TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2025/DS-ST Ngày: 24-6-2025 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Hữu Bình.
- Ông Vũ Hòa Ân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 24/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 537/2023/TLST- DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXXST-DS ngày 13/5/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị C, sinh năm 1956; hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Tấn H, sinh năm 1962; nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 14/11/2023).
2. Bị đơn: Ông Từ Chí L, sinh năm 1962; hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Phan Tấn K, sinh năm 1975; hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
3.2. Ông Phan Tấn T, sinh năm 1978; hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
3.3. Ông Võ Văn S, sinh năm 1969; hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
3.4. Ông Huỳnh Tấn H, sinh năm 1962; nơi cư trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
3.5. Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Đại diện nguyên đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H có mặt tại phiên toà, bị đơn ông Từ Chí L cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phan Tấn T được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phan Tấn K, ông Võ Văn S và UBND huyện D vắng mặt và đã có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 27/10/2023, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 16/01/2025, quá trình tố tụng giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn trình bày:
Năm 1985, nguyên đơn bà C đến huyện D để sinh sống và khai phá được một phần đất tại xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Sau này bà C đăng ký, kê khai và được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00585 QSDĐ/QĐ-UB ngày 07/8/2002 cho hộ bà Phan Thị C trong đó có thửa đất số 51, tờ bản đồ số 33 có diện tích 12.025m² có địa chỉ tại ấp C, xã M, huyện D. Hộ gia đình bà C tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm có: Bà Phan Thị C, con bà C tên Phan Tấn K, sinh năm 1975 và Phan Tấn T, sinh năm 1978 có cùng địa chỉ tại ấp C, xã M, huyện D. Chồng của bà C tên Châu Văn N. Tuy nhiên, nguyên đơn không rõ năm sinh, năm mất của ông N, hiện nay ông N cư trú ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết thì nguyên đơn không rõ. Bà C và ông N sống chung với nhau từ năm 1974, đến năm 1978 sau khi sinh con Phan Tấn T thì bà C và ông N không còn chung sống với nhau.
Quá trình sử dụng đất, bà C sử dụng thửa đất số 51 nói trên liên tục từ năm 1985 đến năm 2002. Năm 2002, bà C để cho ông Huỳnh Tấn H canh tác và trồng cây cao su trên đất cho đến nay.
Tại Đơn khởi kiện bổ sung ngày 16/01/2025, nguyên đơn bà Phan Thị C yêu cầu ông Từ Chí L trả lại phần đất có tổng diện tích 179,1m² tại thửa đất số 51, tờ bản đồ số 33 có địa chỉ tại ấp C, xã M, huyện D cho bà Phan Thị C và 02 người con là Phan Tấn K và Phan Tấn T. Diện tích đất 179,1m² được xác định tại Mảnh trích lục địa chính số 1381-2024 ngày 25/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Diện tích đất tranh chấp nêu trên là của nguyên đơn bà C, thuộc một phần của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 33 có địa chỉ tại ấp C, xã M, huyện D và đã được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ 00585 QSDĐ/QĐ-UB ngày 07/8/2002 cho hộ bà Phan Thị C. Diện tích đất tranh chấp này có nguồn gốc từ việc nguyên đơn bà C khai phá từ năm 1985 nhưng không sử dụng vì thấy rằng là đất rừng, khó canh tác nên để đất trống. Đến năm 2002, khi bà C cho ông H trồng cây cao su trên thửa đất số 51 thì ông H cũng không canh tác, sử dụng phần đất này mà để đất rừng y như bà C trước đây. Đến khoảng năm 2018, ông Từ Chí L đã thực hiện cày đất, ban ủi phần đất có diện tích 179,1m² đang có tranh chấp và lấn sang thửa đất số 51 của nguyên đơn, đồng thời ông L còn trồng 02 cây cao su trên đất.
Qua xem xét thẩm định tại chỗ xác định: Trên đất tranh chấp có 02 cây cao su được ông Từ Chí L trồng khoảng 03 năm tuổi, nguyên đơn yêu cầu ông Từ Chí L phải tự thanh lý, di dời 02 cây cao su này. Đối với 02 cây trụ điện, kích thước trụ 20cm x 20cm x 4m, các trụ điện này được ông Võ Văn S là người có đất ở phía trong thửa đất số 51 của nguyên đơn có xin nguyên đơn đi nhờ 02 trụ điện qua đất vào năm 2023. Nguyên đơn chưa đồng ý nhưng ông S tự ý dựng 02 trụ điện trên đất. Đối với 02 trụ điện này, nguyên đơn không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, nếu cần sau này nguyên đơn sẽ yêu cầu giải quyết ở một vụ án khác theo quy định.
Đối với kết quả định giá tài sản tranh chấp theo Biên bản định giá tài sản ngày 18/12/2024 thì nguyên đơn đồng ý.
Nguyên đơn đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của TAND huyện Dầu Tiếng, đồng ý với M trích lục địa chính số 1381-2024 ngày 25/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D, không yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ, không yêu cầu đo đạc lại đối với phần đất tranh chấp.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Đơn khởi kiện ngày 27/10/2023; Đơn khởi kiện bổ sung ngày 16/01/2025; Bản sao Căn cước, bản photo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đơn yêu cầu hỗ trợ gửi tài liệu chứng cứ, đơn yêu cầu không hòa giải theo Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án, đơn yêu cầu không hòa giải.
Quá trình tố tụng, bị đơn ông L trình bày: Quá trình tố tụng, TAND huyện Dầu Tiếng đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng để ông L biết về việc TAND huyện Dầu Tiếng có thụ lý, giải quyết vụ án theo đơn khởi kiện của bà C. Tuy nhiên, ông L không cung cấp ý kiến cho Tòa án.
Chứng cứ ông L cung cấp: Bản photo Căn cước công dân; bản photo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/5/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H trình bày.
Giữa bà C và ông H có mối quan hệ là chị em bạn dì, má của bà C là chị gái má của ông H.
Diện tích đất tranh chấp 179,1m² được xác định tại Mảnh trích lục địa chính số 1381-2024 ngày 25/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Diện tích đất trên là của nguyên đơn bà Phan Thị C, thuộc một phần thửa đất số 51, tờ bản đồ số 33 có địa chỉ tại ấp C, xã M, huyện D và đã được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ 00585 QSDĐ/QĐ-UB ngày 07/8/2002 cho hộ bà Phan Thị C. Diện tích đất này có nguồn gốc từ việc nguyên đơn bà C khai phá từ năm 1985 nhưng không sử dụng vì thấy rằng là đất rừng, khó canh tác nên để đất trống từ năm 1985 đến nay. Bà C để cho ông H canh tác thửa đất số 51 từ khoảng năm 2000, ban đầu là trồng cây mỳ, sau đó là trồng cây cao su trên đất cho đến nay. Tuy nhiên, đối với diện tích đất 179,1m² mà hiện nay đang có tranh chấp với ông Từ Chí L thì ông H cũng không canh tác, sử dụng do thấy là đất rừng, khó canh tác nên để đất rừng, khoảng năm 2018 thì ông L cày đất và trồng cây cao su trên đất tranh chấp. Ông H đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/5/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông K trình bày
Ông K là con trai của bà Phan Thị C, cũng có quen biết với ông Từ Chí L. Bà Phan Thị C có 02 người con là Phan Tấn K và Phan Tấn T có cùng địa chỉ thường trú tại ấp C, xã M, huyện D. Bà C có chồng tên Châu Văn N, từ sau năm 1978, ông N đi đâu, làm gì và hiện nay còn sống hay đã chết thì ông K và gia đình không rõ. Bà C và ông N sống chung với nhau từ năm 1974, đến năm 1978 thì bà C và ông N không còn chung sống với nhau, ông N bỏ đi đâu, làm gì, còn sống hay chết hiện nay gia đình không biết.
Trước yêu cầu khởi kiện của bà C đối với ông Từ Chí L thì ông K đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà C.
Nguồn gốc của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 33 có địa chỉ tại ấp C, xã M, huyện D và đã được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ 00585 QSDĐ/QĐ-UB ngày 07/8/2002 cho hộ bà Phan Thị C cũng như phần đất hiện nay bà C có tranh chấp với ông L có diện tích 179,1m² được xác định tại Mảnh trích lục địa chính số 1381-2024 ngày 25/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D có nguồn gốc từ việc bà C khai phá từ năm 1985 nhưng không sử dụng vì thấy rằng là đất rừng, khó canh tác nên để đất trống. Đến khoảng năm 2020, ông Từ Chí L đã thực hiện cày đất, ban ủi ranh đất và lấn sang đất của nguyên đơn, đồng thời ông L trồng 02 cây cao su trên đất.
Chứng cứ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông K cung cấp: Bản photo Căn cước công dân; bản sao giấy khai sinh; đơn yêu cầu vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T trình bày: Quá trình tố tụng, TAND huyện Dầu Tiếng đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng để ông K biết việc thụ lý vụ án và tham gia tố tụng, tuy nhiên ông K không cung cấp ý kiến trình bày cho Tòa án.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/4/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông S trình bày
Ông Võ Văn S cư trú tại ấp C, xã M, huyện D từ khoảng năm 1980 đến nay. Ông S có mối quan hệ quen biết đối với ông Từ Chí L, bà Phan Thị C và ông Nguyễn Tấn H1, là người có đất ở phía trong thửa đất của bà C và ông L hiện nay đang có tranh chấp với nhau.
Ông S đồng ý với các kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của TAND huyện Dầu Tiếng, đồng ý với M trích lục địa chính số 1381-2024 ngày 25/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Khoảng năm 2022 hoặc 2023, ông S tiến hành lập trang trại nuôi vịt trên đất tại ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Để thuận tiện cho việc chăn nuôi, ông S có đến gặp ông Từ Chí L để xin đi nhờ đường điện qua đất và được ông L đồng ý. Ông S dựng cột điện và kéo dây từ đường giao thông nông thôn, tiếp đến là dựng đường điện cặp với ranh đất của bà C (đất ông H1 sử dụng), tiếp đó rồi mới đến phần đất mà hiện nay bà C và ông L có tranh chấp.
Ông S thấy ông L là người sử dụng đất tại phần đất tranh chấp được xác định theo Mảnh trích lục địa chính số 1381-2024 ngày 25/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D nên ông S xin ông L dựng 02 trụ điện có kích thước trụ 20cm x 20cm x 4m ở trên đất nên có xin ông L để đi nhờ đường điện và được ông L đồng ý. Sau khi ông S dựng 02 trụ điện nói trên thì có biết phía ông H1 với ông L có lời qua tiếng lại với nhau về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Bà C và ông H1 biết ông S có dựng trụ điện trên đất tranh chấp nhưng không có ai ngăn cản, phản đối. Đối với phần đất hiện nay bà C và ông L có tranh chấp với nhau, từ trước đến nay, ông S thấy ông Từ Chí L là người sử dụng đất, ranh đất giữa đất của ông L và bà C là hàng cây rừng và cho đến hiện nay vẫn còn cây rừng. Do thấy ông L là người sử dụng đất tranh chấp từ xưa cho đến nay nên ông S mới gặp ông L để xin đi nhờ đường điện. Bà Phan Thị C từ trước đến nay không thấy sử dụng phần đất tranh chấp, bà C để cho ông H1 là bà con, dòng họ gì đó của bà C canh tác, trồng cây cao su trên đất
Đối với 02 trụ điện của ông S trên đất tranh chấp, ông S không có yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ án này, đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Sau này, khi tòa án xét xử, giao đất cho ai thì ông S sẽ gặp người đó để thương lượng, giải quyết việc đi nhờ đường điện trên đất. Do ở xa, bận công việc nên tôi xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng giải quyết vụ án.
Chứng cứ ông S cung cấp: bản photo Căn cước công dân, bản photo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đơn yêu cầu vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện D có ý kiến:
Tại Công văn số 354/PTNMT-QLĐĐ ngày 27/6/2024 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện D thể hiện:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ 00585 QSDĐ/QĐ-UB ngày 07/8/2002 do UBND huyện D cấp cho bà Phan Thị C đối với phần đất thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ số 33 có địa chỉ tại xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương được cấp theo trình tự thủ tục quy định tại Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của T1 về hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính chính quy lập năm 1999, không đo đạc thực tế. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện việc ký liên ranh.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00462 QSDĐ/QĐ-UB ngày 10/5/2001 do UBND huyện D cấp cho hộ ông Từ Chí L đối với phần đất thuộc thửa đất số 52, tờ bản đồ 33 có địa chỉ tại xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương được cấp theo trình tự thủ tục quy định tại Luật đất đai ngày 14/7/1993 và Thông tư 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của T1 hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận được cấp theo bản đồ địa chính chính quy lập năm 1999, không do đạc thực tế. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện việc ký liên ranh.
Tại Công văn số 706/PTNMT-QLĐĐ ngày 11/12/2024 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện D thể hiện: Phần diện tích 12.219,4m² thuộc thửa đất số 51 chênh lệch so với diện tích 14.874m² thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ số 33 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ 00585 QSDĐ/QĐ-UB ngày 07/8/2002. Nguyên nhân là do trước đây giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên được cấp theo bản đồ địa chính lập năm 1999 không đo đạc thực tế nên có sự chênh lệch về diện tích.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, hòa giải và mở phiên tòa đúng quy định. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H1 có mặt tại phiên toà, bị đơn ông Từ Chí L cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phan Tấn T được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phan Tấn K, ông Võ Văn S và UBND huyện D vắng mặt và đã có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất".
Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,
[1] Nguyên đơn bà C khởi kiện yêu cầu bị đơn ông L có nghĩa vụ trả lại phần đất có diện tích 179,1m² có địa chỉ tại ấp C, xã M, huyện D. Xét thấy tài sản tranh chấp và nơi cư trú của các bên đương sự cùng có địa chỉ tại huyện D, tỉnh Bình Dương nên Căn cứ quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án có quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
[2] Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H1 có mặt tại phiên toà, bị đơn ông Từ Chí L cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phan Tấn T được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phan Tấn K, ông Võ Văn S và UBND huyện D vắng mặt và đã có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Quá trình tố tụng, nguyên đơn bà C xác định tranh chấp với bị đơn ông Lâm phần đất có diện tích 179,1m² thuộc một phần của thửa đất số 51 có địa chỉ tại xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương và được xác định tại Mảnh trích lục địa chính số 1381-2024 ngày 25/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Đồng thời, theo Đơn khởi kiện ngày 27/10/2023, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 16/01/2025 và trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân ông L trả lại diện tích đất 179,1m², không có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tài sản trên đất. Nguyên đơn thừa nhận diện tích đất tranh chấp 179,1m² thuộc một phần của thửa đất số 51 có địa chỉ tại xã M, huyện D được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ 00585 QSDĐ/QĐ-UB ngày 07/8/2002 cho bà Phan Thị C, đất có nguồn gốc do bà C khai phá từ năm 1985 nhưng không canh tác, sử dụng cho đến nay. Năm 2000, bà C cho ông H1 là người canh tác, trồng cây cao su trên thửa đất số 51 nhưng ông H1 cũng không canh tác, sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp 179,1m². Phần đất thuộc thửa đất số 51 hiện nay phía nguyên đơn và ông H1 đang trồng cây cao su được ngăn cách với phần đất tranh chấp có diện tích 179,1m² với bị đơn ông L bởi 01 hàng cây rừng và hiện trạng hàng cây này vẫn còn. Sự thừa nhận này của nguyên đơn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông S (người xin ông L đi nhờ 02 cây cột điện qua đất) và kết quả lấy lời khai của Tòa án đối với ông Đoàn Văn B và bà Vũ Thị Kim X là người đang canh tác, sử dụng đối với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 33 có địa chỉ tại ấp C, xã M, huyện D, là người có đất giáp ranh với thửa đất số 51 (đất bà C) và thửa đất số 52 (đất ông L), theo đó đều xác định nguyên đơn bà C và sau này là ông H1 đều không phải là người sử dụng phần diện tích đất tranh chấp từ năm 1985 cho đến nay. Do đó, có căn cứ xác định từ năm 1985 đến nay, nguyên đơn bà C, sau này từ năm 2000 là ông H1 đều không phải là người trực tiếp canh tác, quản lý, sử dụng diện tích đất 179,1m² tranh chấp mà người sử dụng diện tích đất trên là bị đơn ông L.
[3.2] Tại Công văn số 354/PTNMT-QLĐĐ ngày 27/6/2024 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện D thể hiện: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ 00585 QSDĐ/QĐ-UB ngày 07/8/2002 do UBND huyện D cấp cho bà Phan Thị C được cấp theo bản đồ địa chính chính quy lập năm 1999, không đo đạc thực tế. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện việc ký liên ranh. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00462 QSDĐ/QĐ-UB ngày 10/5/2001 do UBND huyện D cấp cho hộ ông Từ Chí L được cấp theo bản đồ địa chính chính quy lập năm 1999, không đo đạc thực tế. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện việc ký liên ranh. Như vậy, có căn cứ xác định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào số 00585 QSDĐ/QĐ-UB ngày 07/8/2002 do UBND huyện D cấp cho bà Phan Thị C đối với thửa đất số 51, tờ bản đồ số 33 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00462 QSDĐ/QĐ-UB ngày 10/5/2001 do UBND huyện D cấp cho hộ ông Từ Chí L đối với thửa đất số 52 tờ bản đồ số 33 có cùng địa chỉ tại ấp C, xã M, huyện D là không chính xác tuyệt đối. Từ đó dẫn đến việc các bên đương sự sử dụng đất trên thực tế không trùng khớp với diện tích, vị trí, ranh giới, mốc giới của phần đất khi được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, nếu chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ranh giới đất khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xác định quyền sử dụng đất và ranh giới đất thì sẽ không đảm bảo quyền của nguời đang sử dụng đất.
[3.3] Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà C yêu cầu ông L phải trả lại diện tích đất 179,1m² thuộc một phần của thửa đất số 51 tờ bản đồ số 33 có địa chỉ tại ấp C, xã M, huyện D là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận..
[3.4] Đối với tài sản trên đất: Trên diện tích đất 179,1m² có 02 trụ điện có kích thước trụ 20cm x 20cm x 4m và 02 cây cao su trên đất khoảng 03 năm tuổi. Nguyên đơn không có đơn khởi kiện, không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đồng thời, nếu nguyên đơn có đơn khởi kiện tranh chấp đối với tài sản trên đất thì cũng không được chấp nhận do yêu cầu về tranh chấp quyền sử dụng đất cũng không được chấp nhận như đã nhận định ở trên.
[4] Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông S và UBND huyện D là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông K, ông H1 là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc là 3.704.828 đồng, chi phí Định giá tài sản tranh chấp là 1.000.000 đồng, tổng số tiền chi phí tố tụng là 4.704.828 đồng, nguyên đơn bà C đã nộp tạm ứng toàn bộ số tiền trên. Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên nguyên đơn bà C phải chịu toàn bộ số tiền 4.704.828 đồng và đã nộp xong.
[6] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng về phần các thủ tục tố tụng, diễn biến tại phiên tòa và nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Bị đơn bà C là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 5, 26, 35, 39, 147, 227, 228, 244, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 4,5, 6, 26, 31, 37, 131, 132, 133, 134, 135, 136, 138, 235, 236 của Luật Đất đai 2024;
- Căn cứ các Điều 1, 2, 3, 4, 73 của Luật Đất đai năm 1993;
- Căn cứ các Điều 4, 5, 6, 26, 31, 235, 236 của Luật Đất đai năm 2024;
- Căn cứ các Điều 166, 169, 175, 176, 189, 190 của Bộ luật Dân sự năm 2015
- Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị C đối với ông Từ Chí L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với phần đất có diện tích 179,1m² thuộc một phần của thửa đất số 51 tờ bản đồ số 33 có địa chỉ tại ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
2. Chi phí tố tụng: Tổng số tiền chi phí tố tụng là 4.704.828 đồng (bốn triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn tám trăm hai mươi tám đồng), nguyên đơn bà Phan Thị C phải chịu toàn bộ số tiền 4.704.828 đồng (bốn triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn tám trăm hai mươi tám đồng) và đã nộp xong.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Bà Phan Thị C phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Do là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
3.2. Bị đơn ông Từ Chí L không phải chịu án phí.
4. Quyền kháng cáo:
4.1. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 24/6/2025).
4.2. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
Bản án số 98/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 98/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị C Từ Chí L tranh chấp quyền sử dụng đất
