|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
|
Bản án số: 98/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 6 - 2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Rực
Các Hội thẩm nhân dân:
- . Bà Võ Thị Bời.
- . Bà Nguyễn Thị Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thư- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích H- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 336/2025/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2025/QÐST-HNGĐ ngày 06/8/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ L- sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ A X, xã V, thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoài L1- sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ A X, xã V, thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải có tại hồ sơ, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L trình bày: Tôi (L) và anh Nguyễn Hoài L1 tự nguyện kết hôn năm 2003, đăng ký kết hôn tại UBND xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Chúng tôi có 02 con chung là Nguyễn Hoài Nhật L2- sinh ngày 05/9/2003 và Nguyễn Ngọc Ái L3- sinh ngày 21/7/2014. Cuộc sống chung thường xuyên mâu thuẫn vì quan điểm sống bất đồng, anh L1 không chịu làm ăn lại còn thường xuyên chửi bới, đánh đập vợ, tôi nhiều lần góp ý, tha thứ nhưng anh L1 không thay đổi. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn, tôi yêu cầu ly hôn.
Về con chung, có 02 con chung, trong đó con đầu đã thành niên, khỏe mạnh nên tôi không có ý kiến gì; tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên Nguyễn Ngọc Ái L3, tôi không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Chúng tôi không có tài sản chung, không có nợ chung.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là ông Nguyễn Hoài L1 để lấy lời khai, tham gia hòa giải nhưng ông L1 đều không có mặt để làm việc theo giấy triệu tập của Tòa nên Tòa án không lấy được lời khai của ông L1 và cũng không hòa giải được vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Mỹ L là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Hoài L1 là bị đơn đã được Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Mặc dù không lấy được lời khai của bị đơn và tại phiên tòa bị đơn cũng vắng mặt nhưng theo lời khai của nguyên đơn thì bà L, ông L1 kết hôn tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa cấp chứng nhận kết hôn số 02 ngày 02/01/2003. Nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Nguyễn Hoài L1 được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án bà L giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông L1. Theo lời khai của bà L thì nhiều năm gần đây vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, kình cãi vì ông L1 gây nợ nần, không chịu làm ăn lại còn đánh, chửi vợ và hai người đã sống ly thân, nay nhận thấy cuộc sống chung không hạnh phúc, tình cảm không còn nên bà L yêu cầu ly hôn. Như vậy mâu thuẫn giữa bà L, ông L1 đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, ông L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết việc ly hôn giữa hai người nhưng ông L1 đều không có mặt để làm việc theo giấy triệu tập của Tòa. Điều đó chứng tỏ ông L1 không quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này nữa. Việc bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hoài L1 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của bà L.
[3] Về con chung: Vợ chồng bà L, ông L1 có hai con chung, trong đó con đầu đã thành niên, khỏe mạnh; bà L không có ý kiến gì. Con chưa thành niên, theo bà L thì từ khi sinh đến giờ con luôn sống cùng mẹ. Mặt khác, cháu L3 có lời khai muốn được sống cùng với mẹ nếu ba, mẹ ly hôn. Do vậy giao con chung chưa thành niên Nguyễn Ngọc Ái L3- sinh ngày 21/7/2014 cho bà Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con, bà L không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung: Bà L xác định tài sản chung, nợ chung không có nên Tòa không xét.
Bị đơn ông Nguyễn Hoài L1 đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án để trình bày ý kiến về việc kiện của nguyên đơn và Tòa án cũng không hòa giải được vụ án. Vì vậy không có cơ sở để giải quyết yêu cầu của ông Nguyễn Hoài L1.
[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn với ông Nguyễn Hoài L1.
- - Về con chung: Giao con chung chưa thành niên là Nguyễn Ngọc Ái L3- sinh ngày 21/7/2014 cho bà Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên; bà L không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn Hoài L1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Vì lợi ích của con, khi cần thiết bà L, ông L1 đều có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ L xác định tài sản chung, nợ chung không có nên không xét.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà L đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004021 ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà Nguyễn Thị Mỹ L đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án, để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: THẨM TÒA
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN Nguyễn Trọng Rực |
Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 98/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Mỹ L - Nguyễn Hoài L1
