|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 98/2025/HS-PT Ngày: 20/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lê Thị Phương Thanh. |
| Các Thẩm phán: | Bà Lê Thị Tân |
| Bà Lê Thị Dung |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Thư ký Tòa án tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2025/TLPT-HS ngày 12/5/2025, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 03/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Thị H; Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1975; Tại: Thị trấn P, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V (Đã chết) và bà Lê Thị Q (Đã chết); Chồng: Đồng Văn T - Sinh năm 1965; Có 03 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại bản án số 23/2008/HSST ngày 24/6/2008 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy xử phạt bị cáo 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Cướp tài sản (BL142)
Tại bản án số 21/2010/HSST ngày 01/7/2010 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy xử phạt bị cáo 09 tháng tù, cộng với 36 tháng tù của bản án số 23/2008/HSST ngày 24/6/2008 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 45 tháng tù. Ngày 29/8/2013, bị cáo Nguyễn Thị H được đặc xá miễn chấp hành hình phạt.
Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 01/11/2024 Nguyễn Khắc P, sinh năm 1990, trú tại thôn S, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa đến Công an huyện C tự thú, khai nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 26/8/2024 Nguyễn Khắc P đi đến nhà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 ở tổ dân phố H, thị trấn P, huyện C thấy nhà Nguyễn Thị H có biển ghi lô tô nên P đi vào và gặp Lê Thị T1 hỏi “bây giờ đánh lô trúng thì có lấy tiền luôn được không”, T1 trả lời là “có”. Sau đó T1 lấy điện thoại di động gọi cho Nguyễn Thị H nói có khách đến ghi lô, H nói hết giờ rồi nhưng cứ nhận của khách đi. T1 đồng ý ghi cho P các số lô 72 = 150 điểm; số lô 21 = 250 điểm; số lô 12 = 250 điểm. Giá 01 điểm lô là 22.000 đồng. Tổng số tiền đánh lô là 14.300.000 đồng. Sau khi P đưa tiền thì T1 đưa lại cho P một tờ phiếu có ghi các số lô và ký tên T1 phía dưới. Sau đó P đi sang quán cắt tóc đợi kết quả mở thưởng. Đến khoảng 18 giờ 30 phút, đối chiếu kết quả mở thưởng ngày 26/8/2024 P đã trúng các số lô 72 và 21 = 400 điểm. T1 đã đi đến nhà H lấy tiền trúng về trả cho P. H đưa cho T1 số tiền 15.000.000 đồng và sử dụng tài khoản của chồng là anh Đồng Văn T chuyển đến số tài khoản của T1 số tiền 17.000.000 đồng. Khi P đang gội đầu tại quán cắt tóc cách nhà H khoảng 50 mét thì T1 đi sang nói P trúng được các số lô 72 và 21, tổng số điểm trúng là 400 điểm, bằng số tiền 32.000.000 đồng. P đưa lại cho T1 phiếu ghi số lô, T1 đưa cho P số tiền 16.000.000 đồng và chuyển khoản cho P 17.000.000 đồng. Do T1 chuyển thừa tiền nên P chuyển lại cho T1 1.000.000 đồng và P cho T1 số tiền 200.000 đồng. Tổng số tiền Phương đánh bạc với T1 và H ngày 26/8/2024 là 46.300.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 17 giờ, ngày 05/9/2024 Nguyễn Khắc P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Lead đến quán cầm đồ của Quách Văn H1 ở tổ dân phố P, thị trấn P, huyện C, mục đích để cầm cố tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Lead, màu đỏ để lấy tiền mua số lô. Sau khi trao đổi H1 đồng ý cầm cố xe mô tô nói trên với số tiền 15.000.000 đồng. (Xe mô tô P đem cầm cố là mượn của anh Trương Văn T2, khi mượn anh T2 có đồng ý để P đem cầm cố để lấy tiền trả viện phí). Sau khi cầm cố tài sản P hỏi H1 có biết chỗ nào ghi số lô không, H1 gọi điện thoại cho Đinh Công M sinh năm 1991 ở tổ dân phố H, thị trấn P, huyện C hỏi có ghi lô không thì M đồng ý. Sau đó H1 nhận lời ghi cho P1 số lô 72 = 400 điểm; lô 21 = 250 điểm. Giá 01 điểm lô là 22.000 đồng. Tổng số tiền đánh lô là 14.300.000 đồng. Sau đó H1 đã chuyển toàn bộ các số lô vừa ghi được cho Đinh Công M với giá 21.800 đồng/1 điểm lô. Đối chiếu với kết quả mở thưởng ngày 05/9/2024 thì số lô 72 về 02 vòng = 800 điểm, số tiền trúng là 64.000.000 đồng. M đã thanh toán toàn bộ số tiền trúng cho H1 và H1 đã thanh toán toàn bộ tiền trúng cho P.
Ngày 01/11/2024 Nguyễn Thị H, Quách Văn H1, Đinh Công M, Lê Thị T1 nhận thấy hành vi mua bán các số lô là vi phạm pháp luật nên đã đến Cơ quan Công an đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
3
Bản án hình sự sơ thẩm số 19/HSST/2025 ngày 03/4/2025 của TAND huyện Cẩm Thủy đã: Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Khắc P, Quách Văn H1, Đinh Công M, Nguyễn Thị H và Lê Thị T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 58, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.
Đối với các bị cáo khác chịu hình phạt tù cho hưởng án treo, phạt tiền.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp và án phí đối với các bị cáo;
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 15/4/2025 bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo;
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
- -Về trình tự thủ tục: Người tiến hành tố tụng và bị cáo đều thực hiện đúng trình tự tố tụng.
- - Về nội dung kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội ít nghiêm trọng, hoàn cảnh khó khăn hiện đang nuôi hai anh ruột bị bệnh tâm thần; tại cấp phúc thẩm xuất trình nhiều tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị HĐXX căn cứ Điều 355, Điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo;
- - Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị H không phải chịu án phí phúc thẩm;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng và thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H làm trong hạn luật định, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không rút đơn kháng cáo nên kháng cáo của bị cáo được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai nhận tội, tỏ rõ sự ăn năn hối cải, lời khai của bị cáo hoàn toàn thống nhất với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cụ thể như sau:
Ngày 26/8/2024 tại tổ dân phố H, thị trấn P, huyện C, Nguyễn Thị H và Lê Thị T1 đã thực hiện hành vi bán số lô cho Nguyễn Khắc P với tổng số tiền là 14.300.000 đồng. Số tiền trúng số lô là 32.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 26/8/2024 của Nguyễn Khắc P, Nguyễn Thị H, Lê Thị T1 là 46.300.000 đồng.
Ngày 05/9/2024 tại tổ dân phố P, thị trấn P, huyện C, Quách Văn H1 đã bán số lô cho Nguyễn Khắc P với tổng số tiền là 14.300.000 đồng. Số tiền trúng số lô là 64.000.000 đồng. Cùng ngày, Đinh Công M đã thực hiện hành vi bán số lô cho Quách Văn H1 với tổng số tiền là 14.170.000 đồng. Số tiền trúng số lô là 64.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc ngày 05/9/2024 của Nguyễn
4
Khắc P là 78.300.000 đồng; Đinh Công M là 78.170.000 đồng; Quách Văn H1 là 156.470.000 đồng.
Như vậy Nguyễn Thị H, Lê Thị T1, Nguyễn Khắc P, Quách Văn H1, Đinh Công M đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 BLHS; Đối với H và T1 ở khoản 1 còn đối với P, H1, M ở khoản 2 của Điều 321 BLHS.
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức độ phạm tội của từng bị cáo để tuyên phạt các bị cáo trong đó đối với Nguyễn Thị H phải chịu 06 tháng tù là phù hợp;
[3] Xét kháng cáo của bị cáo: Bị cáo xin được hưởng án treo:
Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình các tài liệu của UBND thị trấn P, Trạm y tế thị trấn P về các sự việc: Bị cáo ủng hộ cho Quỹ hỗ trợ của Tổ dân phố, cứu sản phụ sinh con, nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền truy thu do bản án sơ thẩm tuyên phạt... đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định ở khoản 2 Điều 51 BLHS;
Thấy rằng, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, hình phạt thấp (06 tháng tù giam) gia đình neo người hiện một mình chăm sóc hai người anh ruột bị bệnh tâm thần, tại cấp phúc thẩm xuất trình thêm các tài liệu giảm nhẹ mới thể hiện rõ sự ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của mình nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo, nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chấp nhận lời đề nghị của đại diện VKSND Tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên hình phạt tù với bị cáo nhưng cho bị cáo được hưởng án treo để đảm bảo được công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và cho bị cáo thấy được tính nhân đạo của chính sách pháp luật Nhà nước ta.
[4]Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí HSPT.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ: Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
2. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 19/2025/HSST ngày 03/4/2025 của TAND huyện Cẩm Thủy như sau:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội: “Đánh bạc”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 58, Điều 65; điểm s khoản 1 Khoản 2 Điều 51 BLHS:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H: 06(sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12(mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho UBND thị trấn P, huyện C, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
5
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Ghi nhận bị cáo đã nộp đủ tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ tại biên lai thu tiền số 000599 ngày 20/6/2025 và số tiền 5.000.000đ là tiền truy thu theo bản án sơ thẩm, tại biên lai thu tiền số 0000600 ngày 20/6/2025 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Thủy, bị cáo còn phải nộp nốt số tiền bị truy thu còn lại là 9.300.000đ (chín triệu ba trăm ngàn đồng).
4. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Phương Thanh |
Bản án số 98/2025/HS-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 98/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Đánh bạc”
