|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG Bản án số: 98/2025/HS-ST Ngày 18-11-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão
Bà Nguyễn Thị Kim Thoa
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với Đ cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng và Đ cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn B, sinh ngày 20/3/1963 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số A U Đà Nẵng, phường N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn G và bà Nguyễn Thị Y; chưa có vợ con; tiền án: 01 tiền án chưa được xoá án tích: Bản án số 107/HSST ngày 31/10/2012, Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt Trần Văn B 30 tháng tù; ngoài ra phải nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST và 5.000.000 tiền phạt về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (chưa thi hành án phí và tiền phạt); tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 18/7/2025, đến ngày 25/7/2025 chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma tuý, khoảng 06 giờ 15 phút ngày 18/07/2025, bị cáo Trần Văn B thuê xe ôm của một người nam giới (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi từ nhà đến khu vực đường P, phường Đ, thành phố Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, B gặp và hỏi mua một người nam giới không quen biết (chưa rõ nhân thân, lai lịch) 300.000 đồng ma túy Heroine. Người này đồng ý bán, nhận tiền và đưa cho B 01 gói giấy màu trắng bên trong có ma tuý. B cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay phải rồi lên xe ôm của người vừa chở B để quay về nhà. Khi đến khu vực Cầu T, phường N, B xuống xe đi bộ về nhà. Khi B đi đến khu vực đầu ngõ B Đà Nẵng, phường N thì bị tổ công tác Công an phường N kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại lòng bàn tay phải của B 01 gói giấy màu trắng có kích thước khoảng 0,5x1,5cm bên trong chứa cục bột màu trắng, ngoài ra tổ công tác không thu giữ tài liệu, đồ vật nào khác. Sau đó, tổ công tác đưa B cùng tang vật về trụ sở Công an phường N để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm rõ hành vi.
Xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu đối với Trần Văn B cho kết quả dương tính với chất ma túy M.
Tại bản Kết luận giám định số 515/KL-KTHS ngày 23/7/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,25 gam, loại: Heroine”.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn B tại số A U Đà Nẵng, phường N, thành phố Hải Phòng không phát hiện, thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn B khai nhận như nội dung trên. Lời khai của bị can phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- 01 (một) bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định có dấu niêm phong số 515MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H.
Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSKV3 ngày 27/10/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3-Hải Phòng truy tố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng, phù hợp với hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn B tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
- Xử phạt bị cáo Trần Văn B với mức án từ 45 đến 48 tháng tù.
- Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định có dấu niêm phong số 515MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H.
- Đối với người đàn ông bán ma túy cho Trần Văn B và người lái xe ôm chở B đến khu vực đường P, phường Đ, thành phố Hải Phòng để B mua ma tuý hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
- Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra; Điều tra viên Công an thành phố H, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
+ Về căn cứ xác định các bị cáo có tội:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, lời khai thể hiện:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 18/7/2025, tại khu vực đầu ngõ B Đà Nẵng, phường N, thành phố Hải Phòng, Trần Văn B có hành vi cất giấu trái phép 0,25 gam ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang, theo Kết luận giám định số 515/KL-KTHS ngày 23/7/2025 của Phòng K Công an thành phố H.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[4] Bị cáo có 01 tiền án chưa được xoá án tích: Theo bản án số 107/HSST ngày 31/10/2012, Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt Trần Văn B 30 tháng tù, ngoài ra còn phải nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST và 5.000.000 tiền phạt về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (chưa thi hành án phí và tiền phạt) nên nên lần này phạm tội bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
+ Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Về áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo:
[6] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, lần này phạm tội cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại Cơ sở giam giữ một thời gian đủ để tránh xa ma tuý, cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, theo quy định khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
+ Về áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo:
[7] Xét bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
+ Về vật chứng của vụ án:
[8] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định có dấu niêm phong số 515MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H.
[9] Đối với người đàn ông bán ma túy và người lái xe ôm chở B đến khu vực đường P, phường Đ, thành phố Hải Phòng để B mua ma tuý hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
- Về án phí:
[10] Do bị cáo là người cao tuổi, có đề nghị miễn án phí tại phiên toà, nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án phí cho bị cáo theo Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo:
[11] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Luật số 86/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc Hội.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
Xử phạt bị cáo Trần Văn B 45 (bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18/7/2025.
- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định có dấu niêm phong số 515MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H (Niêm phong dán kín sau giám định), theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3-Hải Phòng.
- Về án phí: Căn cứ Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Văn B được miễn án phí hình sự sở thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn B được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |
Bản án số 98/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 98/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đức Bình
