|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN Bản án số: 98/2025/HS-ST Ngày 27-11-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Phụng
- Bà Nguyễn Thị Thu Trang
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên, Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2025/TLST-HS ngày 05/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXXST-HS ngày 14/11/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 02/7/1996; Số căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Thôn K, phường V, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Trương Thị T1 (sinh năm 1971); Bị cáo có vợ là Trần Thị L, sinh năm 1991; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất dinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 64/QĐ-XPVPHC ngày 20/3/2018 của Công an huyện V, tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh H) xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác, ngày 29/3/2018 đã nộp phạt xong; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/8/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh H). (Trích xuất có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Chị Trần Thị L, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ A, đường P, tổ dân phố A K, phường T, tỉnh Hưng Yên (Có mặt)
* Người làm chứng:
- - Anh Hoàng Xuân L1, sinh năm 1996; Trú tại: Thôn H, phường V, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt)
- - Anh Đỗ Đức T2, sinh năm 2001; Trú tại: Thôn T, xã N, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt)
- - Chị Trần Thị Q, sinh năm 1991; Trú tại: Thôn N, xã V, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 02 tháng 7 năm 2025, tại số nhà A, ngõ A, đường P, tổ dân phố A K, phường T, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn T cùng chị chị Trần Thị L là vợ T có tổ chức sinh nhật cho T. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, tham dự sinh nhật và cùng ăn uống với T có chị Trần Thị L, cháu Vũ Ngọc L2 là con riêng của chị L; anh Hoàng Xuân L1; anh Đỗ Đức T2; chị Trần Thị Q. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, chị L lên phòng ngủ ở tầng 2 nghỉ ngơi, chị Q ra về còn cháu Vũ Ngọc L2 ngồi chơi ở tầng 1. Lúc này Nguyễn Văn T, anh Đỗ Đức T2, anh Hoàng Xuân L1 tiếp tục ngồi uống bia, nói chuyện với nhau đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì anh T2 và anh L1 ra về. Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 03/7/2025, T lên phòng ngủ thấy chị L đang nằm trên giường, T nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh dương của chị L đang để ở đầu giường nên T cầm điện thoại của chị L và mở ứng dụng Wechat trong điện thoại thấy tin nhắn của chị L với một tài khoản tiếng Trung Quốc đã bị xoá đi. Do trước đó Nguyễn Văn T đã nghi ngờ chị L có mối quan hệ tình cảm và nhắn tin với tài khoản trên nên T hỏi chị L lý do xoá tin nhắn đồng thời đưa điện thoại cho chị L xem thì chị L trả lời “Ông này không làm ở đây nữa nên xoá đi”. Sau đó T và chị L xảy ra cãi chửi nhau được vài câu thì chị L nói khuya rồi để chị L đi ngủ. Lúc này chị L đang nằm ngửa trên giường phía bên tay trái T, do sử dụng bia trước đó và bức xúc về việc nghi ngờ vợ có quan hệ tình cảm với người khác, T ngồi dậy, dùng tay trái cầm điện thoại di động của chị L, tay phải tát 02 phát vào vùng mặt L. Bị đánh, chị L nói với T “có đánh được thì đánh đi”. Sau đó, T ngồi đè lên vùng bụng của L; tay trái cầm điện thoại đập liên tiếp nhiều phát vào vùng trán bên trái, phần phía sau đầu bên trái của chị L; tay phải tát nhiều phát vào vùng mặt và vùng đầu của chị L, chị L dùng tay trái giơ lên để đỡ và che mặt thì bị T đánh trúng vào tay trái. Khoảng 2-3 phút sau thì T dừng lại, không đánh chị L nữa. Hậu quả chị L bị thương tích sưng nề mi dưới mắt trái, 01 vết thương rách da vùng trán trái, 01 vết thương rách da vùng chẩm trái, đau, sưng nề vùng cổ bàn ngón tay trái và bàn ngón tay phải; gãy xương bàn ngón 5 và đốt 1 ngón 2 tay trái, phải đi điều trị tại Bệnh viện Đ. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thị L tại thời điểm giám định là 14%.
- Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống và bản ảnh số 27/2025/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 04/8/2025 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa - Sở y tế tỉnh H kết luận: 01 sẹo nhỏ vùng chẩm trái (tỷ lệ 01%); 01 sẹo nhỏ chéo góc trán trái (tỷ lệ 03%); 01 sẹo nhỏ mặt mu đốt 1, ngón II bàn tay trái (tỷ lệ 01%); gãy xương bàn ngón V tay trái (tỷ lệ 08%); gãy xương đốt 1 ngón II tay trái (tỷ lệ 02%). Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thị L tại thời điểm giám định là 14%. Cơ chế hình thành thương tích là do dạng vật tầy, vật tầy cứng, vật cứng có gờ cạnh gây nên.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 13/CT-VKSKV5 ngày 03/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận về việc bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 02 triệu đồng; bị hại đã nhận đủ và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất kỳ khoản gì. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên đã truy tố, không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản xác định hiện trường và Sơ đồ; Bệnh án và các tài liệu liên quan đến điều trị; Kết luận giám định số 27 ngày 04/8/2025 của Trung tâm Giám định pháp y và giám định y khoa, Sở Y tế tỉnh H; Lời khai của bị hại là chị Trần Thị L; Lời khai của người làm chứng là cháu Vũ Ngọc L2, anh Hoàng Xuân L1, anh Đỗ Đức T2 và chị Trần Thị Q cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Do nghi ngờ vô cớ vợ là chị Trần Thị L có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, nên khoảng 00 giờ 05 phút ngày 03/7/2025, tại phòng ngủ của hai vợ chồng ở tầng 2, Nguyễn Văn T ngồi trên vùng bụng của chị L, ở khoảng cách gần, dùng tay, dùng điện thoại Iphone 12 Promax tát, đánh trực tiếp nhiều nhát vào vùng mặt, vùng đầu và tay trái chị L. Hậu quả, chị Trần Thị L bị thương tích do dạng vật tầy, vật tầy cứng, vật cứng có gờ cạnh gây nên, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thị L tại thời điểm giám định là 14 %. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự.
Điều 134. Tội cố ý gây thương tích:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
i) Có tính chất côn đồ;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này...”
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Từ những phân tích, nhận định về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bản thân bị cáo và bị hại là vợ chồng, do ghen tuông vô cớ khi không có bằng chứng xác thực đã gây thương tích cho bị hại. Việc chồng đánh vợ là một hành vi bạo lực gia đình nghiêm trọng, vi phạm pháp luật và gây tổn hại nặng nề cả về thể chất lẫn tinh thần cho bị hại, bản thân bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây tổn hại đến sức khỏe của người khác nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh, xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 02 triệu đồng, bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất kỳ khoản chi phí nào khác. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự chấp nhận sự tự nguyện thoả thuận về bồi thường thiệt hại giữa bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng vụ án là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh dương, bên ngoài bọc 1 ốp màu xanh bằng nhựa cứng, đã qua sử dụng có số Imei 354506123156579 trong quá trình điều tra đã làm rõ là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị L, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho chị Trần Thị L chiếc điện thoại nói trên.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Các vấn đề khác: Đối với anh Hoàng Xuân L1 sinh năm 1996, trú tại thôn H, phường V, tỉnh Hưng Yên; anh Đỗ Đức T2 sinh năm 2001, trú tại thôn T, xã N, tỉnh Hưng Yên; chị Trần Thị Q sinh năm 1991 trú tại xã V, tỉnh Hưng Yên là những người cùng tham gia uống rượu với T. Quá trình xác minh, điều tra xác định khi cùng uống rượu với T, anh L1, anh T2 và chị Q không có ai xúi giục T đánh chị L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H không có căn cứ để điều tra xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích".
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1), điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 20/8/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại cho chị Trần Thị L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh dương có số Imei 354506123156579, bên ngoài có bọc 1 ốp màu xanh bằng nhựa cứng, đã qua sử dụng
(Các tài sản đồ vật trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Hưng Yên ngày 04/11/2025).
4. Về trách nhiệm dân sự : Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự: Ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường cho bị hại chị Trần Thị L, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số nhà A, ngõ A, đường P, tổ A, phường T, tỉnh Hưng Yên số tiền 2.000.000 đồng (chị L đã nhận đủ số tiền trên).
5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/11/2025. Bị hại chị Trần Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 27/11/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Xuân Quỳnh |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Xuân Quỳnh |
Bản án số 98/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 98/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - Cố ý gây thương tích
