang dừng xe máy chở Đ cách ô-tô tải khoảng 100m, chờ người trên cabin ô-tô xuống hết, C điều khiển xe máy áp sát đầu xe ô-tô tải và dừng lại để Đ xuống xe nhanh chóng mở cửa cabin ô-tô lấy trộm chiếc túi xách của chị H và đóng cửa cabin lại thì bị chị H phát hiện và hô hoán. Thấy vậy, C điều khiển xe máy chở Đ bỏ chạy theo hướng đi hướng đường H, còn K1 nổ máy điều khiển xe máy chở V1 bỏ chạy theo hướng về thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội. Khi C và Đ đi tới đường H, khu vực địa phận xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình thì dừng xe bên dệ đường. Đ mở túi xách ra kiểm tra thấy bên trong túi xách có 01 cọc tiền, 01 điện thoại di động, một số quyển sổ tay, căn cước công dân và một số giấy tờ tùy thân của anh V và chị H. Đ cầm cọc tiền cho vào túi áo, sau đó ném túi xách cùng điện thoại cùng các giấy tờ khác bên trong xuống ao gần rệ đường. Sau đó, C điều khiển xe máy chở Đ về đến thành phố P, tỉnh Hà Nam thì gặp K1 và V1. Tại đây, Đ bỏ tiền ra cùng K1 đếm trước mặt mọi người thì được số tiền khoảng hơn 60.000.000 đồng, K1 cầm tiền chia cho C, Đ, V1 mỗi người 15.000.000 đồng, K1 được hưởng số tiền 15.000.000 đồng, số tiền còn thừa K1 đưa cho V1 chi tiền xăng xe và ăn uống. Sau đó K1, C, Đ, V1 đi về.

Lần thứ hai: ngày 08/11/2022, K1 điều khiển xe máy Honda Airblade màu xanh – đen, Biển kiểm soát: 29M1-51935 chở V1, C điều khiển xe máy Honda Airblade, Biển kiểm soát: 29P1-56259 chở Đ đi đến đường H đoạn qua xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình thì thấy có 01 xe tải Biển kiểm soát: 36C1-2081 (không chở hàng hóa) do anh Lê Mạnh Đ1 điều khiển chở anh Lê Hữu T1 ngồi ghế phụ cabin, với phương thức, thủ đoạn thống nhất từ trước K1, V1 ra hiệu để anh Đ1 dừng xe rồi gọi anh Đ1 và anh T1 xuống cuối xe hỏi: “Có phải xe này vừa gây tai nạn bỏ chạy không?”. Anh Đ1 và anh T1 trả lời: “Không”, K1 và V1 tiếp tục hỏi: “Hai người có đổi áo cho nhau không?” và một số câu hỏi khác nhằm mục đích đánh lạc hướng anh Đ1 và anh T1. Cùng lúc đó, C điều khiển xe máy chở Đ áp sát đầu xe tải, Đ mở cửa cabin bên ghế phụ lẻn vào trong cabin xe lấy trộm 01 túi xách da màu đen, loại đeo chéo hông của anh Đ1. Sau khi lấy được túi xách, cả bốn đối tượng rời khỏi hiện trường và đi về khu vực thành phố P, tỉnh Hà Nam thì gặp nhau. Tại đây, Đ lấy số tiền trong túi xách lấy trộm của anh Đ1 rồi cùng K1 đếm số tiền trước mặt mọi người thì được khoảng hơn 160.000.000 đồng, K1 chia cho C, Đ và V1 mỗi người 40.000.000 đồng, K1 được hưởng số tiền 40.000.000 đồng, số tiền còn lại khoảng 3.000.000 đồng thì Đ đưa cho V1 cầm chi tiền ăn uống dọc đường.

Quá trình điều tra đã chứng minh số tiền 100.000.000 đồng thu giữ của Vũ Văn K1 là số tiền mà Vũ Văn K1 và Trần Minh V1 được hưởng lợi trong các vụ trộm cắp sau khi đã tiêu sài, cụ thể gồm: 80.000.000 đồng hưởng lợi trong vụ trộm cắp của anh Lê Mạnh Đ1 và 20.000.000 đồng hưởng lợi trong vụ trộm cắp tài sản của anh Hoàng Văn V.

Các bị hại V, H, Đ1 khai mất tài sản phù hợp như lời khai của Phạm Tuấn Đ và đồ vật Công an đã thu giữ.

Đối với bị cáo Phạm Tuấn Đ, sau khi bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan điều tra ra quyết định tách vụ án hình sự số 01/QĐ-CQĐT ngày 05/4/2023 đối với hành vi trộm cắp tài sản của Phạm Tuấn Đ và ra Quyết định truy nã Phạm Tuấn Đ số 02/QĐ-CQĐT ngày 05/4/2023 khi nào bắt được Đ sẽ xử lý ở vụ án khác. Đến ngày 13/8/2023, Phạm Tuấn Đ đã bị Công an phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội bắt theo Lệnh truy nã số 02/QĐ-CQĐT ngày 05/4/2023.

Cáo trạng số 83/CT-VKS-MĐ ngày 25/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội truy tố Phạm Tuấn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi đúng như nội dung cáo trạng truy tố.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị T (vợ của bị cáo Vũ Văn K1) xác nhận: bị cáo đã tác động gia đình mình bồi hoàn lại cho chị số tiền 60 triệu đồng đã bồi thường khắc phục hậu quả thay trong lần xét xử trước đó; ông Phạm D (anh trai ruột bị cáo Đ) là người ứng 60 triệu đồng trả cho chị T, ông D không yêu cầu bị cáo Đ phải hoàn trả số tiền này. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có yêu cầu gì khác và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và tang vật: do các bị hại đã được bồi thường thiệt hại và không đề nghị bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tang vật đã được giải quyết trong lần xét xử trước đây với các bị cáo Vũ Văn K1, Trần Minh V1, Nguyễn Đức C nên không giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai các bị cáo Vũ Văn K1, Trần Minh V1, Nguyễn Đức C, lời khai các bị hại, kết luận giám định, kết luận định giá và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Với mục đích chiếm đoạt tài sản để lấy tiền chi dùng cho nhu cầu tiêu sài của bản thân nên ngày 02/11/2022, bị cáo Phạm Tuấn Đ cùng Vũ Văn K1, Trần Minh V1, Nguyễn Đức C đã cùng nhau bàn bạc, thống nhất về phương thức, thủ đoạn thực hiện việc trộm cắp tài sản của vợ chồng anh Hoàng Văn V và chị Nguyễn Thị H 01 túi xách bằng vải màu xanh tím than, bên trong có chứa: 01 căn cước công dân và 02 thẻ ngân hàng mang tên Nguyễn Thị H, Hoàng Văn V; 01 quyển sổ ghi chép, số tiền là 60.000.000 đồng và 01 điện thoại Samsung galaxy có giá trị 2.195.000 đồng, với giá trị 62.195.000 đồng. Ngày 08/11/2022, bị cáo Phạm Tuấn Đ tiếp tục cùng Vũ Văn K1, Trần Minh V1, Nguyễn Đức C thực hiện việc trộm cắp của anh Lê Mạnh Đ1 01 túi xách bên trong có 163.000.000 đồng, 01 giấy phép lái xe máy và 01 đăng ký xe máy mang tên Lê Mạnh Đ1. Tổng cộng số tiền đã làm rõ Phạm Tuấn Đ cùng đồng phạm trộm cắp của vợ chồng anh V, anh Đ1 là 225.195.000 đồng.

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương.

[3] Xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Năm 2021 bị cáo bị xử phạt 01 năm 3 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản nên lần phạm tội này bị xác định là “tái phạm” và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã vận động gia đình cùng với gia đình các bị cáo K1, V1, C bồi thường toàn bộ thiệt hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xem xét vai trò của bị cáo Phạm Tuấn Đ trong vụ án thì thấy: Phạm Tuấn Đ cùng bàn bạc, thống nhất với K1, V1, C về phương thức, thủ đoạn trộm cắp tài sản và cùng thống nhất phân công vai trò của từng người trong việc 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp nên vai trò như nhau trong vụ án. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo Đ đã bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho hoạt động điều tra và Đ bị bắt theo Quyết định truy nã. Do vậy, bị cáo phải chịu hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của mình.

[4] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là lao động tự do công việc và thu nhập thấp, không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đã ly hôn và đang nuôi 05 con nhỏ nên Hội đồng xét xử miễn không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: các bị hại không có đề nghị bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về các vấn đề khác: Đối với các bị cáo Vũ Văn K1, Nguyễn Minh V2 và Nguyễn Đức C đã bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xử phạt mỗi bị cáo 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 47/2023/HS-ST ngày 16/6/2023, cùng đó Bản án trên đã xem xét, giải quyết toàn bộ về trách nhiệm bồi thường dân sự và xử lý vật chứng của vụ án nên trong vụ án này Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo:

  • - Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
  • - Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Phạm Tuấn Đ 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi hoàn gì thêm cũng như không yêu cầu bị cáo bồi hoàn số tiền đã bồi thường thay cho bị cáo.

2. Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Mỹ Đức;
  • - Cơ quan THAHS huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND phường Trần Tế Xương (thay TBKQXX);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Đức Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 98/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: K1 Đ173
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger