TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 5 - 2025
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư
- - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể
- Ông Bùi Văn Hồng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 35/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 88/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến A, sinh năm 1993; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang sinh sống và lao động tại Hàn Quốc. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án chị Phạm Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Tiến A tự do tìm hiểu, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 03/02/2016 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian đến khoảng năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Sau đó, anh A đi lao động tại Hàn Quốc đến nay chưa về nước. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, không còn tiếng nói chung, lối sống sinh hoạt trái ngược nhau nên thường xuyên cãi vã, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng trở nên xa cách. Hiện nay, vợ chồng không còn liên lạc, quan tâm gì đến nhau. Chị H đã nhiều lần yêu cầu anh A cung cấp thông tin, địa chỉ làm việc ở nước ngoài nhưng anh A không cung cấp. Hiện tại, chị H xác định cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh A.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Diệu N, sinh ngày 13/7/2016, hiện đang sống với ông, bà nội. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh A phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành xác minh và làm việc với bố đẻ của anh Nguyễn Tiến A là ông Nguyễn Xuân T; Địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Ông T cung cấp thông tin như sau:
Chị H và anh A kết hôn tự nguyện tại địa phương, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng do hoàn cảnh kinh tế gia đình nên tháng 8/2019, anh A đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc từ đó đến nay chưa về nước. Quá trình chung sống, khoảng năm 2019 thì ông thấy vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nhưng cụ thể như thế nào thì ông không biết. Anh Tiến A có liên lạc với gia đình nhưng không cho gia đình biết địa chỉ cụ thể nên không thể cung cấp cho Tòa án được. Việc chị H xin ly hôn thì vợ chồng đã có trao đổi, bàn bạc thống nhất với nhau về điều kiện, hoàn cảnh mỗi bên và thống nhất ly hôn. Gia đình đã thông báo cho anh A về các nội dung khởi kiện của chị H. Trong vụ án này, gia đình không có ý kiến gì về việc chị H xin ly hôn anh A. Còn đối với con chung là cháu Nguyễn Ngọc Diệu N, gia đình ông có nguyện vọng được giao cháu N cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian anh A ở nước ngoài thì ông tự nguyện chăm sóc cháu N thay anh A cho đến khi anh về nước.
Ngoài ra, anh A đã được tiếp cận đầy đủ các tài liệu do chị H giao nộp cũng như các thông báo làm việc và văn bản thủ tục tố tụng khác của Tòa án. Vì vậy, anh A xin được xét xử vắng mặt và ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho bố đẻ là ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1967; Địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình 2014; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí, chấp nhận yêu cầu của các đương sự về việc xin ly hôn, xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Tiến A. Về vấn đề con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Diệu N, sinh ngày 13/7/2016 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Tiến A được quyền đi lại, thăm nom con chung mà không ai được phép cản trở. Anh Tiến A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên miễn xem xét. Về án phí: Buộc chị Phạm Thị H phải chịu án phí giải quyết vụ án ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Tiến A đang sống và làm việc tại Hàn Quốc, không có địa chỉ cụ thể. Tuy nhiên, Tòa án đã thông qua gia đình để thu thập đầy đủ ý kiến anh A đối với việc giải quyết ly hôn. Theo công văn số 270/QLXNC-Đ1 ngày 17/3/2025 của Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh - Công an tỉnh H thì anh Nguyễn Tiến A đã xuất cảnh lần cuối ngày 07/8/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung là đúng theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Do điều kiện công việc nên anh A đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu liên quan đến vụ án đề nghị Tòa án gửi về cho bố đẻ là ông Nguyễn Xuân T để giao nhận các tài liệu liên quan đến vụ án. Chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị H và anh A theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Tiến A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 03/02/2016 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh A là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian đến năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Sau đó, anh A đi lao động tại Hàn Quốc đến nay chưa về nước. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, không còn tiếng nói chung, lối sống sinh hoạt trái ngược nhau nên thường xuyên cãi vã, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng trở nên xa cách. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, nay vợ chồng không liên lạc, quan tâm đến nhau, đồng thời không có gì biện pháp gì để hàn gắn. Nay chị H xác định cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên mong muốn được ly hôn. Qua xác minh tại địa phương thông qua gia đình của anh T1 cũng thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nữa, mỗi người đều đã có cuộc sống riêng nên chị H xin ly hôn thì anh A đồng ý.
Xét thấy mục đích hôn nhân là xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, tiến bộ, vợ chồng phải tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân giữa chị H và anh A không còn đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng. Hiện tại, các đương sự đều tự nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, không còn tình cảm với nhau và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng nên mong muốn ly hôn. Xét thấy, yêu cầu của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật. Vợ chồng sống mỗi người một nơi không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị H.
[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có một con chung là Nguyễn Ngọc Diệu N, sinh ngày 13/7/2016, hiện đang sống với ông, bà nội. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị Đ (là bố mẹ của anh A) có đơn nguyện vọng giao con chung cho anh A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, trong thời gian anh A ở nước ngoài thì ông, bà tự nguyện chăm sóc cháu N thay anh A cho đến khi anh về nước. Xét thấy, nguyện vọng của cháu Nguyễn Ngọc Diệu N muốn được sống với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Mặt khác, hiện nay anh Nguyễn Tiến A đang sinh sống và lao động ở nước ngoài, không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, để đảm bảo sự ổn định, quyền lợi về mọi mặt, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con và đảm bảo quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên thì giao cháu Nguyễn Ngọc Diệu N cho chị H được chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật, với nguyện vọng của con chung và điều kiện hoàn cảnh của mỗi bên. Anh Nguyễn Tiến A được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở và không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39, 227, 228, 273, 464, 469, 479; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Phạm Thị H. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Tiến A.
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc Diệu N, sinh ngày 13/7/2016 cho chị Phạm Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Tiến A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở và không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Buộc chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo giấy thu tiền số [...] ngày 21/02/2025 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Minh Thư |
Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 98/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị H yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Tiến A
