|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 98/2025/HSST Ngày: 25-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đức Thọ
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cơ
- Ông Nguyễn Công Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy- Thư ký của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng: Ông Võ Quang Tiến – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2025/HSST ngày 13 tháng 6 năm 2025 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với:
1. Bị cáo Nguyễn Hữu D, sinh ngày 06/9/1991 tại nghệ A; nơi ĐKNKTT: Xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Tổ C, phường H, quận L, TP Đà Nẵng; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu A và bà Nguyễn Thị L; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con út; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/01/2025, có mặt tại phiên tòa.
2. Người bị hai: Ông Lê Thanh V- sinh năm 1993; nơi ĐKNKTT: Khóm Ngọc H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: K60/14 N, tổ B, phường H, quận L, tp Đà Nẵng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Thái Hữu N –sinh năm 1995; nơi ĐKNKTT: Xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: K60/14 N, tổ B, phường H, quận L, tp Đà Nẵng; vắng mặt.
4. Người làm chứng:
- 4.1. Ông Nguyễn Hồng T–sinh năm 1990; nơi ĐKNKTT: Xóm I, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: K159 N, phường H, quận L, tp Đà Nẵng; vắng mặt.
- 4.2. Ông Phạm Kha L1 –sinh năm 1982; nơi ĐKNKTT: Ấp Ô, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở hiện nay: K N, phường H, quận L, tp Đà Nẵng; vắng mặt.
- 4.3. Ông Bùi Văn Sỹ Đ, sinh năm 1997; nơi ĐKNKTT: Tổ B, ấp H, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: K60/14 N, tổ B, phường H, quận L, tp Đà Nẵng; vắng mặt.
- 4.4. Ông Hoàng Xuân L2 –sinh năm 1997; nơi ĐKNKTT: Xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường H, quận L, tp Đà Nẵng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21h00 ngày 10/11/2024, Nguyễn Hữu D sau khi đi ăn uống về thì tình cờ gặp anh Nguyễn Hồng T nên D rủ anh T đi đến phòng trọ của anh Thái Hữu N tại K đường N thuộc tổ B phường H, quận L, TP . để chơi (N làm cùng công ty với D). Khi đến nơi, trong phòng trọ của anh N lúc này có N, anh Lê Thanh V, anh Phạm Kha L1 và anh Bùi Văn Sĩ Đ1. Sau đó, D và N nói chuyện với nhau liên quan đến công việc thì hai bên xảy ra mâu thuẫn, D dùng mũ bảo hiểm có sẵn trong phòng đánh vào người anh N nhưng anh N tránh được nên không trúng. Anh N đứng dậy can ngăn D nhưng không được nên ôm quật Duyệt xuống nền nhà, các anh Đ1, V và L1 thấy vậy cũng vào can ngăn rồi ôm D kéo ra khỏi phòng trọ, còn anh V thì đóng cửa phòng lại. Bị kéo ra khỏi phòng nên D sang phòng trọ của anh Hoàng Xuân L2 cách phòng anh N khoảng 20m lấy một con dao có cán màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại, dài khoảng 18cm rồi quay lại phòng của anh N nhằm mục đích hủ dọa anh V để được vào phòng, D dùng chân đạp vào cửa phòng nhưng do anh V đã khóa cửa không vào được nên D bỏ đi ra ngoài thì gặp anh T, D nhờ anh T quay lại lấy giúp đôi dép bị rơi ở trong phòng của N lúc xô xát. Sau đó, anh T đi lại gần cửa phòng trọ gọi to tiếng vào bên trong “V ơi mở cửa để lấy đôi dép cho D”. Anh V nghe tiếng anh T gọi nên mở cửa, lúc này D cũng chạy đến đòi vào bên trong gặp N để nói chuyện nhưng bị anh V ngăn lại không cho vào dẫn tới mâu thuẫn, xô xát giữa D và anh V. Trong lúc xô xát D dùng dao quơ 01 cái về phía trước mặt thì trúng vào vùng thái dương trái của anh V, anh V lấy đoạn dây xích đánh lại thì D cầm dao quơ qua quơ lại theo hướng ngang qua hai bên thì tiếp tục trúng vào vùng mạn sườn trái của anh V gây thương tích. Bị thương anh V lùi lại thì bị bị té ngã xuống nhà, D thấy anh V ngã xuống nền nhà và chảy máu trên mặt nên sợ và dừng lại rồi gọi mọi người đưa V đi bệnh viện, còn D đi ra ngoài nhờ anh T chở về, trên đường đi về Duyệt vứt con dao nhưng không nhớ vứt ở chỗ nào. Sau đó, anh V được anh N và anh Đ1 đưa đi Bệnh viện.
Theo Bản kết luận giám định thương tích số: 2616/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP . có Kết luận:
- - Sẹo vùng thái dương trái: 03%;
- - Sẹo dẫn lưu thành ngực bên trái: 02%;
- - Tổn thương màng phổi trái: 03%;
- - Tổn thương cơ hoành do phẩu thuật: 21%.
Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Lê Thanh V là 28%.
- * Vật chứng tạm giữ: Không có.
- * Về dân sự: Nguyễn Hữu D đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại là anh Lê Thanh V số tiền 140.000.000 đồng. Anh Lê Thanh V đã nhận tiền bồi thường và có đơn xin bãi nại không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D.
Quá trình điều tra, bị cáo D đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản cáo trạng số: 71/CT-VKSLC ngày 19/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu D về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân của bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- * Về xử lý vật chứng: Không thu giữ được nên không xem xét.
- * Về dân sự: Nguyễn Hữu D đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại là anh Lê Thanh V số tiền 140.000.000 đồng. Anh Lê Thanh V đã nhận tiền bồi thường và có đơn xin bãi nại không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D nên không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, thành phố Đà Nẵng;Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 10/11/2024, tại phòng trọ của anh Thái Hữu N thuộc tổ B, phường H, quận L, TP Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Hữu D đã có hành vi sử dụng dao là hung khí nguy hiểm tấn công vào đầu (thái dương trái) và vào sườn trái của bị hại Lê Thanh V, đây là những vùng trọng yếu trên cơ thể của người bị hại anh Lê Thanh V gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể theo kết luận giám định là 28%. Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố Nguyễn Hữu D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Quá trình giải quyết và xét xử, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu nhận thấy: Nguyễn Hữu D có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm tấn công vào đầu (thái dương trái) và vào sườn trái của bị hại Lê Thanh V, đây là những vùng trọng yếu trên cơ thể của người bị hại, có khả năng dẫn đến chết người nếu không cứu chữa kịp thời. Do vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu D có dấu hiệu phạm tội giết người nên đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Căn cứ khoản 1 Điều 268 và Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử bị cáo Nguyễn Hữu D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sơ thẩm kiến nghị với Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân cấp trên đánh giá, xem xét nội dung này theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhằm giải quyết vụ án đúng theo quy định pháp luật.
[3]. Xét tính chất, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Bị cáo Nguyễn Hữu D là người có đầy đủ năng lực hình sự nên nhận thức rõ tính mạng, sức khoẻ của con người được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, song bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Mặc dù nguyên nhân dẫn đến sự việc xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa bị cáo và anh Thái Hữu N, song bị cáo không kiềm chế được bản thân, cố tình quay lại hiện trường với mục đích đe dọa, sau đó có hành vi dùng dao tấn công anh Lê Thanh V – người không trực tiếp có mâu thuẫn với bị cáo, gây hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe. Đây là tình tiết phản ánh tính chất hung hãn, coi thường pháp luật của bị cáo.
Hành vi sử dụng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại Lê Thanh V của bị cáo không chỉ xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người bị hại là ông V mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây án đã chủ động tác động gia đình bồi thường thiệt hại đầy đủ cho người bị hại số tiền 140.000.000 đồng; người bị hại là anh Lê Thanh V đã có đơn xin bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự bị cáo; bị cáo có cha ruột là thương binh, được tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương các loại trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và giúp đỡ nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu bị xử lý hình sự.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã được bồi thường đầy đủ và không còn yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về xử lý vật chứng: Không thu giữ được vật chứng liên quan nên không đặt ra xử lý.
[7]. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả đã gây ra; các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[8]. Về quan điểm luận tội cũng như đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9].Về án phí: Căn cứ các điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Hữu D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Hữu D 03 (Ba) năm tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2025.
2. Về án phí:
Căn cứ các điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hữu D phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 25 tháng 6 năm 2025. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của Nguyễn Hữu D có dấu hiệu của tội “Giết người” nên kiến nghị với Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân cấp trên đánh giá, xem xét nội dung này theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhằm giải quyết vụ án đúng theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đức Thọ |
Bản án số 98/2025/HSST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự: cố ý gây thương tích
- Số bản án: 98/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ban án HS số 98-Duyet
