TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2024/DS-PT Ngày: 03/7/2024. V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Bản.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Quý Sửu và bà Trần Thị Nhài
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Bà Dương Thị Hương Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6, ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 04/2024/TLPT - DS ngày 18/01/2024 về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2019/DSST ngày 18 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 75/QĐPT-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự;
Nguyên đơn: Bà Lại Thị L, sinh năm 1944; địa chỉ: Tổ H, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thị T; Văn phòng L1 - Đoàn luật sư tỉnh T; có mặt
Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ E, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; (vắng mặt) uỷ quyền cho ông Nguyễn Văn T1; sinh năm 1984; địa chỉ: Xóm C, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đào Thị Hồng V, sinh năm 1978; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thúy H, sinh năm 1971; (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1969; (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1979; (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1973; (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1964 (có mặt)
- Ông Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1966 (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ G, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1980; địa chỉ: Số D đường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. (có mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ E, phường C, TP ., tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ: Tổ H, phường C, TP ., tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ: Tổ F, phường C, TP ., tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ: Tổ G, phường C, TP ., tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn bà Lại Thị L, Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà L trình bày:
Năm 1987 vợ chồng bà Lại Thị L ông Nguyễn Văn Đ2 mua một mảnh đất của vợ chồng bà Trần Thị Ngọc T2, tại tổ A, thị trấn C, huyện Đ, nay là Tổ I, phường C, TP ., có chiều bám mặt đường quốc lộ 1B 12 mét, chiều sâu 24 mét, năm 1988 vợ chồng bà L làm nhà để ở và kinh doanh. Năm 2004 UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với một phần diện tích của mảnh đất nêu trên xác định là thửa đất số 357, tờ bản đồ số 18, diện tích 128 m², mục đích sử dụng T, mang tên ông Nguyễn Văn Đ2. Diện tích còn lại của mảnh đất khoảng 150 m², lúc đó cơ quan nhà nước dự tính làm hành lang “Cống Bà Tành” khi nào làm xong “Cống” sẽ chỉnh lý diện tích đất cho gia đình bà.
Sau khi “Cống Bà T3” đã được cải tạo nâng cấp, năm 2005, vợ chồng bà L làm một ngôi nhà cấp 4 trên diện tích đất còn lại để bán hàng, sử dụng từ đó cho đến nay. Ngày 23/5/2018, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T đo đạc diện tích đất còn lại là 64 m² đã chỉnh lý thành thửa đất số 1223, tờ bản đồ số 18, phường C, thành phố T.
Toàn bộ diện tích đất nêu trên, UBND phường C đã xác nhận vợ chồng bà L sử dụng liên tục từ năm 1987, sau khi mua của bà T2 và nộp thuế, gồm diện tích đất đã được cấp bìa đỏ và diện tích đất chưa được cấp bìa đỏ từ năm 1990 đến nay, sổ địa chính và hồ sơ kỹ thuật thửa đất đều thể hiện chủ sử dụng thửa đất này là vợ chồng bà L. Năm 2012 ông Đ2 chết, bà L đăng ký biến động, “thừa kế” toàn bộ diện tích đất ngày 14/6/2017 (Mã hồ sơ TK 240- Văn phòng Đ).
Tháng 5/2018 bà L làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất còn lại (64 m² đất, thửa số 1223, tờ bản đồ số 18, phường C) thì ông Nguyễn Ngọc Q là con đẻ của bà L cũng có đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận đối với diện tích đất này. UBND phường C đã hòa giải nhưng không thành, vì ông Q cho rằng diện tích đất này là của ông Q do lấn đất bồi đắp mà có.
Bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng thửa đất số 1223, tờ bản đồ số 18, diện tích 64 m² đất, tại phường C, TP. T, tỉnh Thái Nguyên thuộc quyền sử dụng của bà L.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị V (vợ ông Q) đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án số 75/2019/TLST-DS ngày 22/5/2019, nhưng đều không có văn bản ý kiến gửi Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 75/TB-TA ngày 25/ 6/2019; Thông báo hoãn về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 76/TB-TA ngày 05/7/2019. Tuy nhiên, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không có lý do, nên không có căn cứ xác định ý kiến của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác đều không hợp tác, vắng mặt trong quá trình giải quyết tại tòa sơ thẩm.
Tại bản án số: 63/2019/DSST ngày: 18/11/2019, Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lại Thị L.
Bà L có quyền sử dụng diện tích 64m² đất, thửa đất số 1223, tờ bản đồ số 18, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên và có quyền sở hữu ngôi nhà cấp 4 trên thửa đất số 1223 nêu trên.
Bà L có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1223, tờ bản đồ số 18, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, tứ cận có biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/8/2019 và sơ đồ đo đạc thực tế phần đất tranh chấp 23/5/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T kèm theo.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/11/2023, ông Nguyễn Ngọc Q có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo, ông Q cho rằng, diện tích đất 64 m2 bà L đang tranh chấp là do ông khai phá, đầu tư xây dựng kè đá và nhà ở, Toà ấn cấp sơ thẩm công nhận quyền sử dụng đất cho bà L là không đúng. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại Quyết định số 06/QĐ-PT ngày 19/12/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của ông Nguyễn Ngọc Q đối với bản án dân sự sơ thẩm số 63/2019/DSST ngày 18/11/2019 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Tại phiên toà phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ án sơ thẩm với các lý do như sau:
Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không xem xét thẩm định theo đúng quy định để xác định diện tích thực tế mảnh đất đang có tranh chấp, không xác định tài sản trên đất do ai xây dựng, thủ tục tống đạt văn bản tố tụng không đảm bảo. Tòa sơ thẩm xác định toàn bộ 64 m2 đang có tranh chấp của riêng bà L là không đúng mà cần xác định đây là tài chung vợ chồng của ông Đ2, bà L.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn tranh luận: Không nhất trí Hủy bản án sơ thẩm theo như quan điểm của phía bị đơn vì bà L khởi kiện yêu cầu tòa công nhận quyền sử dụng đất thửa 1223 diện tích 64m2 thuộc quyền quản lý sử dụng của bà L.
Trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không hợp tác không có mặt trong suốt quá trình vụ án, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn không có yêu cầu phản tố cũng như có ý kiến nào khác. Thửa đất 1223 diện tích 64m2 thừa nhận là tài sản chung vợ chồng ông Đ2 và bà L; Đề nghị sửa bản án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thúy H trình bày nội dung và đề nghị thống nhất như lời trình bày của bà L.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác có mặt tại phiên tòa đều xác định: Nguồn gốc thửa đất 357, 1223, tờ bản đồ số 18 có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn Đ2 là bố các ông bà mua năm 1987 của bà Trần Ngọc T2, chiều rộng 12 mét, sâu 20 mét. Năm 2004, ông Đ2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 357, diện tích 128 m2, phần đất còn lại là hành lang giao thông, cống nước nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2012, ông Đ2 chết, tất cả các con của ông Đ2, đã từ chối hưởng di sản thừa kế của ông Đ2 sang tên thửa đất số 357 cho bà L sử dụng. Phần đất 64 m2 thuộc thửa 1223 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q được Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên chấp nhận kháng cáo quá hạn tại quyết định số 06/QĐ-PT ngày 19/12/2023 đối với bản án sơ thẩm số 63/2019/DSST ngày 18/11/2019 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
[2] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và trình bày của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm, đương sự và đại diện theo uỷ quyền của các đương sự đều thừa nhận: Năm 1988, ông Nguyễn Văn Đ2, bà Lại Thị L là bố, mẹ các ông bà mua của bà Trần Ngọc T2 01 mảnh đất, chiều rộng 12 mét, sâu 24 mét. Năm 2004, ông Đ2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 357, diện tích 128 m2, phần đất còn lại là hành lang cống và ao không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2012, ông Đ2 chết, tất cả các con của ông Đ2, bà L đã từ chối hưởng di sản thừa kế của ông Đ2 sang tên thửa đất số 357 cho bà L sử dụng, bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 357. Phần đất 64 m2 thuộc thửa 1223 hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[3] UBND phường C xác định sau khi mua của bà T2, vợ chồng bà L sử dụng phần đất tranh chấp liên tục từ năm 1987 và nộp thuế gồm diện tích đất đã được cấp bìa đỏ và diện tích đất chưa được cấp bìa đỏ từ năm 1990 đến nay, sổ địa chính và hồ sơ kỹ thuật thửa đất đều thể hiện chủ sử dụng thửa đất này là vợ chồng bà L.
[4] Tháng 5/2018 bà L làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất còn lại 64 m², thửa số 1223, tờ bản đồ số 18, phường C, thì ông Nguyễn Ngọc Q, con đẻ của bà L cho rằng là người khai phá khu đất này và có đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên đã xảy ra tranh chấp.
Xét lời khai của ông Nguyễn Ngọc Q và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía ông Q cho rằng, diện tích 64 m2 đất do ông Q khai phá, bồi đắp thấy: Thời điểm ông Đ2 bà L nhận chuyển nhượng mảnh đất của vợ chồng bà Trần Thị Ngọc T2 năm 1987, ông Nguyễn Ngọc Q, sinh 1977 mới 10 tuổi, ông Q cho rằng có công khai phá 64 m², thuộc thửa đất số 1223, tờ bản đồ số 18, phường C là không có căn cứ.
[5] Căn cứ lời thừa nhận của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định diện tích 64 m² đất, thuộc thửa đất số 1223, tờ bản đồ số 18 phường C, thành phố T các bên tranh chấp là tài sản chung vợ chồng ông Đ2, bà L. Sau khi ông Đ2 chết năm 2012, những người thừa kế hàng thứ nhất của ông Đ2 chưa có thoả thuận bằng văn bản về nhượng kỷ phần thừa kế diện tích đất này cho bà L.
[6] Toà án cấp sơ thẩm nhận định nguồn gốc 64 m2 đất do vợ chồng ông Đ2 bà L nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị Ngọc T2, nhưng lại công nhận quyền sử dụng đất cho riêng bà L làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ2 theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 63/2019/DSST ngày 18/11/2019 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Về tài sản trên đất nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác nếu có yêu cầu.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Q không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 63/2019/DSST ngày 18/11/2019 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lại Thị L về việc kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn Q1.
- Xác định thửa đất số 1223, diện tích 64 m2, tờ bản đồ địa chính số A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên là tài sản chung vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ2, bà Lại Thị L, nay ông Đ2 chết thuộc quyền sử dụng của bà Lại Thị L và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn Đ2.
- Các đương sự có quyền khởi kiện tranh chấp thừa kế đối với thửa đất số 1223, tờ bản đồ địa chính số A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên bằng một vụ án khác nếu có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bà L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Ngọc Q không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được trả lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0002435 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Dương Văn Bản |
Bản án số 98/2024/DS-PT ngày 03/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 98/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lan khởi kiện ông Quyết về việc tranh chấp quyền sử dụng đất
