Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2025/DS-PT

Ngày: 23 - 5 - 2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay

tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Quang Định

Các Thẩm phán:

  1. Ông Lê Văn Duy
  2. Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo là thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 04/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” do bản án dân sự sơ thẩm số: 285/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 38/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1964. Địa chỉ: B V, TP ., tỉnh Bình Định. (Có mặt)

Bị đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1973 và anh Trần Đắc T, sinh năm 1966. Đồng địa chỉ: E B, TP ., tỉnh Bình Định. (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Thị N1 hoạt động tại Văn phòng Công ty TNHH T1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Phan Văn L, sinh năm 1960. Địa chỉ: B V, TP ., tỉnh Bình Định. (Có mặt)

- Người kháng cáo: Chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T là đồng bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

· Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Giữa chị và vợ chồng chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T là chỗ quen biết nên chị có cho chị N, anh T mượn số tiền tổng cộng 2.070.000.000 đồng cụ thể: Ngày 09/11/2022 mượn 1.270.000.000 đồng, hẹn thời gian trả tiền là 30 ngày. Ngày 14/11/2022 mượn 300.000.000 đồng, thời gian trả tiền là 01 tháng. Ngày 06/12/2022 mượn 500.000.000 đồng. Khi mượn hai bên có viết giấy mượn tiền nhưng không thỏa thuận về lãi suất, các giấy mượn tiền đều do chị N tự viết và ký tên. Khi đến hạn trả nợ, chị N, anh T không trả tiền cho chị, chị đã nhiều lần gặp để đòi tiền nhưng chị N, anh T hẹn sau khi bán nhà xong sẽ trả nhưng đến nay vẫn chưa trả cho chị. Nay chị yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T phải trả cho chị số tiền gốc là 2.070.000.000 đồng và tiền lãi kể từ ngày 15/12/2022 cho đến khi vụ án được đưa ra xét xử theo mức lãi suất của Ngân hàng.

Bị đơn chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T trình bày:

Chị đồng ý có mượn tiền của chị Nguyễn Thị H nhiều lần cụ thể ngày ngày 09/11/2022 mượn 1.270.000.000 đồng, hẹn 30 ngày trả; ngày 06/12/2022 mượn 500.000.000 đồng, hẹn một vài ngày trả. Mục đích vay là để đáo hạn Ngân hàng. Đối với số tiền 300.000.000 đồng theo giấy mượn tiền ngày 14/11/2022 do chị ghi nhầm “Nguyễn Thị H” thành “Nguyễn Thị N2” nên chị đã bỏ giấy mượn tiền ngày 14/11/2022. Sau đó, chị mượn thêm chị H nên gộp chung vào ghi thành giấy mượn 500.000.000 đồng vào ngày 06/12/2022. Tổng cộng số tiền chị mượn của chị H là 1.770.000.000 đồng. Việc chị mượn tiền của chị H, anh T chồng chị có biết, mục đích sử dụng số tiền này để lo cho gia đình. Từ khi mượn đến nay, chị đã trả cho chị H 70.000.000 đồng tiền gốc và 10.000.000 đồng tiền lãi. Khi trả hai bên không viết giấy tờ và không có người làm chứng. Nay chị H yêu cầu vợ chồng chị trả 2.070.000.000 đồng chị không đồng ý. Chị khẳng định chị có mượn chị H 1.770.000.000 đồng và vợ chồng chị đồng ý trả chị H số tiền trên nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên chị xin trả ½ số tiền nợ gốc là 885.000.000 đồng và xin trả dần 10.000.000 đồng/tháng cho đến khi hết nợ; xin không trả tiền lãi chậm trả.

Trước khi xét xử phúc thẩm, bị đơn cung cấp cho Tòa án 02 giấy báo nợ của Ngân hàng TMCP C chuyển trả vào tài khoản Ngân hàng TMCP N3 của nguyên đơn, cụ thể: ngày 12/12/2022 chị N2 chuyển tiền cho chị H số tiền 78.100.000 đồng; ngày 23/12/2022 chị N2 chuyển tiền cho chị H số tiền 5.000.000 đồng; tổng cộng là 83.100.000 đồng để trả cho khoản nợ gốc và lãi của khoản vay 1.770.000.000 đồng, nhưng nội dung chuyển không ghi nội dung là gì. Tại phiên tòa, bị đơn khai đã nhiều lần trả nợ bằng tiền mặt cho nguyên đơn nhưng không nhớ rõ thời gian trả, trả bao nhiêu tiền và cũng không có tài liệu để chứng minh.

Anh Trần Đắc T hoàn toàn thống nhất như lời trình bày của chị N2, không bổ sung gì thêm và không có ý kiến khác.

Tại bản khai anh Phan Văn L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Anh là chồng của chị Nguyễn Thị H. Việc chị H cho vợ chồng anh T, chị N2 mượn tiền, anh không biết. Anh xác định số tiền vợ anh cho vợ chồng anh T, chị N2 mượn là tài sản riêng của chị H và chị H có toàn quyền định đoạt số tiền trên. Anh yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định pháp luật.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 285/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 35, 39, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468, 469, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
  2. Buộc chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Thị H số tiền là 2.086.922.000 đồng, trong đó tiền gốc là 1.770.000.000 đồng và tiền lãi là 316.922.000 đồng.

  3. Bác yêu cầu xin trả 885.000.000 đồng tiền gốc và xin trả dần 10.000.000 đồng/tháng cho đến khi hết nợ của chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T.
  4. Huỷ bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 01/2024/QĐ-BPKCTT ngày 06/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Trong thời hạn luật định, ngày 03/10/2024, bị đơn chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T có đơn kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo nhưng sau đó có đơn xin rút kháng cáo.

Tại phiên tòa nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Toà án cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng và vi phạm trong áp dụng pháp luật như: Thụ lý vụ án khi chưa đủ điều kiện khởi kiện, thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng, chưa làm rõ sự thật khách quan của vụ án, cấp sơ thẩm giải quyết vụ án vượt quá nội dung yêu cầu của người khởi kiện, tuyên xử lý phần tạm ứng chi phí tố tụng chưa phù hợp. Do đó, đề nghị huỷ bán án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án về giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của

pháp luật tố tụng. Về quan điểm giải quyết vụ án: Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ mới nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ nên không được chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án đúng pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T trong thời hạn nên được xem xét. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có kháng cáo nhưng sau đó có đơn xin rút kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử thấy rằng:

2.1 Về yêu cầu trả tiền nợ gốc: Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm; nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận vợ chồng chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T có vay và hiện còn nợ chị Nguyễn Thị H 1.770.000.000 đồng theo các giấy mượn tiền ngày 09/11/2022 và ngày 06/12/2022. Bị đơn xin được trả ½ số tiền nợ gốc là 885.000.000 đồng và xin trả dần 10.000.000 đồng/tháng cho đến khi hết nợ nhưng không được phía nguyên đơn chấp nhận. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T phải trả 1.770.000.000 đồng nợ gốc là có căn cứ.

Về yêu cầu tiền nợ lãi: Theo các giấy mượn tiền ngày 09/11/2022 và ngày 06/12/2022, các bên không thỏa thuận về lãi suất nhưng tại phiên toà sơ thẩm chị H và chị N thừa nhận việc vay tiền có lãi suất nhưng không thống nhất về mức lãi suất. Đây là trường hợp không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi nên lãi suất được xác định theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, tức là 10%/năm. Cụ thể:

- Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả từ ngày 10/12/2022 đến ngày 26/9/2024 là 21 tháng 16 ngày: 1.270.000.000 đồng x 10%/năm x 21 tháng 16 ngày = 227.894.000 đồng.

- Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả từ ngày 15/12/2022 đến ngày 26/9/2024 là 21 tháng 11 ngày: 500.000.000 đồng x 10%/năm x 21 tháng 11 ngày = 89.028.000 đồng.

Như vậy, chị N, anh T có nghĩa vụ trả cho chị H tiền lãi tổng cộng: 227.894.000 đồng + 89.028.000 đồng = 316.922.000 đồng.

Do đó, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, buộc Phạm Thị N, anh Trần Đắc T phải trả chị H số tiền còn nợ 2.086.922.000 đồng; trong đó: nợ gốc 1.770.000.000 đồng và nợ lãi 316.922.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định tại các Điều 463, 466, 468, 469, 470 Bộ luật Dân sự.

Tại giai đoạn phúc thẩm, chị N, anh T cung cấp 02 giấy báo nợ của Ngân hàng TMCP C chuyển trả nợ vào tài khoản của chị H tại Ngân hàng TMCP N3, cụ thể: ngày 12/12/2022 chuyển số tiền 78.100.000 đồng; ngày 23/12/2022 chuyển số tiền 5.000.000 đồng cho chị H; tổng cộng là 83.100.000 đồng để trả cho khoản nợ gốc và lãi của khoản vay 1.770.000.000 đồng cho chị H. Tuy nhiên, 02 giấy báo nợ thể hiện: “Nội dung giao dịch: PHAM THỊ NGA chuyen tien”, không thể hiện nội dung chị N chuyển tiền cho chị H trả vào khoản nợ nào. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn chị H xác nhận chị N có chuyển vào tài khoản của chị 02 lần với số tiền 83.100.000 đồng nhưng đây là số tiền chị N chuyển trả cho các khoản nợ trước chứ không phải khoản nợ của vụ kiện này; ngoài ra, bị đơn khai đã nhiều lần trả nợ bằng tiền mặt cho nguyên đơn nhưng không nhớ rõ thời gian trả, trả bao nhiêu tiền và cũng không có tài liệu để chứng minh; còn nguyên đơn không đồng ý đối với ý kiến của bị đơn nên không có cơ sở để xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Ý kiến phát biểu của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn tại phiên tòa là không có căn cứ nên không chấp nhận.

[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 285/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Căn cứ các Điều 35, 39, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 463, 466, 468, 469, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27, 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H;
  2. Buộc chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị H số tiền 2.086.922.000 đồng (Hai tỷ không trăm tám mươi sáu triệu chín trăm hai mươi hai ngàn đồng); trong đó: tiền nợ gốc 1.770.000.000 đồng và tiền nợ lãi 316.922.000 đồng.

  3. Không chấp nhận yêu cầu xin trả 885.000.000 đồng tiền gốc và xin trả dần 10.000.000 đồng/tháng cho đến khi hết nợ của chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T.
  4. Huỷ bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 01/2024/QĐ-BPKCTT ngày 06/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
  5. Về chi phí tố tụng: Chị Phạm Thị N và anh Trần Đắc T phải chịu 7.800.000 đồng chi phí giám định. Chị Nguyễn Thị H đã nộp tạm ứng 7.800.000 đồng nên chị Phạm Thị N, anh Trần Đắc T phải có nghĩa vụ hoàn trả cho chị Nguyễn Thị H số tiền tạm ứng 7.800.000 đồng.
  6. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị N và anh Trần Đắc T phải chịu 73.738.000 đồng. Chị Nguyễn Thị H không phải chịu, hoàn lại cho chị Nguyễn Thị H 36.700.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000877 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Phạm Thị N và anh Trần Đắc T phải chịu 300.000 đồng án phí, được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000717 ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
  7. Quyền và nghĩa vụ thi hành án:

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  8. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - TAND Tp. Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ung Quang Định

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Duy

Nguyễn Thị Hoài Xuân

Ung Quang Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2025/DS-PT ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 98/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H - Phạm Thị N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger