TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI Bản án số: 98/2025/DS-PT Ngày: 28/02/2025 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trọng;
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu Hà;
Bà Lê Thị Mai.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Bùi Minh Nghĩa, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 607/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1148/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ P, sinh năm 1955; trú tại: K, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- - Anh Nguyễn Quốc P1, sinh năm 1995; trú tại: K, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
- - Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1995; trú tại: Xóm M, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà P: Bà Nguyễn Thị T - Luật sư thuộc Công ty L3; địa chỉ: Số H, đường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Võ Văn H, sinh năm 1969 và bà Trương Thị T1, sinh năm 1969; đều trú tại: Khối V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
2.2. Ông Lê Trung H1, sinh năm 1971 và bà Phan Thị Như H2, sinh năm 1971; trú tại: Nhà số H, đường N, khối C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
2.3. Ông Lâm Văn T2, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967; trú tại: Nhà số A, đường N, khối C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An; địa chỉ: Số B, đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
3.2. Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố V; địa chỉ: Đường T, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
3.3. Ông Bùi Thanh H3, sinh năm 1950 và bà Trương Thị L1, sinh năm 1948; trú tại: K, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
3.4. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1949 và bà Trần Thị H4, sinh năm 1952; trú tại: K, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
3.5. Ông Hồ Thu Q và bà Nguyễn Thị H5; trú tại: K, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
3.6. Ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1964; trú tại: Số nhà B, ngõ A, đường P, khối C, phường Đ, thành phố V, Nghệ An.
Tại phiên tòa, bà P, anh P1, chị N, luật sư T, ông T2 và ông D có mặt còn các đương sự khác đều vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Năm 1993, bà P nhận chuyển nhượng thửa đất số 71, tờ bản đồ 02, diện tích 192m² với chiều dài 16m x chiều rộng 12m tại khối C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An của gia đình anh trai là ông Nguyễn Anh T4 và bà Viên Thị H6. Sau đó bà P đã chuyển nhượng cho ông Hồ Thu Q (hộ liền kề) 1m chiều dài. Diện tích còn lại của bà P là 15m x 12m = 180m². Năm 2013, UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP221662 đối với thửa đất trên cho bà P diện tích 110,03m² (chiều dài 10,36m, chiều rộng là 9,43m). Sau khi bà P làm việc với UBND thành phố V về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà chỉ có 110,03m², thiếu 70m² đất thì được UBND thành phố V trả lời là phần đất 39,6m² của bà đã được đưa vào làm đường dân cư. Việc UBND phường Đ và UBND thành phố V đưa đất của gia đình bà vào làm đường dân cư khi chưa có sự đồng ý của bà là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà. Ngoài ra các hộ liền kề cạnh nhà bà còn lấn chiếm đất của bà. Do đó bà Nguyễn Thị Lệ P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề sau:
- Buộc ông Lê Trung H1 và bà Phan Thị Như H2 trả lại cho bà P số diện tích đất đã lấn chiếm là 4,3m x 2,4m = 10,3m²;
- Buộc ông Võ Văn H và bà Trương Thị T1 trả lại cho bà P số diện tích đất đã lấn chiếm là 3,46 m x 2,4 m = 8,3m²;
- Buộc ông Lâm Văn T2 và bà Nguyễn Thị L trả lại cho bà số diện tích đất đã lấn chiếm là 4,51m x 2,4m = 10,8m²;
- Hủy Quyết định số 4385/QĐ-UBND ngày 24/7/2013 của UBND thành phố V về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP221662 do UBND thành phố V cấp cho bà Nguyễn Thị Lệ P ngày 24/7/2013;
- Công nhận 39,6m² diện tích đất thể hiện trên sơ đồ địa chính “Đường dân cư” là đất của bà Nguyễn Thị Lệ P;
- Hủy Quyết định số 7749/QĐ-UBND ngày 05/10/2011 của UBND thành phố V về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Lâm Văn T2, bà Nguyễn Thị L; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 592890 do UBND thành phố V cấp ngày 05/10/2011 mang tên Lâm Văn T2, bà Nguyễn Thị L; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 889681 do UBND thành phố V cấp ngày 24/6/2009 mang tên Bùi Thanh H3 và bà Nguyễn Thị L2; Hủy Quyết định hành chính số 2789/QĐ-UBND ngày 02/06/2015 của UBND thành phố V về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Nguyễn Văn T3, Trần Thị H4; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 917609 do UBND thành phố V cấp ngày 02/6/2015 mang tên Nguyễn Văn T3, Trần Thị H4; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 097501 do UBND thành phố V cấp ngày 17/01/2017 mang tên Võ Văn H, Trương Thị T1; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 097503 do UBND thành phố V cấp ngày 17/01/2017 mang tên Lê Trung H1, Phan Thị Như H2; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W679401 do UBND thành phố V cấp ngày 24/01/2003 mang tên Hồ Thu Q, Nguyễn Thị H5.
Bị đơn ông Võ Văn H trình bày: Toàn bộ thửa đất hiện vợ chồng ông đang sử dụng có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn T3 và bà Trần Thị H4 từ năm 2017 diện tích 60,8m² đã được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG097501 ngày 17/01/2017. Hiện tại đất vẫn giữ nguyên hiện trạng, ông chưa xây dựng, không thay đổi, cơi nới. Vì vậy bà P yêu cầu vợ chồng ông trả lại cho bà phần diện tích đất đã lấn chiếm là 8,3m² và hủy Quyết định cấp đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thành phố V cấp ngày 17/01/2017 mang tên ông và bà Trương Thị T1 là không có căn cứ nên ông không đồng ý. Đối với các yêu cầu khởi kiện khác của bà P thì ông không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Lâm Văn T2 trình bày: Toàn bộ thửa đất hiện gia đình ông đang sử dụng có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của vợ chồng anh Lê Quốc H7 và vợ là Nguyễn Thị T5 từ năm 1992 (con trai và con dâu của ông Nguyễn Minh Đ) kích thước chiều ngang 4,54m, chiều dài 11,7m. Đến năm 1995, ông có mua thêm của ông Nguyễn Minh Đ 2m chiều dài. Có đầy đủ giấy tờ mua bán đất. Đến năm 2006, ông đã làm căn nhà ba tầng hiện tại ông đang ở. Tổng cộng diện tích đất ông đang ở là 65m² và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/10/2011 mang tên Lâm Văn T2 và Nguyễn Thị L. Gia đình ông không lấn chiếm đất của bà P nên việc bà P yêu cầu vợ chồng ông trả lại diện tích đất lấn chiếm và hủy các quyết định cấp đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thành phố Vinh cấp mang tên vợ chồng ông thì ông không đồng ý. Đối với các yêu cầu khởi kiện khác của bà P thì ông không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Lê Trung H1 trình bày: Toàn bộ thửa đất hiện vợ chồng ông đang sử dụng có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn T3 và bà Trần Thị H4 vào năm 2017 diện tích 58,6m² đã được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG097503 ngày 17/01/2017. Từ đó đến nay gia đình ông vẫn sinh sống, sinh hoạt ổn định và giữ nguyên hiện trạng, không thay đổi, cơi nới, vì vậy bà P yêu cầu vợ chồng ông trả lại cho bà P số diện tích đất đã lấn chiếm là 10,3m² và hủy Quyết định cấp đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thành phố V cấp ngày 17/01/2017 mang tên ông Lê Trung H1 và bà Phan Thị Như H2 thì ông không đồng ý. Đối với các yêu cầu khởi kiện khác của nguyên đơn ông không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, UBND phường Đ có văn bản trình bày: UBND phường hiện đang lưu trữ bản đồ năm 1999, Atlat năm 1993 và hồ sơ kỹ thuật năm 2000 kèm theo biên bản xác định ranh giới, mốc giới đối với hồ sơ địa chính thửa đất của ông Nguyễn Minh Đ và bà Tôn Nữ Thị D1 qua các thời kỳ. Từ năm 1993-2000 thửa đất của bà Nguyễn Thị Lệ P đang nằm trong thửa đất thể hiện trong Atlat 1993 mang tên ông Đ và hồ sơ kỹ thuật năm 2000 mang tên ông Nguyễn Tiến D2. Thửa đất bà P hiện đang sử dụng, hồ sơ lưu trữ tại phường chỉ có bản đồ địa chính kỹ thuật số mới nhất thể hiện thửa đất số 71, tờ bản đồ 02 với diện tích là 110,3m². Do hiện tại hồ sơ của bà Nguyễn Thị Lệ P không lưu tại phường nên UBND không đủ căn cứ để xác định thửa đất bà P đang sử dụng (theo công văn của UBND thành phố V là được chia thừa kế năm 2013) với thửa đất số 71, tờ bản đồ 02 diện tích 192m² tại khối C, phường Đ theo bà P khai là nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Anh T4, bà Viên Thị H6 vào năm 1993 có phải là một thửa hay không. Vì vậy đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, UBND thành phố V có văn bản trình bày: Bà Nguyễn Thị Lệ P được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mã số BP 221662, ngày 24/7/2013 tại thửa đất số 71, tờ bản đồ số 02, diện tích 110,3m², thuộc phường Đ; Hồ sơ có đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Nguyễn Thị Lệ P ký ngày 15/4/2013, với diện tích đăng ký là 110,3m²; Văn bản phân chia di sản thừa kế được UBND phường Đ chứng thực, trong đó bà P được thống nhất giao 110,3m² đất; Hồ sơ còn có trích lục bản đồ địa chính do UBND thành phố phê duyệt ngày 25/6/2013, thể hiện phần đất của bà Nguyễn Thị Lệ P là thửa 71, tờ bản đồ số 02, diện tích 110,3m²; Hồ sơ được UBND phường Đ xác nhận, được các phòng, đơn vị xử lý và được UBND thành phố cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã đảm bảo các quy định hiện hành. Xem xét trích lục bản đồ địa chính cho thấy phần diện tích 39,6m² là phần đất các công dân đề nghị mở đường để đi vào thửa đất số 30 và thửa đất số 70, tờ bản đồ số 02; mặt khác phần diện tích đất này hiện ông Nguyễn Quốc D là người đang sử dụng thửa đất số 30 và thửa đất số 70 cũng đang có đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó việc bà Nguyễn Thị Lệ P yêu cầu hủy Quyết định số 4385/QĐ-UBND ngày 24/7/2013 của UBND thành phố V về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mã số BP 221662 do UBND thành phố V cấp cho bà Nguyễn Thị Lệ P ngày 24/7/2013 và yêu cầu công nhận 39,6m² diện tích đất trên hồ sơ địa chính “đường dân cư” là đất của bà Nguyễn Thị Lệ P là không có cơ sở xem xét. Trường hợp các công dân có thỏa thuận khác về mặt dân sự (sử dụng làm đường đi chung) thì đề nghị Tòa án xem xét, quyết định.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc D trình bày: Con đường 39,6m² theo yêu cầu của bà P thuộc quyền sở hữu của bố mẹ ông để lại cho ông trước khi mất, có di chúc ủy quyền bàn giao đất đã có chính quyền đóng dấu, xác nhận đầy đủ. Trong thời gian ông đi vắng thì một số thành viên trong gia đình cùng cán bộ đã giả mạo chữ ký và tự ý cắt 39,6m² đất của ông làm đường đi chung trong khi chưa có ý kiến của ông. Con đường này là đất của gia đình ông chứ không phải đất của nhà nước quản lý. Vì vậy ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn bà Trương Thị T1 (vợ ông Võ Văn H), bà Phan Thị Như H2 (vợ ông Lê Trung H1), bà Nguyễn Thị L (vợ ông Lâm Văn T2), những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Bùi Thanh H3, bà Trương Thị L1, ông Nguyễn Văn T3, bà Trần Thị H4, ông Hồ Thu Q và bà Nguyễn Thị H5 nhưng những người này vẫn vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ Điều 166, 175, 176, 254 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 100, 166, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013; Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, các Điều 147, 157, 158, 165, 166, 227, 235, 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBNVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ P về việc yêu cầu ông Lê Trung H1 và bà Phan Thị Như H2 trả lại cho bà P số diện tích đất đã lấn chiếm là 10,3m², ông Võ Văn H và bà Trương Thị T1 trả lại cho bà P số diện tích đất đã lấn chiếm là 8,3m², ông Lâm Văn T2 và bà Nguyễn Thị L trả lại cho bà số diện tích đất đã lấn chiếm là 10,8m².
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc: Hủy quyết định số 7749/QĐ-UBND ngày 05/10/2011 của UBND thành phố V về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Lâm Văn T2, bà Nguyễn Thị L; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 592890 do UBND thành phố V cấp ngày 05/10/2011 mang tên Lâm Văn T2, bà Nguyễn Thị L; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 889681 do UBND thành phố V cấp ngày 24/6/2009 mang tên Bùi Thanh H3 và bà Nguyễn Thị L2; Hủy Quyết định hành chính số 2789/QĐ-UBND ngày 02/06/2015 của UBND thành phố V về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Nguyễn Văn T3, Trần Thị H4; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 917609 do UBND thành phố V cấp ngày 02/6/2015 mang tên Nguyễn Văn T3, Trần Thị H4; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 097501 do UBND thành phố V cấp ngày 17/01/2017 mang tên Võ Văn H, Trương Thị T1; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 097503 do UBND thành phố V cấp ngày 17/01/2017 mang tên ông Lê Trung H1, bà Phan Thị Như H2; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W679401 ngày 24/01/2003 mang tên Hồ Thu Q, Nguyễn Thị H5; Hủy Quyết định số 4385/QĐ-UBND ngày 24/7/2013 của UBND thành phố V về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mã số BP 221662 do UBND thành phố V cấp ngày 24/7/2013 mang tên Nguyễn Thị Lệ P.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận 39,6m² diện tích đất mà UBND phường Đ và UBND thành phố V thể hiện trên sơ đồ địa chính “Đường dân cư” là đất của bà Nguyễn Thị Lệ P.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/01/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Lệ P và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho pháp cho bà P cùng có quan điểm trình bày như sau: Tại giấy xác nhận quyền sử dụng đất và nhà ở nêu rõ phần diện tích nhận chuyển nhượng 16m x 12m = 92m², tại giấy này có xác nhận của ban cán sự khối với nội dung bà Nguyễn Thị Lệ P có đất nhà và hộ khẩu ở khối C do ông bà ngoại nhượng lại, nhưng hiện nay đang chờ quyết định cấp giấy quyền sở hữu đất của thành phố, đồng thời UBND phường Đ cũng xác nhận bà Nguyễn Thị Lệ P và ông Phan Hồng K cư trú tại phường, nhà và đất trên thuộc sở hữu của bà P và anh K, như vậy có căn cứ xác định tài sản của bà là sử dụng hợp pháp, có diện tích đất nêu trên. Hiện trạng đang sử dụng của các gia đình nhiều hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, theo đó gia đình ông T2 Bà L sử dụng nhiều hơn 13m², gia đình ông H bà T6 và ông H1 bà H2 cũng đang sử dụng diện tích lớn hơn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp vì đã lấy một chiếm một phần diện tích đất của gia đình bà.
Đối với gia đình ông Lâm Văn T2 và bà Nguyễn Thị L thì thấy cùng một thửa số 29 tờ bản đồ số 2 đều được UBND thành phố V cấp cho gia đình ông T2 bà L cùng có chiều rộng đường N, không thay đổi nhưng chiều dài lại có sự tăng lên, trong khi diện tích của bà P là hộ liền kề lại giảm đi, vì vậy khẳng định việc bà P đòi lại diện tích 10,8m² là có căn cứ.
Đối với ông Lê Trung H1 bà Phan Thị Như H2 và ông Võ Văn H bà Trương Thị T6 nhận chuyển nhượng từ gia đình ông T3 bà H4 và đã chuyển nhượng cho hai chủ sử dụng đất hiện tại. Ngày 17/01/2017, ông H1 bà H2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 58,6m² đã bao gồm cả phần diện tích 5,2m² nằm trong quy hoạch mở đường và ông H bà T6 cũng được UBND thành phố V cấp giấy nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 82, diện tích 60,3m² bao gồm cả 6,6m² nằm trong quy hoạch mở đường đã được cấp giấy chứng nhận. Qua đó có thể xác định, thời điểm lấn chiếm đất của bà P từ lúc hộ gia đình ông Hồ Chu Q1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Lê Bá M, nên diện tích thực tế của các chủ sử dụng đất nhận chuyển nhượng sau này có diện tích tăng lên, trong khi diện tích của bà P lại bị giảm, tương ứng dựa vào diện tích sử dụng thực tế, và hiện trạng từ đất hiện nay diện tích gia đình ông H bà T1 ông H1 bà H2 ông T2 bà L đã lấn chiếm vào đất của gia đình nhà bà.
Đối với diện tích lối đi chung, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng hàng thừa kế thứ nhất của ông Đức Bà D3 đã thỏa thuận để diện tích 39,5m² làm phần lối đi chung, tại văn bản thỏa thuận phân chia diện thừa kế, trên cơ sở văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đã cấp giấy chứng nhận cho bà và em trai bà đã trừ đi phần đường làm lối đi chung và nhà em trai bà là không đúng, bởi tại thời điểm lập văn bản phân chia dạng thừa kế em trai bà đang phải chấp hành hình phạt tù nhưng không hiểu sao lại có chữ ký em trai bà ở văn bản này. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của bà P.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành của đương sự đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, kháng cáo của nguyên đơn hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Sau khi phân tích tài liệu có trong hồ sơ và quá trình tranh tụng tại phiên tòa thì thấy bản án sơ thẩm đã đưa ra nhận định và phán quyết có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, phía nguyên đơn kháng cáo không cung cấp được tài liệu gì mới chứng minh cho quan điểm của mình nên không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu các bị đơn có địa chỉ thường trú tại khối C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An trả lại diện tích đất lấn chiếm; yêu cầu hủy các quyết định cấp đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu công nhận đường đi chung thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã căn cứ khoản 9 điều 26, điểm a khoản 1 điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
[1.2] Đơn kháng cáo của nguyên đơn được gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định nên hợp lệ, đủ điều kiện để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét:
Về nội dung: Ngày 24/7/2013, UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 221662 đối với thửa số 71, tờ bản đồ số 2 tại khối C, phường Đ cho bà Nguyễn Thị Lệ P do bà P nhận chuyển nhượng của vợ chồng anh trai là ông T4 bà H6. Sau khi chuyển nhượng cho ông Hồ Thu Q (hộ liền kề) 12m² đất (1m chiều dài x rộng 12m), phần diện tích còn lại là 180m² đất nhưng UBND thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ có 110,3m² là còn thiếu 70m². Chứng cứ do bà P xuất trình là đơn xin xác nhận quyền sử dụng đất đai và nhà ở của bà P đề ngày 20/10/1994 và đơn xin chuyển nhượng nhà ở giữa ông T4 với bà P đề ngày 20/11/1993 có xác nhận của UBND phường và khối trưởng (bản sao). Tuy nhiên trong đơn xin chuyển nhượng nhà chỉ ghi nhượng lại gian nhà trong mảnh đất bố mẹ đã chia cho chứ không ghi rõ diện tích đất chuyển nhượng, đồng thời đơn xin xác nhận quyền sử dụng đất đai, nhà cửa có ghi diện tích đất là 192m² nhưng không ghi cụ thể thửa đất đó là thửa nào. Trong khi đó theo báo cáo của UBND phường Đ tại Công văn số 338 ngày 24/10/2022 và các tài liệu thu thập được có tại hồ sơ thể hiện nguồn gốc sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Lệ P tại thửa số 71, TBĐ số 2 ở khối C phường Đ là do nhận thừa kế một phần quyền sử dụng đất từ thửa đất gốc của cụ Nguyễn Minh Đ và cụ Tôn Nữ Thị D1 (bố mẹ bà P) để lại. Theo Bản đồ đo đạc năm 1993 thuộc thửa đất số 48, tờ bản đồ số 01, diện tích 436m², A ký nhận hình thể năm 1993 chủ hộ là ông Đ, tổng diện tích 450m². Bản đồ đo đạc năm 2000 thể hiện thửa đất gốc của cụ Đ cụ D1 (bố mẹ bà P) là thửa đất số 30, tờ bản đồ 02, diện tích 293,5m². Phần diện tích đất bị giảm là do các cụ tách thửa cho các con.
Cụ Đ mất ngày 29/8/1999, cụ D1 mất năm 2012. Năm 2013 các con của cụ Đ - cụ D1 là những người được hưởng di sản thừa kế do cụ Đ cụ D1 để lại đã lập văn bản phân chia di sản thừa kế trong đó có ghi rõ: Cụ Nguyễn Minh Đ và cụ Tôn Nữ Thị D1 mất không để lại di chúc, tài sản thừa kế do hai cụ để lại là 293,5m² đất tại khối C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An nên đã thỏa thuận giao cho ông Nguyễn Anh T4, bà Viên Thị H6 sử dụng diện tích 73,9m²; giao cho ông Nguyễn Quốc D sử dụng diện tích 69,7m²; giao cho bà Nguyễn Thị Lệ P sử dụng 110,3m² và cắt phần diện tích 39,6m² để làm đường đi chung. Sau khi lập văn bản phân chia di sản thừa kế, vợ chồng ông T4 bà H6 và bà P đã lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được UBND thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T4 bà H6 diện tích 73,9m² thuộc thửa số 70, TBĐ số 02 còn bà Nguyễn Thị Lệ P diện tích 110,3m² thuộc thửa số 71, TBĐ số 02. Tuy nhiên tại thời điểm lập văn bản phân chia di sản thừa kế do ông D không có mặt tại địa phương, phần đất phân chia cho vợ chồng ông T4 bà H6 nằm trong phần diện tích đất 97m² đất có ngôi nhà cấp 4 của cụ Đ và cụ D1 để lại đã được 2 cụ lập di chúc cho ông D từ trước khi các cụ chết. Do đó phần diện tích đất đã được UBND thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T4 bà H6 thuộc thửa đất số 70 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử hủy bỏ. Vì vậy phần diện tích đất cấp cho vợ chồng ông T4 ở thửa đất số 70 và phần diện tích đất còn lại ở thửa đất số 30 hiện vợ chồng ông D đang sử dụng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Riêng đối với phần diện tích đất cấp cho bà P thuộc thửa đất số 71, tờ bản đồ số 02 bà P đang sử dụng vẫn giữ nguyên vì không có tranh chấp.
Căn cứ hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thành phố V cung cấp thể hiện trong đơn xin đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/4/2013, bà P đã ghi rõ diện tích đất đăng ký là 110,3m²; Văn bản phân chia di sản thừa kế lập ngày 12/4/2013 có chứng thực của UBND phường Đ cũng thể hiện phần đất giao cho bà P là 110,3m². Trích lục bản đồ địa chính do UBND thành phố V phê duyệt ngày 25/6/2013 thể hiện phần đất của bà Nguyễn Thị Lệ P là thửa 71, tờ bản đồ số 02, diện tích 110,3m². Vì vậy việc UBND thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Lệ P đúng theo diện tích đất 110,3m² như bà P đã đề nghị trong hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có cơ sở. Bà P không xuất trình được căn cứ chứng minh việc bà P có đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích 180m² như bà P trình bày. Tại sơ đồ hiện trạng thửa đất do Công ty TNHH T7 lập cũng thể hiện hiện trạng phần đất bà P đang sử dụng là 110,3m² đất. Do đó việc bà Nguyễn Thị Lệ P yêu cầu hủy Quyết định số 4385/QĐ-UBND ngày 24/7/2013 của UBND thành phố V về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mã số BP 221662 do UBND thành phố V cấp ngày 24/7/2013 đứng tên chủ sử dụng đất Nguyễn Thị Lệ P là không có căn cứ.
Đồng thời xét thực tế phần diện tích 39,6m² đất được thể hiện trên sơ đồ địa chính “Đường dân cư” là phần đất chính bản thân bà P và các đồng thừa kế đề nghị mở đường để đi vào thửa đất phân chia cho ông D (thửa 30) và vợ chồng ông T4 bà H6 (thửa 70) theo văn bản phân chia di sản thừa kế lập ngày 12/4/2013 nêu trên. Phần diện tích 39,6m² đất này chính là phần đất nằm trong thửa đất gốc (thửa 30) của cụ Đ và cụ D1 để lại đã được bà P và các đồng thừa kế thống nhất cắt ra để làm đường đi chung từ năm 2013. Hiện tại gia đình ông D vẫn đang sử dụng phần đất này làm đường đi duy nhất để đi ra đường xóm. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà P về việc công nhận 39,6m² diện tích đất trên hồ sơ địa chính “đường dân cư” là đất của bà Nguyễn Thị Lệ P là có căn cứ.
Ông Võ Văn H và ông Lê Trung H1 đều khẳng định đất của vợ chồng ông là nhận chuyển nhượng và tách thửa từ đất của ông T3, bà H4; ông Lâm Văn T2 khẳng định đất của vợ chồng ông là nhận chuyển nhượng từ ông H7, bà T2 (con trai và con dâu ông Đ), sau này ông có mua thêm một phần diện tích đất của ông Đ và ông D (con trai ông Đ). Từ khi mua cho đến nay, gia đình ông H1 và gia đình ông T2 vẫn sinh sống, sinh hoạt ổn định và đã xây dựng nhà kiên cố còn gia đình ông H vẫn giữ nguyên hiện trạng đất, không thay đổi, cơi nới so với thực trạng ban đầu.
Xét thấy việc chuyển nhượng đất giữa ông T3 bà H4 với ông H1, bà H2; giữa ông T3 bà H4 với ông H, bà T1; giữa ông H7 bà T2 (con trai và con dâu ông Đ), ông Đông D với ông T2 bà L đều đã hoàn tất và đúng quy định của pháp luật. Sau khi nhận chuyển nhượng các bên đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định. Hiện trạng sử dụng đất của gia đình ông H bà T1, ông H1 bà H2, ông T2 bà L ở các thửa số 82, 83, 29 cùng thuộc tờ bản đồ 02 theo kết quả đo đạc thực tế thấy nằm hoàn toàn trong phần diện tích đất đã được UBND thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có sự lấn chiếm sang phần đường đi vào các thửa 70 và 30, tờ bản đồ 02 hiện ông D đang sử dụng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không có cơ sở chấp nhận nội dung khởi kiện của bà P về việc yêu cầu ông H, bà T1, ông H1, bà H2, ông T2, bà L phải trả lại phần đất lấn chiếm cho bà, đồng thời yêu cầu hủy các quyết định cấp đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thành phố V cấp cho ông Võ Văn H - bà Trương Thị T1, ông Lê Trung H1 - bà Phan Thị Như H2, ông Lâm Văn T2 - bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn T3 - bà Trần Thị H4, ông Bùi Thanh H3 - bà Nguyễn Thị L2, ông Hồ Thu Q - bà Nguyễn Thị H5.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn không cung cấp được tài liệu gì mới để làm cơ sở cho các yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo nên Hội đồng xét xử đồng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Lệ P và giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị Lệ P không được chấp nhận lẽ ra phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nhưng do bà P là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị Lệ P. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Lệ P được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Trọng |
Bản án số 98/2025/DS-PT ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt
- Số bản án: 98/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt
