Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH-TP . HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

----------

Bản án số: 98/2025/HNGĐ-ST

Ngày 04/4/2025

" V/v ly hôn”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân : Ông Kiều Xuân Mai

Ông Lê Đình Khoát

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội: Bà Đỗ Thị Thùy Anh-Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 37/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 về việc “ Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXX-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1987
  2. Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện S, Hà Nội.

  3. Bị đơn : Anh Trương Văn C, sinh năm 1991
  4. Địa chỉ: Thôn K, xã V, huyện M, Hà Nội.

Có mặt chị L, vắng mặt anh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/02/2025 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:

-Về hôn nhân: Chị và anh Trương Văn C đăng ký kết hôn ngày 12/9/2024 tại UBND xã V, huyện M, Hà Nội. Sau khi cưới chị về gia đình anh C làm dâu, vợ chồng ở chung cùng với gia đình anh C. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 1 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do mâu thuẫn giữa mẹ chồng, nàng dâu; anh C thường xuyên rượu chè không quan tâm đến gia đình. Vợ chồng xảy ra mâu thuẫn bản thân chị và gia đình hai bên đã khuyên bảo nhiều nhưng quan hệ vợ chồng vẫn không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

-Về con chung: Vợ chồng không có con chung. Ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/3/2025 bị đơn là anh Trương Văn C trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận như chị L trình bày về thời gian, điều kiện kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng sống được khoảng 1 đến 2 tháng thì chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, không quay về nhà anh nữa. Anh và gia đình đã gọi chị L quay về để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị L kiên quyết không về. Nay chị L làm đơn xin ly hôn, anh không đồng ý vì anh vẫn còn tình cảm với chị L còn nếu chị L kiên quyết ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

-Về con chung: Vợ chồng anh không có con chung.

-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình. Xử:

  • +Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Trương Văn C.
  • +Về con chung: Không có.
  • +Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • +Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

-Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình điều tra anh C có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị L và anh Trương Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 12/9/2024 tại UBND xã V, huyện M, Hà Nội. Do vậy, cuộc hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do trong cuộc sống vợ chồng sống không có sự tin tưởng lẫn nhau, thiếu sự quan tâm chia sẻ với nhau. Tại phiên tòa chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn. Đối với anh C vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra anh không đồng ý vì anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn. Tuy nhiên bản thân anh xác định anh và gia đình đã động viên khuyên chị L quay về để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc nhưng chị L kiên quyết không quay về. Như vậy thấy việc anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh không có biện pháp nào để níu kéo được cuộc hôn nhân của anh chị, hiện anh chị sống ly thân mỗi người mỗi nơi, không ai quan tâm đến ai. Do vậy, cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không

đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L, cho chị được ly hôn anh C là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung:

Quá trình điều tra anh, chị đều xác định vợ chồng không có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

[3] Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị L, anh C không đề nghị giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28,35, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51,56 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ các Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Trương Văn C.
  2. Về con chung: Không có
  3. Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Chị L phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh theo Biên lai số 0053812 ngày 17/02/2025.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị L được quyền kháng cáo. Anh C vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAHN
  • -VKSNDH. Mê Linh.
  • -Chi cục THADS H. Mê Linh.
  • -UBND xã Đại Thịnh.
  • -Các đương sự.
  • -Lưu HS, VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 98/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lý và anh Cường kết hôn, do mâu thuẫn nên chị Lý có đơn ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger