|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 98/2025/DS-ST Ngày 03- 4 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Xuân Trúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Liêm
Bà Vũ Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm - là Thư ký viên Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thông Hiểu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 tháng 3 và ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 604/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2025/QĐXXST-DS ngày 25/02/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị H. Sinh năm: 1982 – Chủ hộ kinh doanh cá thể G; Địa chỉ: Số A đường N, Khóm H, Phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Tố N. Sinh năm: 1995.
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Trang Văn Đ
Bà Nguyễn Thị P
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã Đ, Tp ., tỉnh Cà Mau. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn trình bày: Từ năm 2023, bà Trần Thị H có có giao dịch mua bán thức ăn, thuốc thủy sản cho ông Trang Văn Đ, bà Nguyễn Thị P để ông Đ, bà P nuôi tôm. Tính đến ngày 10/08/2023 sau khi đối chiếu công nợ, ông Đ, bà P còn nợ lại số tiền 219.292.000 đồng (Hai trăm mười chín triệu, hai trăm chín mươi hai nghìn đồng). Tại đơn khởi kiện bà H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trang Văn Đ, bà Nguyễn Thị P trả cho tôi số tiền 219.292.000 đồng không yêu cầu lãi.
Tại bản trình bày ý kiến và tại biên bản ghi nhận ý kiến của ông Trang Văn Đ, bà Nguyễn Thị P thể hiện:
Thừa nhận ông Đ và P có giao dịch mua bán thức ăn, thuốc thủy sản trực tiếp với ông K, bà X (đại L1) từ năm 2020 đến năm 2023 không có giao dịch với bà Trần Thị H và cũng không biết bà H nhưng ngày 24/12/2023 có ký tên vào biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ số tiền nợ là 219.292.000đ do bà Trần Thị H chủ đại lý L1. Hiện ông Đ, bà P biết được bà H là chủ đại lý Gia L nên vẫn thống nhất thanh toán toàn bộ số tiền 219.292.000đ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chưa đủ điều kiện để thanh toán một lần và do bận việc gia đình điều kiện đi lại khó khăn nên ông Đ, bà P xin vắng mặt tại các phiên hòa giải và xét xử vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật, không vi phạm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị căn cứ Căn cứ vào các Điều 357, 430, 433, 440 Bộ luật dân sự; Căn cứ Điều 26, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Căn cứ Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán số tiền 219.292.000đ. Về án phí dân sự sơ thẩm, đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án án Tòa án đã tống đạt triệu tập hợp lệ để xét xử nhưng ông Trang Văn Đ, bà Nguyễn Thị P có yêu cầu xin được xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 219.292.000đ trong quá trình mua bán thức ăn, thuốc thủy sản theo quy định pháp luật, do đó tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng mua bán, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là đúng quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Xét nội dung tranh chấp: Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao dịch mua bán thức ăn và thuốc thủy sản của các bên là có diễn ra trong thực tế đã được nguyên đơn bị đơn xác định. Hiện các bị đơn vẫn thừa nhận quá trình mua bán từ năm 2020 đến năm 2024 bị đơn còn nợ lại nguyên đơn số tiền 219.292.000 đồng đúng như bản đối chiếu công nợ ngày10/8/2023 ông Đ và bà P đã ký xác nhận với bà Trần Thị H chủ hộ kinh doanh cá thể G Cà Mau và hiện bị đơn vẫn thống nhất thanh toán toàn bộ số tiền trên. Qua xem xét Hội đồng xét xử thấy rằng giao dịch mua bán của các đương sự là phù hợp đúng qui định pháp luật biên bản ghi nhận ý kiến ông Lê Xuân K và bà Lê Thị X xác định khoản tiền ông Đ, bà P1 còn nợ quá trình mua bán thức ăn nuôi trồng thủy sản là tài sản của bà Trần Thị H – chủ hộ kinh doanh cá thể G Cà Mau, ông K, bà X là chồng và em gái bà H là nhân viên của cửa hàng G1 phụ trách giao hàng nên nợ của ông Đ, bà P là nợ của cửa hàng (do bà Trần Thị H - chủ hộ kinh doanh Gia Linh Cà Mau đại diện khởi kiện) không liên quan đến ông K, bà X nên buộc ông Đ, bà P phải thanh toán bà Trần Thị H chủ hộ kinh doanh cá thể G Cà Mau là hoàn toàn phù hợp.
- Về thời gian và phương thức thanh toán, nguyên đơn, bị đơn không thỏa thuận được nên việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét trong vụ án.
- Về án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 357, 430, 433, 440 Bộ luật dân sự; Căn cứ Điều 26, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Trang Văn Đ, bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị H Chủ hộ kinh doanh cá thể G Cà Mau số tiền là 219.292.000 đồng (Hai trăm mười chín triệu hại trăm chín mươi hai ngàn đồng).
Kể từ ngày bà Trần Thị H - Chủ hộ kinh doanh cá thể Gia Linh C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Trang Văn Đ, bà Nguyễn Thị P không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: ông Trang Văn Đ, bà Nguyễn Thị P phải nộp là 10.964.000 đồng (chưa nộp). Bà Trần Thị H không phải nộp, ngày 07/10/2024 đã dự nộp 5.482.000 theo biên lai số 0009394 được nhận lại khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Xuân Trúc |
Bản án số 98/2025/DS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 98/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào các Điều 357, 430, 433, 440 Bộ luật dân sự; Căn cứ Điều 26, Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Căn cứ Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Trang V, bà Nguyễn Th phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trần Thị H Chủ hộ kinh doanh cá thể Gsố tiền là 219.292.000 đồng (Hai trăm mười chín triệu hại trăm chín mươi hai ngàn đồng).
