Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2025/HS-PT

Ngày 17 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Cường

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Ý

Ông Vương Minh Tâm

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 1105/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Lê Huỳnh N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Huỳnh N, sinh ngày 01/6/1982, tại tỉnh Long An; nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Long An; nơi cư trú hiện nay: Số B Quốc lộ F, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Nguyên cán bộ Công an huyện T, cấp bậc: Thiếu tá; chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Đảng viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh Đ, sinh năm 1940 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1946; hoàn cảnh gia đình: Có vợ là Nguyễn Thị Mộng T (đã ly hôn) và có 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam: Ngày 12/4/2022; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Huỳnh N: Ông Nguyễn Văn T1 là Luật sư của Chi nhánh Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.

- Ngoài ra, trong vụ án này còn có Nguyên đơn dân sự, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác nhưng do không có kháng cáo, không liên quan tới kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Huỳnh N công tác tại Công an huyện T, tỉnh Long An, được phân công nhiệm vụ kế toán từ năm 2006; đến ngày 15/5/2021 N bị đình chỉ công tác. Trong năm 2020, bị cáo N được lãnh đạo Công an huyện T phân công 02 lần vào các ngày 21/4/2020 và 17/7/2020 đến Phòng Kinh tế - Hạ tầng Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An để nhận khoản tiền bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ tham gia tuần tra giao thông với tổng số tiền 218.400.000 đồng. Sau khi nhận tiền, bị cáo N không giao lại cho thủ quỹ của đơn vị giữ và cấp phát theo chế độ. Ngoài ra, cũng trong năm 2020, bị cáo N đã 09 lần đến Phòng Hậu cần Công an tỉnh L nhận các khoản tiền về chế độ chính sách, thi đua khen thưởng của cán bộ, chiến sĩ trong năm 2020 với tổng số tiền là 331.935.000 đồng nhưng sau đó N chỉ cấp phát cho một vài cán bộ, chiến sĩ với số tiền tổng cộng là 56.525.000 đồng, số tiền còn lại 275.410.000 đồng N chiếm đoạt, cụ thể:

Ngày 03/02/2020, bị cáo N nhận tiền trực Tết Nguyên Đ1 năm 2020 với số tiền 90.600.000 đồng nhưng chỉ cấp phát số tiền 53.700.000 đồng. Ngày 17/4/2020 và ngày 01/10/2020, bị cáo N nhận tiền nghỉ dưỡng với số tiền 47.615.000 đồng nhưng chỉ cấp phát cho ông Phạm Văn T2 đã nghỉ hưu số tiền 1.225.000 đồng. Ngày 31/8/2020, bị cáo N nhận tiền của các ngày lễ 19/8 và 02/9 với tổng số tiền 80.500.000 đồng nhưng chỉ cấp phát cho ông Nguyễn Công C và ông Nguyễn Thanh T3, mỗi người 800.000 đồng. Ngày 31/12/2020, bị cáo N nhận khoản tiền Đơn vị văn hóa với số tiền 13.440.000 đồng và khoản tiền Thi đua Vì an ninh Tổ quốc với số tiền 64.230.000 đồng. Ngày 24/8/2020, bị cáo N nhận tiền khen thưởng học sinh giỏi 5.050.000 đồng. Ngày 22/6/2020, bị cáo N nhận tiền Quốc tế Thiếu nhi 12.000.000 đồng. Ngày 09/10/2020, bị cáo N nhận tiền Tết Trung thu 12.300.000 đồng. Ngày 16/02/2020, bị cáo N nhận tiền bồi dưỡng tập huấn điều lệnh 6.200.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo N nhận từ Phòng Kinh tế - Hạ tầng của Ủy ban nhân dân huyện T và Phòng Hậu cần Công an tỉnh L là 550.335.000 đồng. Bị cáo N đã cấp phát theo quy định số tiền 56.525.000 đồng, còn lại số tiền 493.810.000 đồng, bị cáo N không giao lại cho thủ quỹ cấp phát theo quy định mà chiếm giữ, sử dụng cá nhân.

Đầu năm 2021, lãnh đạo Công an huyện T phân công cho ông Phan Văn S phụ trách kế toán của đơn vị và yêu cầu bị cáo N bàn giao nhiệm vụ. Do không còn tiền bàn giao cho thủ quỹ để cấp phát các khoản chế độ, chính sách nêu trên nên bị cáo N đã làm giả 05 bộ chứng từ để rút dự toán ngân sách của Công an huyện T, mỗi bộ chứng từ gồm: 01 Giấy rút dự toán ngân sách và 01 Bảng kê nội dung thanh toán/tạm ứng, trong đó: Bị cáo N đã giả chữ ký ông Phạm Công B - Trưởng Công an huyện ký vào 05 Giấy rút dự toán ngân sách và 05 Bảng kê nội dung thanh toán/tạm ứng và sử dụng con dấu Công an huyện T đóng xác nhận lên chữ ký giả của ông Phạm Công B rồi trực tiếp liên hệ Kho bạc Nhà nước huyện T nộp 05 bộ chứng từ để rút số tiền 905.575.000 đồng trong tài khoản của Công an huyện T, cụ thể:

  1. Giấy rút dự toán ngân sách ngày 12/01/2021, nội dung: Khoán công tác phí, số tiền: 200.000.000 đồng và B1 kê nội dung thanh toán/tạm ứng kèm theo.
  2. Giấy rút dự toán ngân sách ngày 13/01/2021, nội dung: Chi nuôi can phạm, phạm nhân, số tiền: 180.000.000 đồng và B1 kê nội dung thanh toán/tạm ứng kèm theo.
  3. Giấy rút dự toán ngân sách ngày 02/02/2021, nội dung: Chi nuôi can phạm, phạm nhân, số tiền: 300.000.000 đồng và B1 kê nội dung thanh toán/tạm ứng kèm theo.
  4. Giấy rút dự toán ngân sách ngày 04/02/2021, nội dung: Phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, số tiền: 200.000.000 đồng và B1 kê nội dung thanh toán/tạm ứng kèm theo.
  5. Giấy rút dự toán ngân sách ngày 25/02/2021, nội dung: Sửa chữa thiết bị chuyên dùng, số tiền 25.575.000 đồng và Bảng kê nội dung thanh toán/tạm ứng.

Đối với các chứng từ từ 01 đến 04, sau khi được Kho bạc Nhà nước huyện T duyệt chi và chuyển tiền vào tài khoản tạm gửi của Công an huyện T mở tại Ngân hàng A1 - Chi nhánh huyện T, bị cáo N yêu cầu Thủ quỹ Mai Tấn P liên hệ Ngân hàng Al Chi nhánh huyện T nhận 880.000.000 đồng mang về nhập quỹ đơn vị, để chỉ những nội dung sau:

Chi bồi dưỡng cán bộ chiến sĩ Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện T tham gia tuần tra giao thông năm 2020 số tiền 200.000.000 đồng.

Cấp phát 09 khoản chế độ chính sách, thi đua khen thưởng trong năm 2020 mà bị cáo N đã nhận từ Phòng Hậu cần Công an tỉnh L nhưng chưa cấp phát, số tiền 268.830.000 đồng.

Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ Tư pháp tạm ứng số tiền 180.000.000 đồng, sử dụng cho hoạt động của Nhà tạm giữ Công an huyện T. Đến tháng 4/2021, Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ Tư pháp đã chi sử dụng và quyết toán với Phòng Hậu cần Công an tỉnh L số tiền 105.000.000 đồng. Còn lại số tiền 75.000.000 đồng, đã nộp hoàn lại dự toán ngân sách theo Giấy nộp trả kinh phí lập ngày 08/12/2021.

Chi tạm ứng thanh toán nhiên liệu (xăng, dầu) từ tháng 01 đến tháng 4/2021, tổng cộng là 145.943.000 đồng. Tháng 12/2021, Công an huyện T đã thu hồi, nộp hoàn lại dự toán ngân sách theo Giấy nộp trả kinh phí lập ngày 08/12/2021.

Chi hoạt động thường xuyên của đơn vị số tiền 10.000.000 đồng, đã quyết toán bằng chứng từ với Phòng Hậu cần Công an tỉnh L.

Khi phát hiện sự việc, còn lại 75.227.000 đồng, ông Phạm Công B - Trưởng Công an huyện T chỉ đạo thủ quỹ Mai Tấn P không tiếp tục chi sử dụng, mà quản lý tại đơn vị, đến tháng 12/2021 nộp hoàn lại ngân sách Nhà nước theo Giấy nộp trả kinh phí lập ngày 08/12/2021.

Đối với Giấy rút dự toán ngân sách và Bảng kê nội dung thanh toán/tạm ứng ngày 25/02/2021, nội dung thanh toán: Sửa chữa thiết bị chuyên dùng, số tiền 25.575.000 đồng, đã chuyển vào tài khoản của Công ty TNHH MTV T5, địa chỉ số A T, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền này, Công an huyện T đã làm thủ tục rút về nhập quỹ đơn vị và được Phòng Hậu cần Công an tỉnh L quyết toán chi trong năm 2020 nhưng qua điều tra không xác định được đã chi cho hoạt động gì. Ông Phạm Công B - Trưởng Công an huyện T đã nộp trả lại ngân sách số tiền 25.575.000 đồng theo Giấy nộp trả kinh phí ngày 08/12/2021.

Tại Kết luận Giám định số 620/2021/KLGĐ ngày 05/7/2021, Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Chữ ký mang tên “Đại tá Phạm Công B”, ở mục “Thủ trưởng đơn vị” trên 05 tờ “Giấy rút dự toán ngân sách” và 05 tờ “Bảng kê nội dung thanh toán/tạm ứng” nêu trên là không phải chữ ký của Đại tá Phạm Công B; hình dấu trên 10 tờ giấy nêu trên là do con dấu của Công an huyện T đóng ra.

Ngoài ra, bị cáo N còn chiếm đoạt số tiền 89.696.000 đồng của Công an huyện T, như sau:

Ngày 26/12/2020, ông Nguyễn Duy K là người đại diện của Công ty TNHH G chuyển vào tài khoản số 6607205004404 của bị cáo N mở tại Ngân hàng A1 - Chi nhánh huyện T số tiền 50.000.000 đồng. Mục đích, nhờ bị cáo N chuyển trả hoàn tạm ứng cho Công an huyện T, nhưng bị cáo N không thực hiện mà chiếm đoạt sử dụng cá nhân.

Ngày 19/01/2021, bị cáo N làm thủ tục đề nghị cấp tiền chế độ chính sách của Bộ C1 cấp cho cán bộ Công an nghỉ hưu trong dịp Tết Nguyên đán năm 2021, trình lãnh đạo Công an huyện T ký duyệt. Sau đó, bị cáo N nộp tại Phòng Tổ chức cán bộ và Phòng Hậu cần Công an tỉnh L để được xem xét, duyệt chi. Do yêu cầu thực hiện cấp phát chế độ chính sách trước Tết Nguyên đán, nhưng Phòng Hậu cần Công an tỉnh L chưa duyệt chi, nên bị cáo N trao đổi với Thủ quỹ Mai Tấn P sử dụng nguồn tiền mặt đang quản lý để ứng cấp phát trước, sau Tết nhận được tiền thanh toán lại. Đến ngày 05/3/2021, Phòng Hậu cần Công an tỉnh L duyệt chi và cấp phát khoản chế độ này cho các đơn vị, bị cáo N được lãnh đạo Công an huyện phân công đến Phòng Hậu cần nhận số tiền 39.696.000 đồng nhưng bị cáo N không bàn giao lại cho thủ quỹ mà chiếm đoạt sử dụng cá nhân. Sau đó, thủ quỹ Mai Tấn P nhiều lần yêu cầu bị cáo N hoàn lại 02 khoản tiền trên cho đơn vị. Đến ngày 19/5/2021, bị cáo N yêu cầu ông P liên hệ đến bà Lê Thị Khánh A (là chị ruột của bị cáo N) nhận số tiền 100.000.000 đồng, gồm: 89.696.000 đồng nêu trên và 10.304.000 đồng là tiền nợ cá nhân giữa bị cáo N và ông P. Như vậy, tổng số tiền bị cáo N đã chiếm đoạt của Công an huyện T, tỉnh Long An là 583.506.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 24/9/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định:

Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 353, điểm a khoản 3 Điều 359, Điều 38, Điều 50, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Huỳnh N 08 (tám) năm tù về tội “Tham ô tài sản” và 04 (bốn) năm tù về tội “Giả mạo trong công tác”.

Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Huỳnh N chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 4 năm 2022.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Huỳnh N 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.

Cấm bị cáo Lê Huỳnh N đảm nhiệm các chức vụ liên quan đến lĩnh vực kế toán trong thời hạn 03 (Ba) năm sau khi chấp hành xong hình phạt.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 07 tháng 10 năm 2024, bị cáo Lê Huỳnh N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Huỳnh N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt với lý do đã khắc phục toàn bộ hậu quả đối với tội “Giả mạo trong công tác” trước khi vụ án được khởi tố; đề nghị xem xét lại số tiền bị quy kết đã chiếm đoạt đối với tội “Tham ô tài sản” cụ thể là: Số tiền 315.106.000 đồng sau khi nhận của Phòng Hậu cần Công an tỉnh L, bị cáo đã trực tiếp giao cho thủ quỹ Phán 60.000.000 đồng; tương tự đối với khoản tiền Công ty TNHH G hoàn ứng cho Công an huyện T, bị cáo vay của thủ quỹ Phán 50.000.000 đồng để nhập quỹ; do đó, đề nghị xem xét trừ đi khoản tiền 110.000.000 đồng này và chuyển khung hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo còn trình bày gia đình có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, gia đình của bị cáo là gia đình liệt sỹ, ông bà, cha mẹ đều có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng Nhất; bản thân bị cáo đã nhiều lần được tặng bằng khen trong quá trình công tác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng khác và những người tham gia phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Về nội dung: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Lê Huỳnh N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, trong khoảng thời gian ngắn, bị cáo đã thực hiện 02 hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt bị cáo lại là chiến sỹ Công an huyện T; với vị trí công tác và truyền thống cách mạng của gia đình, lẽ ra bị cáo phải nêu cao tinh thần gương mẫu của đảng viên, chiến sỹ công an nhân dân, tuy nhiên bị cáo lại cố ý thực hiện nhiều hành vi phạm tội, nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, có 03 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, nhưng các tình tiết giảm nhẹ này đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét và xử phạt bị cáo với mức án 12 năm tù là thỏa đáng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở xem xét, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Huỳnh N trình bày quan điểm: Thống nhất với trình bày của bị cáo về việc đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại số tiền chiếm đoạt, cụ thể là 02 khoản tiền tổng cộng 110.000.000 đồng không liên quan tới hành vi chiếm đoạt của bị cáo. Ngoài những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có cha ruột là ông Lê Minh Đ có công với cách mạng, được Quân Giải phóng M tặng thưởng bằng khen, được Chủ tịch N1 tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chuyển khung hình phạt và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo N ở mức thấp nhất của khoản 1 Điều 353 và khoản 2 Điều 359 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lê Huỳnh N trình bày: Gia đình bị cáo là gia đình liệt sỹ, ông bà nội ngoại, cha mẹ và bản thân bị cáo đều có công với cách mạng, được tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý của Đảng, Nhà nước. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhưng đề nghị được xem xét trong bối cảnh chủ tài khoản của đơn vị chưa làm tròn trách nhiệm dẫn đến những khoản bị cáo đã chi nhưng không được quyết toán mà cho rằng bị cáo đã chiếm đoạt. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo không muốn đổ lỗi cho ai, mặc dù có nhiều khoản chi thực tế nhưng vì không có chứng cứ nên bị cáo xin được chịu trách nhiệm và không có ý kiến gì, tuy nhiên với hậu quả mà bị cáo đã khắc phục toàn bộ và những tình tiết giảm nhẹ Luật sư đã trình bày ở trên, một lần nữa bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng xã hội, báo hiếu cha mẹ già yếu và làm một công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo Lê Huỳnh N nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được việc làm sai trái của mình, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo cơ hội để làm lại cuộc đời, chuộc lại lỗi lầm đã gây ra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Huỳnh N đúng luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; kết quả được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[2.1] Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Lê Huỳnh N tại phiên tòa, có cơ sở xác định:

Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến tháng 3 năm 2021, bị cáo Lê Huỳnh N giữ chức vụ kế toán tại Công an huyện T, tỉnh Long An. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, bị cáo N được giới thiệu liên hệ Phòng Hậu cần, Phòng Tổ chức thuộc Công an tỉnh L và Phòng Kinh tế - Hạ tầng thuộc Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An để nhận tổng số tiền 590.131.000 đồng, gồm các khoản: Tiền bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ tham gia tuần tra giao thông năm 2020; tiền chế độ chính sách, thi đua khen thưởng của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị và tiền chế độ chính sách của Bộ C1 cấp cho cán bộ Công an nghỉ hưu trong dịp Tết Nguyên đán năm 2021. Sau khi nhận tiền, bị cáo N chỉ chi 56.525.000 đồng, còn lại 533.506.000 đồng bị cáo N cho rằng đã giao lại cho thủ quỹ và chi tạm ứng theo duyệt chi của Thủ trưởng đơn vị nhưng không có chứng cứ chứng minh; đối với số tiền 50.000.000 đồng nhận của Công ty TNHH G chuyển trả tạm ứng cho Công an huyện T qua tài khoản cá nhân, bị cáo N không giao nộp lại. Tổng số tiền bị cáo N đã chiếm đoạt là 583.506.000 đồng.

Tháng 01/2021, khi lãnh đạo Công an huyện T yêu cầu bàn giao nhiệm vụ kế toán cho cán bộ khác phụ trách, bị cáo N đã giả chữ ký của ông Phạm Công B (chủ tài khoản của Công an huyện T) để làm giả 05 bộ chứng từ gồm: 05 Giấy rút dự toán ngân sách và 05 Bảng kê nội dung thanh toán/tạm ứng, nộp Kho bạc Nhà nước huyện T và yêu cầu thủ quỹ liên hệ rút dự toán ngân sách của Công an huyện T về đơn vị, cấp phát cho cán bộ chiến sĩ đối với hai khoản tiền gồm tuần tra giao thông và chế độ chính sách, thi đua khen thưởng của cán bộ, chiến sĩ đã bị bị cáo chiếm đoạt như trên cùng một số khoản phải chi của đơn vị trong Quý I/2021.

Với hành vi phạm tội như trên, bị cáo Lê Huỳnh N đã bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 353 và tội “Giả mạo trong công tác” theo đểm a khoản 3 Điều 359 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Lê Huỳnh N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội; trong khoảng thời gian ngắn nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện liên tiếp 02 hành vi phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm tới khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ là hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, làm cho cơ quan Nhà nước suy yếu, giảm uy tín trong quần chúng, nhân dân và gây mất ổn định an ninh, trật tự địa phương. Trước khi bị khởi tố, bị cáo N là đảng viên Đ3, chiến sĩ Công an nhân dân mang cấp bậc Thiếu tá; trong quá trình công tác, bị cáo từng được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T tặng Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác; 02 lần được Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang Hạng Nhì và Hạng Ba; gia đình bị cáo có truyền thống cách mạng, có bà ngoại (Nguyễn Thị Đ2) là bà mẹ Việt Nam anh hùng, huy hiệu 50 năm tuổi đảng; ông ngoại (Huỳnh Hữu T4) là liệt sỹ, được Chủ tịch Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng Huân chương độc lập N1; cha ruột (ông Lê Minh Đ) được Quân Giải phóng M tặng thưởng bằng khen và được Chủ tịch N1 tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất. Với truyền thống cách mạng vẻ vang của gia đình và thành tích của mình, lẽ ra bị cáo phải rèn luyện, tu dưỡng bản thân để tiếp tục phát huy tinh thần đó, nhưng chỉ vì động cơ vụ lợi mà bị cáo đã thực hiện liên tiếp 02 hành vi phạm tội đều thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, nên cần phải xử phạt mức án đủ nghiêm khắc để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[2.3] Trong vụ án này, bị cáo N bị truy tố theo điểm a khoản 3 Điều 353 và điểm a khoản 3 Điều 359; bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52; được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; đồng thời, bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả xảy ra trước khi vụ án bị khởi tố. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 và xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong khung hình phạt liền kề (khoản 2 Điều 353 và khoản 2 Điều 359) là đúng pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

[2.4] Tuy nhiên về nhân thân, bị cáo N còn có cha ruột là ông Lê Minh Đ, được Quân Giải phóng M tặng thưởng Bằng khen và được Chủ tịch N1 tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng là thiếu sót. Như vậy, bị cáo được áp dụng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 và tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51, trong khi chỉ bị áp dụng một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, đồng thời hậu quả vật chất cũng đã được khắc phục toàn bộ nên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng có phần hạn chế. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo N và quan điểm bào chữa của Luật sư; giảm một phần hình phạt cho bị cáo N.

[3] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; chấp nhận quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo N.

[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Lê Huỳnh N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Long An có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Huỳnh N và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 353, điểm a khoản 3 Điều 359, Điều 38, Điều 50, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s, v, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tuyên xử:

  1. Xử phạt bị cáo Lê Huỳnh N 07 (bảy) năm tù về tội “Tham ô tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Giả mạo trong công tác”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Huỳnh N chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 4 năm 2022.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Huỳnh N 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.

  1. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Huỳnh N không phải chịu.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Vụ Pháp chế và Quản lý Khoa học;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP. HCM;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Long An;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An;
  • - Công an tỉnh Long An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Long An;
  • - Bị cáo bị tạm giam;
  • - Lưu VT; HSVA - NTHN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Ngô Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2025/HS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tội tham ô tài sản và tội giả mạo trong công tác)

  • Số bản án: 98/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Tham ô tài sản và Tội Giả mạo trong công tác)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Huỳnh N và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger