TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11/12/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Nhạ, ông Võ Quốc Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh, Thư ký TANDkhu vực 3 - Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh tham gia phiên Tòa: Bà Võ Thị Lĩnh– Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Tĩnh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 51/2025/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 27/11/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Sỹ G, sinh năm 1983. Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
Bị đơn: Chị Trần Thị Minh T, sinh năm 1985. Nơi ĐKTT : Thôn C, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Chỗ ở hiện nay: Số nhà A, ngõ E, ngách E, phường B, thành phố Hà Nội. Xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Sỹ G trình bày:
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Sỹ G tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn với chị Trần Thị Minh T tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã T, tỉnh Hà Tĩnh) vào ngày 10/11/2008. Sau khi kết hôn được một thời gian, đến năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay anh G xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn với chị T.
Về con chung: Anh Nguyễn Sỹ G và chị Trần Thị Minh T có con chung là cháu Nguyễn Trần Phương A, sinh ngày 28/11/2008. Anh G có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Sỹ G không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Trần Thị Minh T trình bày:
1
Các nội dung mà anh Nguyễn Sỹ G trình bày về quan hệ hôn nhân, về con chung, là đúng thực tế. Anh G yêu cầu ly hôn, chị T không đồng ý ly hôn vì trước đây chị đã làm đơn ly hôn nhưng anh G không đồng ý, nay chị đã nhiều tuổi nên chị không muốn ly hôn.
Về con chung: Chị T đồng ý để anh G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nếu phải ly hôn, hơn nữa cháu có nguyện vọng muốn được ở với bố thì chị cũng đồng ý với nguyện vọng của cháu.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết một số tài sản chung, nợ chung bao gồm: 04 con bò anh G đã bán trị giá 50.000.000 đồng; số tiền 30.000.000 đồng anh G còn nợ của em trai chị T; công sức tu sửa nhà, mua sắm đồ dùng trong gia đình.
Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật TTDS, bị đơn chị Trần Thị Minh T không nộp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án là chưa thực hiện đảm bảo quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật TTDS.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227 Bộ luật TTDS, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Sỹ G, cho anh G ly hôn chị T.
Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của anh G, cho anh G trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, chị T có quyền được thăm nom con chung không ai được cản trở. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS, điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về “mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án” buộc anh G phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Sỹ G có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Trần Thị Minh T. Chị Trần Thị Minh T đăng ký thường trú tại thôn C, xã T, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; điều 4 Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2
[1.2]. Về quan hệ pháp luật: Xét đơn khởi kiện của anh Nguyễn Sỹ G yêu cầu được ly hôn chị Trần Thị Minh T và yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau ly hôn do đó xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3]. Về việc vắng mặt đương sự: Chị Trần Thị Minh T có đơn xin vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên Tòa nên vụ án không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 điều 207, khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Sỹ G và chị Trần Thị Minh T đăng ký kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã T), tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 10/11/2008 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian, anh G và chị T phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Vợ chồng đã không còn sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, giúp đỡ nhau, cuộc sống chung, quan hệ hôn nhân thực tế đã không tồn tại trong một thời gian dài. Do đó có căn cứ để khẳng định tình trạng của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh G là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Sỹ G và chị Trần Thị Minh T có con chung là Nguyễn Trần Phương A, sinh ngày 28/11/2008. Anh G có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc con chung sau ly hôn và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con, chị T đồng ý để anh G trực tiếp chăm sóc con chung và cháu Phương A có nguyện vọng được ở với bố nếu bố mẹ ly hôn. Do đó giao con chung là cháu Nguyễn Trần Phương A cho anh G trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi người trực tiếp nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chị Trần Thị Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Sỹ G không yêu cầu giải quyết. Chị Trần Thị Minh T có yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Ngày 12/11/2025 Tòa án đã yêu cầu chị T cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến tài sản chung, nợ chung để Tòa án xem xét đối với yêu cầu của chị T nhưng chị T không nộp và cũng không có ý kiến gì đối với nội dung này. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung, nợ chung trong vụ án này, nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
[3]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Sỹ G phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và danh mục án phí kèm theo.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự thực hiện quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 271; khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
3
[5]. Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình giải quyết, cũng như tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy ý kiến của Viện Kiểm sát là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147; khoản 2 điều 207, khoản 1 Điều 227, Điều 271; khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và danh mục án phí kèm theo, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Sỹ G: Anh Nguyễn Sỹ G ly hôn với chị Trần Thị Minh T.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Nguyễn Trần Phương A, sinh ngày 28/11/2008 cho anh Nguyễn Sỹ G trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi người trực tiếp nuôi con. Chị Trần Thị Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết trong vụ án này, nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
- Về án phí: Anh Nguyễn Sỹ G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là300.000 đồng theo biên lai số 0000282 ngày 15/10/2025 của thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Anh Nguyễn Sỹ G đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Sỹ G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Trần Thị Minh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Anh Tú |
4
5
Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 98/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa anh Nguyễn Sỹ Giang và chị Trần Thị Minh Thơm
