|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 98/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-11-2025 V/v tranh chấp Hôn nhân & gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và bà Nguyễn Thị Vân
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 372/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 20 25 và Quyết định hoãn phiên toà số: 66/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/11/2025 giữa các đương sự:
-
*Nguyên đơn: Chị Lê Thị N - sinh ngày 13/6/1993 (có đơn xin vắng mặt)
CCCD/CC số: [...]
Nơi ĐKHKTT: TDP N, phường T, thành phố Hà Nội
-
*Bị đơn: Anh Đinh Hải H – sinh ngày 03/4/1993 (vắng mặt)
CCCD/CC số: [...]
Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã H, thành phố Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn ly hôn và các buổi làm việc tại Tòa chị Lê Thị N là nguyên đơn trình bày: chị và anh Đinh Hải H qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H năm 2016. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung; cái tôi của mỗi người quá lớn nên không thể hòa hợp được với nhau. Hai vợ chồng ly thân từ năm 2020; trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên chị cương quyết xin ly hôn anh H. Về con chung: có 02 con chung là Đinh Ly L – sinh ngày 20/01/2017 và Đinh Minh K – sinh ngày 25/5/2018. Khi ly hôn, chị nuôi cả hai con và không đề nghị Toà giải quyết tiền cấp dưỡng nuôi con. Vì các con có nguyện vọng ở với chị. Bản thân chị nhiều năm nay nuôi các cháu trong khi đó anh H không hề quan tâm, không hỗ trợ kinh tế để chị nuôi con, hiện chị đang làm giáo viên và sinh sống ở cùng với bố mẹ đẻ tại Phường T, thành phố Hà Nội. Về tài sản, công nợ chung: chị không đề nghị Toà giải quyết
Bị đơn anh Đinh Hải H có ý kiến: cuộc sống hôn nhân giữa anh và chị N bình thường xong vợ chồng đã sống ly thân 05 năm nay, lúc nào anh cũng mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng chị N có đơn ly hôn, anh đề nghị Toà giải quyết vắng mặt anh. Anh và chị N có 02 con chung là cháu Đinh Ly L – sinh ngày 20/01/2017 và Đinh Minh K – sinh ngày 25/5/2018, chị N nuôi cũng được còn không anh nuôi cả hai con không yêu cầu chị N cấp dưỡng. Về tài sản, công nợ, anh không đề nghị Toà giải quyết. Do anh bận nên anh xin vắng mặt các buổi làm việc tại Toà cho đến khi vụ án kết thúc và không ký tá giấy tờ gì của Toà.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do; các đương sự không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ và đều không có ý kiến thay đổi khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội có quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết xử cho chị Lê Thị N được ly hôn anh Đinh Hải H. Về con chung: giao chị N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con là cháu Đinh Ly L – sinh ngày 20/01/2017 và Đinh Minh K – sinh ngày 25/5/2018; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh H. Chị N phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đợc thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đơng sự, H1 đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về phạm vi khởi kiện, quan hệ pháp luật: Chị Lê Thị N có đơn xin đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội giải quyết cho chị được ly hôn anh Đinh Hải H và giải quyết về con chung. Do vậy, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS.
Về thẩm quyền: Quan hệ pháp luật là tranh chấp Hôn nhân và gia đình, bị đơn là anh Đinh Hải H có đăng ký nơi cư trú: Thôn B, xã H, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Hội đồng xét xử đã mở phiên toà ngày 17/11/2025 nhưng vắng mặt của anh H nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, tại phiên toà hôm nay mặc dù được triệu tập hợp lệ lần thứ hai anh H vắng mặt không có lý do chính đáng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.
Về chứng cứ: Toà đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp đối với đương sự vắng mặt. Các đương sự đã được tiếp cận toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ do các đương sự cung cấp, Toà thu thập; không có ý kiến nào phản đối về chứng cứ; các đương sự không nộp tài liệu chứng cứ nào khác. Do vậy, những tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết, đủ điều kiện là chứng cứ theo Điều 92, Điều 93 của BLTTDS.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Đinh Hải H đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội (nay là xã H, thành phố Hà Nội) ngày 04/01/2016 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thì thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm thấy tiếng nói chung, hai vợ chồng sống ly thân 05 năm; chị N có đơn ly hôn và anh H có quan điểm đề nghị Toà giải quyết vắng mặt anh và anh H vắng mặt tất cả các buổi làm việc tại Toà. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: cuộc sống chung giữa vợ chồng chị N và anh H mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống; nay chị N có đơn ly hôn, chính quyền địa phương có ý kiến: đề nghị Tòa căn cứ vào thực tế và quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.
Xét thấy: cuộc sống hôn nhân của chị N và anh H mâu thuẫn đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt; đồng thời anh H không có ý kiến quan điểm gì nên xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị N là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
[3] Về con chung: Chị Lê Thị N và anh Đinh Hải H có 02 con chung là cháu Đinh Ly L – sinh ngày 20/01/2017 và Đinh Minh K – sinh ngày 25/5/2018.
Xét về điều kiện chăm sóc, môi trường sinh hoạt và nguyện vọng của các cháu thì Hội đồng xét xử thấy: chị N là giáo viên, anh H là lao động tự do; chị N và anh H đều đang ở nhờ nhà bố mẹ đẻ nên về chỗ ở, điều kiện kinh tế ngang nhau. Xong cháu L, cháu K nhiều năm nay sinh hoạt, học tập ổn định tại quê ngoại (phường T, TP.) và có quan điểm xin ở với mẹ. Hơn nữa, chị N là giáo viên nên việc chăm sóc, giáo dục con sẽ phù hợp hơn so với anh H. Đồng thời anh H cũng có quan điểm nếu chị N nuôi cả hai con cũng được. Đại diện chính quyền địa phương có ý kiến: đề nghị Toà căn cứ thực tế và quy định pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi, sự phát triển tâm sinh lý của trẻ nhỏ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao chị N nuôi con là phù hợp, đảm bảo cho các cháu được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nhất là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị N không đề nghị giải quyết tiền cấp dưỡng nên tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh H cho đến khi có thay đổi khác; anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản, công nợ chung: Chị Lê Thị N và anh Đinh Hải H không đề nghị Tòa giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Lê Thị N phải nộp án phí ly hôn. Các đương sự đều được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N được ly hôn anh Đinh Hải H.
- Về con chung: Chị Lê Thị N và anh Đinh Hải H có 02 con chung. Khi ly hôn, giao chị N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con chung là cháu Đinh Ly L – sinh ngày 20/01/2017 và Đinh Minh K – sinh ngày 25/5/2018; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh H cho đến khi có thay đổi khác. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị Lê Thị N và anh Đinh Hải H đều không đề nghị Toà giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị N phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0012994 ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 12 – Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thiện |
Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 98/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BAHNGĐ - ST
