|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2025/HS-ST
Ngày: 28-5-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Cảnh Khang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thảo.
- Ông Nguyễn Thanh Cần.
- Thư ký phiên toà: Ông Lềnh Khâm Vĩ, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Đặng Văn G, sinh năm 1995 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Hòa T và bà Phan Thị Út H; tiền án: Bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 (S) năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án hình sơ thẩm số 87/2018/HS-ST ngày 29/3/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/05/2021 – tại Trại giam T1 (đã đóng án phí sơ thẩm); tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2024 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khu phố B, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Dương Ngọc C, bà Nguyễn Thị Thùy L1. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Văn G và Dương Chí B, sinh năm 1999; thường trú: ấp V, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương có quan hệ quen biết do cùng tạm trú tại phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 26/02/2024, B điều khiển xe Wave (không rõ biển số) chở G đi uống cà phê tại đường M thuộc địa bàn thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, B và G rủ nhau đi đến khu vực C thuộc huyện B, tỉnh Bình Dương để tìm tài sản của người dân sơ hở chiếm đoạt bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Thực hiện hành vi, B điều khiển xe mô tô chở G đi đến nhà trọ Nguyễn Phi H1 thuộc khu phố B, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì B nhìn thấy 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 61E1-592.49 của ông Nguyễn Hoàng L đang dựng bên cạnh nhà trọ, không có người trông coi nên B kêu G lấy trộm xe này để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì G đồng ý. Lúc này, B dừng xe bên ngoài đường gần nhà trọ, còn Giào quan sát xung quanh thấy không có người nên G đi bộ lại vị trí xe mô tô biển số 61E1-592.49 rồi dùng đoản bẻ khóa xe do B đưa trước đó. Sau khi bẻ được khóa xe, G điều khiển xe mô tô này đi về nhà trọ của một người bạn tên Đ (không rõ nhân thân) trên đường A, khu phố T, phường A, thành phố T, mục đích để gửi nhờ xe mô tô vừa chiếm đoạt được nhưng Đ không có ở phòng trọ nên G dựng xe mô tô này tại lối đi của nhà trọ. Cùng lúc này, lực lượng Công an phường A tuần tra đến khu vực trên thì G và B lo sợ bị phát hiện hành vi vi phạm của mình nên bỏ chạy. Giào bị lực lượng Công an phường A, giữ lại rồi đưa về trụ sở để làm việc, còn B trốn thoát. Tại Công an phường A, Đặng Văn G đã khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt xe mô tô biển số 61E1-592.49.
Sau đó, Công an phường A lập hồ sơ vụ việc ban đầu và chuyển nguồn tin tội phạm cho Công an phường V, thành phố T tiếp nhận giải quyết theo thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận nguồn tin tội phạm và Đặng Văn G, Công an phường V tiến hành xác minh vụ việc, lập hồ sơ ban đầu và chuyển Đặng Văn G cùng hồ sơ, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T (nay là Công an tỉnh B) thụ lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, thu giữ tài liệu, đồ vật liên quan, gồm: 01 xe mô tô biển số 61E1-592.49; 01 cặp đeo bằng vải màu đen hiệu Yankees; 01 đoản bẻ khóa bằng kim loại màu nâu dài 8cm; 01 tua vít dài 24,5cm; 01 mỏ lết cỡ 8”200mm dài 20cm; 01 cờ lê cỡ 8 dài 13cm; 01 cờ lê hai đầu cỡ 10-14 dài 14cm.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 37/KL-HĐĐGTS ngày 28/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha, số loại Sirius biển số 61E1-592.49 màu đen xanh, đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 7.500.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 113/CT-VKSTU ngày 22/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Đặng Văn G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn G từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H2) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 61E1-592.49 là tài sản của ông Nguyễn Hoàng L. Ngày 04/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra ban hành Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho ông L, ông L không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề nghị xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 cặp đeo bằng vải màu đen hiệu Yankees; 01 đoản bẻ khóa bằng kim loại màu nâu dài 8cm; 01 tua vít dài 24,5cm; 01 mỏ lết cỡ 8”200mm dài 20cm; 01 cờ lê cỡ 8 dài 13cm; 01 cờ lê hai đầu cỡ 10-14 dài 14cm.
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn G đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên; tại phần lời nói sau cùng bị cáo thể hiện thái độ ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, cán bộ điều tra; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 26/02/2024 tại khu phố B, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Đặng Văn G lén lút dùng đoản bẻ khóa xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 61E1-592.49 của bị hại ông Nguyễn Hoàng L giá trị 7.500.000 đồng rồi bỏ trốn nhằm mục đích chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý bởi lẽ về nhận thức, bị cáo biết rõ
hành vi chiếm đọat tài sản người khác trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 (S) năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án hình sơ thẩm số 87/2018/HS-ST ngày 29/3/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/05/2021 – tại Trại giam T1 chưa được xóa án tích là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 61E1-592.49 bị cáo chiếm đoạt là tài sản của ông Nguyễn Hoàng L. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho ông L, ông L không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[9] Đối với biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với 01 cặp đeo bằng vải màu đen hiệu Yankees; 01 đoản bẻ khóa bằng kim loại màu nâu dài 8cm; 01 tua vít dài 24,5cm; 01 mỏ lết cỡ 8”200mm dài 20cm; 01 cờ lê cỡ 8 dài 13cm; 01 cờ lê hai đầu cỡ 10-14 dài 14cm là công cụ, phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[10] Đối với đối tượng tên Dương Chí B cùng thực hiện hành vi với bị cáo G. Hiện nay, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tách hành vi của đối tượng B để tiếp tục điều tra theo quy định nên không xem xét.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 53 của Bộ luật Hình sự;
- - Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn G 01 (Một) năm 09 (C1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2024.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy: 01 cặp đeo bằng vải màu đen hiệu Yankees kích thước 20x29cm; 01 đoản bẻ khóa bằng kim loại màu nâu dài 8cm; 01 tua vít dài 24,5cm; 01 mỏ lết cỡ 8”200mm dài 20cm; 01 cờ lê cỡ 8 dài 13cm; 01 cờ lê hai đầu cỡ 10-14 dài 14cm.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14/5/2025).
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Cảnh Khang |
Bản án số 98/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 98/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Đặng Văn Giào
