Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02 - 7 - 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Khôi và bà Nguyễn Thị Xuân.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thanh N – sinh năm: 2001.

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Trần Anh K – sinh năm: 1997.

Địa chỉ: Ấp E, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(chị N và anh K có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Đỗ Thị Thanh N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Anh K tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2020 và được Ủy ban nhân xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 15/9/2020. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh K ham mê chơi bời, không chăm lo gia đình. Do đó, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt và đã sống ly thân từ 2020 cho đến nay. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Anh K.

Về con chung: Chị và anh K có 01 con chung là Trần Thị Thanh T – sinh ngày: 08/8/2020.

Từ khi chị và anh K sống ly thân, con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị đang làm công nhân tại địa phương, thu nhập hàng tháng khoảng 9.000.000đ, đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Trần Anh K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đỗ Thị Thanh N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2020 và được Ủy ban nhân xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chị N có mối quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Do đó, trong cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc và đã sống ly thân từ 2022 cho đến nay. Nay chị N yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị N có 01 con chung là Trần Thị Thanh T – sinh ngày: 08/8/2020.

Khi ly hôn, chị N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con thì anh đồng ý.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập thì Tòa án đã ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Xét vợ chồng chị N và anh K đã xảy ra mâu thuẫn, không hòa giải đoàn tụ được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, cho chị Đỗ Thị Thanh N được ly hôn với anh Trần Anh K.
  • + Về con chung: Đề nghị giao cháu Trần Thị Thanh T – sinh ngày: 08/8/2020 cho chị Đỗ Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Trần Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh K kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • + Về án phí: Đề nghị buộc chị Đỗ Thị Thanh N phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Đỗ Thị Thanh N khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về việc nuôi dưỡng con chung đối với bị đơn anh Trần Anh K. Anh K đang cư trú tại huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

[1.2]. Chị Đỗ Thị Thanh N và anh Trần Anh K là các đương sự trong vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng chị N và anh K đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung: Chị N và anh K kết hôn tại Ủy ban nhân xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai vào ngày 15/9/2020. Nay chị N yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh K nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết.

[3]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh K sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 15/9/2020. Như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Quá trình chung sống vợ chồng anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Chị N yêu cầu ly hôn với lý do anh K ham mê chơi bời, không chăm lo gia đình. Anh K thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn do chị N có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác và đồng ý với yêu cầu ly hôn với chị N.

Qua ý kiến thừa nhận của các đương sự thể hiện trong cuộc sống chung của chị N và anh K có xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau. Xét thấy hôn nhân của chị N và anh K trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Thanh N là cho chị được ly hôn với anh Trần Anh K.

[3.2]. Về con chung: Chị N và anh K có 01 con chung là Trần Thị Thanh T – sinh ngày: 08/8/2020.

Chị N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Anh K cũng đồng ý với yêu cầu của chị N.

Xét thấy, chị N có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Hơn nữa, từ khi chị N và anh K ly thân đến nay, con chung do chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung và căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Trần Thị Thanh T cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.

[3.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh K kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị Đỗ Thị Thanh N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

[5]. Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Thanh N. Cho chị Đỗ Thị Thanh N được ly hôn với anh Trần Anh K.
  2. Về con chung: Chị N và anh K có 01 con chung là Trần Thị Thanh T – sinh ngày: 08/8/2020.

    Giao con chung cho chị Đỗ Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Trần Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh K có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây trở ngại. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh K kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Đỗ Thị Thanh N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị N đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0012862 ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Chị N và anh K có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - UBND xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai: Để ghi vào sổ hộ tịch (Giấy CNKH số 77, cấp ngày 15/9/2020);
  • - Lưu HS – LT.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 98/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger