Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2025/HS-PT

Ngày: 28 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAΙ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Hương

Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu

Bà Hà Thị Thanh Nữ

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Mạnh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc– Kiểm sát viên.

Từ ngày 26 tháng 02 năm 2025 đến ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo Hoàng Quang C và Đàm Công T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 139/2024/HSST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Các bị cáo kháng cáo:

  1. Hoàng Quang C, sinh năm 1977, tại Hà Nội; ĐKTT: Nơi thường trú: 27 Ngõ I, ngách I, tổ B L, phường M, Quạn Cầu G, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn:12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Quang L và mẹ bà Lăng Thị Hương P; vợ: Nguyễn Ngọc Q, sinh năm: 1983 (đã ly hôn); con: không có. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 07/3/2021, bị Công an quận N, Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi báo thông tin giả đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phạt tiền 750.000 đồng theo quyết định số 163/QĐ-XPVPHC-CANTL.

Bị cáo bị tạm giam tạm giữ từ ngày 17/5/2023 đến nay. Có mặt.

  1. Đàm Công T, sinh năm 1975, tại Thái Bình; Nơi thường trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Thầy thuốc Đông Y; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Công H và Phạm Thị L1; vợ: Hồ Thu T1 (đã ly hôn); con: không có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo Hoàng Quang C: Ông Nguyễn Như T2, sinh năm 1986 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; Địa chỉ: Công ty L4; đường N, Tổ B, khu phố D, phường Q, B, Đồng Nai; (Có mặt).

- Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo Đàm Công T:

  1. Ông Thiều Minh Đ, sinh năm 1968; thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; Địa chỉ: Văn phòng L5, B, Nguyễn Ái Q1, Tổ A, khu phố B, phường T, B, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
  2. Ông Hoàng Liên S, sinh năm 1965 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; Địa chỉ: Văn phòng L5, B, Nguyễn Ái Q1, Tổ A, khu phố B, phường T, B, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng năm 2014, Đàm Công T có quen biết với Hoàng Quang C. Theo lời T thì T nghe bạn bè giới thiệu C công tác tại bộ phận kiểm tra ở Trung ương, được giao cho một xe ô tô biển số 80B-1109, nền xanh, do C sắp đi công tác ở phía Nam, đang cần tìm người lái xe thì T đồng ý nhận lời lái xe cho C. Kể từ đó, T thường điều khiển xe ô tô trên chở C đi công tác ở nhiều cơ quan như Ủy ban, Công an và các ban ngành khác khắp tất cả các tỉnh, thành trong cả nước nên T nghĩ C là người có chức vụ ở Trung ương nhưng C không trả tiền lương cho T mà hứa hẹn có dự án gì có lợi nhuận thì sẽ cho T tiền một lần. Qua tiếp xúc, nghe C nói “em quen tất cả các sếp từ trưởng phòng đào tạo đến hiệu trưởng các trường C2 ở quận T, anh xem có ai muốn xin vào học Công an thì em xin dùm cho, nếu mà xin sớm thì hết khoảng 240.000.000 đồng (hai trăm bốn mươi triệu đồng) đến 260.000.000 đồng (hai trăm sáu mươi triệu đồng), nếu xin muộn so với thời gian khóa sổ của trường thì hết 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), khi nhập học xong thì em kêu các sếp bồi dưỡng lại cho anh 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)”. Thông qua C thì T còn quen biết người bạn của C là Phạm Bá T3 (thời điểm đó là nhân viên lễ tân khách sạn, sau này công tác ở ngành dược tại Thành phố Hồ Chí Minh), T3 cũng giới thiệu bản thân quen biết nhiều sếp lớn ở Bộ C3 và nói với T “ông kiếm có người nào muốn học trường Trung cấp Cảnh sát giao thông ở Quảng Nam thì xin cho, mấy sếp cho tôi mấy suất, xin hết 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), các sếp sẽ cho ông lại 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)”. C và T3 còn dặn dò T nếu có ai đồng ý thì đưa tiền đặt cọc cho các sếp 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng), kèm theo bộ hồ sơ gồm chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông, bảng điểm Trung học phổ thông hoặc bảng điểm thi đại học đã rớt (nếu có), giấy khám sức khỏe, lý lịch, số tiền còn lại khi nào có giấy báo nhập học thì đưa nốt vào khoảng tháng 11 hàng năm, từ đó Thiệu tin tưởng những lời nói của C và T3 là thật (tức được vào học tại các trường Công an nhân dân không qua thi tuyển).

Cũng trong thời gian trên, Đàm Công T quen biết anh Nguyễn Viết L2, sinh năm 1986, thường trú tại ấp B, xã S, T, Đồng Nai (công tác tại Trại giam X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Sau này, nhiều lần đi ăn nhậu với nhau anh L2 đã quen biết Hoàng Quang C. Quá trình quen biết nhau, anh L2 thấy T và C thường hay đi trên xe ô tô biển số 80B-1109, có giấy ra vào cổng (không rõ cơ quan nào) để ở kính đầu xe, khi đi qua các trạm thu phí không phải xuất trình giấy tờ, không mất phí cầu đường. L2 nghe T giới thiệu rằng T và C có nhiều mối quan hệ có thể xin chạy vào trường T6 ở tỉnh Quảng Nam và trường T7 ở T, không cần thi cử, chỉ cần bộ hồ sơ gồm lý lịch, học bạ, bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông, phiếu khám sức khỏe, giá cả thì tùy trường, nhưng trung bình khoảng 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), đưa tiền thì Thiệu viết giấy nhận tiền, xin không được thì trả lại, từ đó anh L2 suy đoán T là nhân viên lái xe làm việc ở Bộ C3, có mối quan hệ rộng và tin tưởng những gì T nói là sự thật.

Đến khoảng giữa năm 2014, anh L2 đặt vấn đề với C xin cho người cháu tên Nguyễn Ngọc H1 được học trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân mà không cần qua thi tuyển thì C đồng ý nhận lo giúp và nói L2 đến gặp đưa hồ sơ và trước số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) cho T. Ngày 03/7/2014, anh L2 đến nhà T giao số tiền trên và 01 bộ hồ sơ, đồng thời yêu cầu T viết giấy nhận tiền. Sau khi nhận tiền từ anh L2, T đã đưa hồ sơ và số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) cho C. Đến ngày 10/9/2014, C tiếp tục gọi điện cho T đề nghị anh L2 chuyển thêm số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) nữa để lo dứt điểm thì anh L2 đồng ý đem tiền đến nhà T, T tự viết giấy nhận tiền và hứa hẹn nếu không xin được nhập học thì sẽ hoàn trả lại đủ tiền. Sau đó, T mang số tiền 60.000.000 đồng trên đến giao cho C. Tổng cộng C đã nhận đủ số tiền 260.000.000 đồng (hai trăm sáu mươi triệu đồng) để làm chi phí xin chạy cho người thân của anh L2 vào học trường Công an nhưng C sử dụng hết số tiền trên tiêu xài cá nhân, không trả lại tiền cho anh L2.

Ngoài ra, anh L2 còn có mối quan hệ quen biết với ông Trần Văn Q2, sinh năm 1960, thường trú tại thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận và anh Lê Đăng K, sinh năm 1974, thường trú tại khu phố T, phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Do biết anh L2 là Công an nên ông Q2 và anh K đã ngỏ ý nhờ anh L2 tìm người có mối quan hệ rộng, người có khả năng xin cho con ruột của ông Q2 là Trần Phương N và cháu của anh K là Lê Xuân N1 vào học một trong số các trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân không cần qua thi tuyển thì anh L2 tin tưởng C và T có khả năng xin nên anh L2 đồng ý dẫn dắt ông Q2 và anh K đến gặp nhờ T giúp, cụ thể:

Vào đầu tháng 09/2014, ông Trần Văn Q2 nhờ T xin cho con trai vào học trường Công an, ông Q2 hẹn ngày 25/9/2014 sẽ đưa tiền nên T tin tưởng và đã ứng trước số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) tiền mặt của mình hẹn gặp đưa cho Phạm Bá T3 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 10/9/2014, T hẹn gặp T3 rồi điều khiển xe ô tô biển số xanh 80B-1109 đến quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi gặp nhau, T3 nói do chữ xấu nên nhờ T viết giấy nhận tiền với nội dung T3 đã nhận số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) từ Thiệu để lo việc nhập học cho con trai anh Q2 vào trường T8, nếu không lo được thì phải chịu trách nhiệm hoàn trả lại số tiền trên, còn thông tin về họ tên, số chứng minh nhân dân và địa chỉ, chữ ký ghi họ tên của T3 thì tự T3 viết. Khoảng 15 ngày sau, ông Q2 mới đưa số tiền đặt cọc cho T là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng), T viết giấy nhận tiền và hứa hẹn đến trong tháng 11/2014 sẽ nhận được giấy báo nhập học. Sau khi T3 đã nhận đủ số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) từ Thiệu thì T3 đã sử dụng hết vào việc tiêu xài cá nhân.

Đến khoảng tháng 10/2014, L2 có nhờ T xin cho cháu anh Lê Đăng K vào học T4 trung cấp Cảnh sát giao thông tại tỉnh Quảng Nam hoặc Trung cấp Cảnh sát nhân dân tại quận T - Thành phố Hồ Chí Minh mà không qua thi tuyển thì T đồng ý và tiếp tục nhờ Phạm Bá T3 xin. Đến ngày 09/10/2014, anh K đưa số tiền đặt cọc cho T là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng), T viết giấy nhận tiền và hứa hẹn đến trong tháng 11/2014 sẽ nhận được giấy báo nhập học và T đã chuyển toàn bộ số tiền trên cho T3. Do biết bản thân không có khả năng xin cho người khác vào học trường Cảnh sát nhân dân mà không qua thi tuyển nên T3 có gặp C tại quán cà phê gần ngã tư H, thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nói chuyện và đưa C bộ hồ sơ và số tiền là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) nêu trên nhưng C đã sử dụng hết tiền tiêu xài cá nhân.

Tuy nhiên qua tháng 11/2014, vẫn không thấy kết quả, thông báo nhập học, anh L2, ông Q2 và anh K liên lạc, đến nhà gặp T nhưng T đều lảng tránh, không trả lại tiền đã nhận nên anh L2, ông Q2 và anh K đã tố giác hành vi trên của các bị cáo đến Cơ quan Công an.

Tại Kết luận giám định số 478/KLGĐ ngày 06/10/2017 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

Chữ ký mang tên Đàm Công T trên các tài liệu ở phần mẫu cần giám định được đóng dấu ký hiệu từ A1 đến A4 với chữ ký mang tên Đàm Công T tương ứng trên các tài liệu ở mẫu so sánh được đóng dấu M1, M2 do cùng một người ký ra.

Chữ viết trên các tài liệu ở phần mẫu cần giám định được đóng dấu ký hiệu từ A1 đến A4 với chữ viết tương ứng trên các tài liệu ở mẫu so sánh được đóng dấu M1, M2 do cùng một người viết ra.

Tại Bản kết luận giám định số 4841/KL-KTHS đề ngày 29/9/2023 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  1. Chữ ký đứng tên Đàm Công T, chữ viết họ và tên “Đàm Công Thiệu” dưới mục “bên giao tiền” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết đứng tên Đàm Công T trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là do cùng một người ký, viết ra.
  2. Chữ ký đứng tên Phạm Bá T3, chữ viết họ và tên “Phạm Bá T3” dưới mục “bên giao tiền” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết đứng tên Phạm Bá T3 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M3, M4 là do cùng một người ký, viết ra.

Vật chứng vụ án và xử lý vật chứng: 01 (một) tờ giấy nhận tiền đề ngày 03/7/2014 (giữa Đàm Công T và Nguyễn Viết L2, nhận số tiền 200.000.000 đồng), được ký ghi họ tên người nhận tiền là Đàm Công T; 01 (một) tờ giấy nhận tiền đề ngày 10/9/2014 (giữa Đàm Công T và Nguyễn Viết L2, nhận số tiền 60.000.000 đồng), được ký ghi họ tên người nhận tiền là Đàm Công T; 01 (một) tờ giấy nhận tiền đề ngày 25/9/2014 (giữa Đàm Công T và Trần Văn Q2), được ký ghi họ tên người nhận tiền là Đàm Công T; 01 (một) tờ giấy nhận tiền đề ngày 09/10/2014 (giữa Đàm Công T và Lê Đăng K), được ký ghi họ tên người nhận tiền là Đàm Công T; 01 (một) tờ giấy nhận tiền đề ngày 10/9/2014 (giữa Đàm Công T và Phạm Bá T3, nhận số tiền 60.000.000 đồng), được ký ghi họ tên bên giao tiền là Đàm Công T, bên nhận tiền là Pham Bá T5.

Về trách nhiệm dân sự: Theo tài liệu trong hồ sơ thể hiện anh Lê Minh H2 trình bày: nghe tin C bị bắt tạm giam và T cũng điện thoại cho gia đình thông báo C nhận tiền từ T và T đưa cho C 260.000.000 đồng nên gia định đã đứng ra thay mặt bị cáo C trả lại số tiền 260.000.000 đồng cho anh Nguyễn Viết L2, trả lại số tiền 100.000.000 đồng cho anh Lê Đăng K. Các bị hại đã viết đơn bãi nại cho bị cáo C. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm anh Lê Minh H2 (em họ) của bị cáo Hoàng Quang C cho rằng, tại phiên tòa hôm nay bị cáo C không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không thừa nhận đã nhận số tiền 260.000.000 đồng từ Thiệu, 60.000.000 đồng từ T5 nên tại phiên tòa anh H2 yêu cầu các bị hại trả lại số tiền đã nhận của anh.

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân huyện Xuân Lộc Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); tuyên bố bị cáo Hoàng Quang C, Đàm Công T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 ( Được sửa đổi, bổ sung năm 2009); tuyên bố bị cáo Phạm Bá T3 phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); Điều 38, Điều 58, điểm b khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Hoàng Quang C 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2023.

- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Đàm Công T 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.

- Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Phạm Bá T3 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2023

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

- Về kháng cáo:

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, bị cáo Đàm Công T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, bị cáo Hoàng Quang C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm vì cho rằng bị cáo không phạm tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, đường lối xử lý vụ án, đủ cơ sở kết luận bản án sơ thẩm đã tuyên đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Sau xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo cho rằng không có tội nhưng sau đó tại phiên tòa phúc thẩm thay đổi thành xin giảm nhẹ hình phạt. Việc kháng cáo và thay đổi kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét. Quá trình xét xử sơ thẩm các bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cấp sơ thẩm đã căn cứ điểm khoản a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 ( được sửa đổi bổ sung năm 2009) xử phạt bị cáo Hoàng Quang C 09 năm 06 tháng tù và bị cáo Đàm Công T 09 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Chung cung cấp thêm tình tiết gia đình có công với cách mạng, đề nghị xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo C. Riêng bị cáo T mặc dù cung cấp tình tiết hành nghề y, chữa bệnh giúp người và có xác nhận của địa phương, nhưng xét mức án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp. Riêng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đề nghị xem xét áp dụng đối với bị cáo C. Đề nghị căn cứ các điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356, 357 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị sửa giảm một phần hình phạt cho bị cáo Chung, giữ nguyên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo T.

- Quan điểm của Luật sư Nguyễn Như T2 là người bào chữa cho bị cáo Hoàng Quang C:

Đề nghị xem xét các tình tiết chưa được cấp sơ thẩm xem xét như: Số tiền bồi thường 360.000.000 đồng và 120.000.000 đồng, tổng cộng 480.000.000 đồng, lớn hơn số tiền bị cáo gây thiệt hại, là tình tiết xem xét áp dụng mới cho bị cáo C. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt, thể hiện thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Cha bị cáo ông Hoàng Quang L3 và mẹ bị cáo đã tham gia kháng chiến cứu nước và được tặng thưởng Huân Huy C1, có xác nhận gia đình có công với cách mạng của địa phương. Bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo. Bị cáo Chung hiện vợ đã ly hôn, thời gian tạm giam bố của bị cáo đã qua đời, mẹ bị cáo tuổi cao sức yếu hiện đang sống một mình. Do đó, đề nghị xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo C. Về tội danh, ngay từ ban đầu bị cáo hứa xin việc, có gặp gỡ những người có thẩm quyền nhưng do cơ chế thay đổi nên có thể hiểu các bị cáo không có động cơ lừa đảo từ ban đầu, có thể xem xét bị cáo về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

- Quan điểm của Luật sư Thiều Minh Đ là người bào chữa cho bị cáo Đàm Công T:

Về tội danh luật sư không có ý kiến. Tuy nhiên đề nghị xem xét các yếu tố: Bị cáo T chỉ thực hiện hành vi tìm các bị hại sau đó đưa cho các bị cáo khác thực hiện hành vi lừa đảo. Về yếu tố lỗi, bị cáo không mong muốn chiếm đoạt tài sản nên lỗi không phải cố ý, chỉ muốn giúp sức cho các con em vào ngành. Do tin tưởng các bị cáo Chung, T2 nên bị cáo T mới giới thiệu bị hại cho các bị cáo khác. Hơn nữa bị cáo C lái xe biển số xanh nên bị cáo T mới tin tưởng. Việc bị cáo T đứng ra giúp đỡ vào trường công an không nhằm mục đích thu lợi mà chỉ thể hiện khả năng bản thân có thể giúp các bị hại. Bị cáo còn ứng trước 60.000.000 đồng mà không có thù lao. Như vậy bị cáo T không dùng thủ đoạn gian dối để làm các bị hại tin tưởng và đưa tiền cho bị cáo. Bị cáo cũng không trực tiếp nhận tiền và thực hiện hành vi gian dối. Bị cáo không buộc phải biết, không buộc phải nhận thức rõ các quy định về việc đưa vào các trường công an, ngược lại bị hại công tác trong ngành nên phải hiểu rõ các quy định này. Về tình tiết giảm nhẹ, đề nghị xem xét tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, ngoài ra bị cáo còn thúc đẩy bồi thường thiệt hại theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, thể hiện ở việc bị cáo nhiều lần hối thúc các bị cáo khác trả lại tiền cho bị hại, nhưng chưa được cấp sơ thẩm ghi nhận tình tiết tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Đây là 03 tình tiết độc lập, cần xem xét cho bị cáo về tình tiết khắc phục hậu quả. Cụ thể bị cáo đã khắc phục tác hại của tội phạm gây ra. Do bị cáo không giữ tiền của bị hại nên không thể trả lại, tình tiết này cũng thể hiện sự ăn năn của bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có thành tích xuất sắc đóng góp trong công tác khám chữa bệnh cho nhân dân, đề nghị xem xét tình tiết khác quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng thêm khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án thấp nhất dưới khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo Hoàng Quang C và Đàm Công T: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân gây mất trật tự tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Bị cáo Chung kháng cáo và cung cấp được tình tiết giảm nhẹ hình phạt là gia đình có công với cách mạng, hoàn cảnh khó khăn. Tại Tòa án cấp sơ thẩm bị cáo không nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên đã không thừa nhận hành vi phạm tội. Về phần bồi thường thiệt hại, gia đình bị cáo đã bồi thường xong. Tuy nhiên, do bị cáo không thừa nhận hành vi của minh nên cấp sơ thẩm đã không ghi nhận bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải, xác định đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại nên bị cáo được được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với bị cáo Đàm Công T, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải, hoàn cảnh khó khăn. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận đối với phần phù hợp.

[5] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Hoàng Quang C phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận đối với phần phù hợp.

[6] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Đàm Công T phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận đối với phần phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Quang C và Đàm Công T; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 139/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

1. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Điều 38, Điều 58, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015

Xử phạt: bị cáo Hoàng Quang C 07 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2023.

2. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Đàm Công T 08 (tám) năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.

3. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc (2);
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc;
  • - Phòng PV06 – Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Luật sư;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Phan Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2025/HS-PT ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (phúc thẩm)

  • Số bản án: 98/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger