Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HS-PT

Ngày: 18/6/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung

Thẩm phán:

Bà Lê Thị Tân

Bà Lê Thu Hương

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Cù Thị Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 18/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 126/2024/HSPT ngày 04/5/2024 đối với bị cáo Vũ Văn T, do có kháng cáo của bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 28/3/2024 của TAND huyện Nga Sơn, Thanh Hóa.

* Bị cáo bị kháng cáo:

Vũ Văn T - Giới tính : Nam; Tên gọi khác không; Sinh năm 1976; Sinh trú quán: Thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Ngọc T1 và bà Phạm Thị L; Vợ là Hoàng Thị T2 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

* Người bị hại:

  1. Chị Trần Thị S - Sinh năm: 1982. Địa chỉ: Xóm B, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình - Có mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn Đ - Sinh năm: 1980. Địa chỉ: Xóm B, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 23/12/2018, Vũ Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream từ nhà mình đi theo đường đê phía Bắc sông H đến nhà anh N (xóm B, xã N)

để thuê anh N chở hàng. Khi đến khu vực trước cổng nhà thờ Đ3 thuộc địa phận Xóm B, xã N, T nhìn thấy xe ô tô tải biển kiểm soát 35C-067.95 do anh Nguyễn Văn Đ (trú tại: Xóm B, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình) điều khiển và chị Trần Thị S (là vợ anh Đ) ngồi trong cabin xe, đang di chuyển ngược chiều với T. Nghĩ lại việc trước đó, T bị vợ chồng S, Đ đánh gây thương tích tại xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình nên T điều khiển xe mô tô dừng lại phía trước đầu xe ô tô của anh Đ, với ý định yêu cầu vợ chồng anh Đ xuống xe để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn.

Nhìn thấy T chặn phía trước đầu xe ô tô, anh Đ phanh cho xe ô tô dừng lại nhưng cả anh Đ, chị S vẫn ngồi trên cabin xe ô tô, lúc này kính chắn gió bên lái và bên phụ đang trong trạng thái hạ xuống dưới thành cửa. Trong lúc nói chuyện với vợ chồng anh Đ về việc xảy ra trước đó nhưng anh Đ không xuống xe, T bực tức nên đã dùng tay phải rút côn gỗ (dạng côn gỗ có hai khúc nối ở giữa bằng sợi dây xích kim loại) từ trong túi quần bên phải vụt về phía anh Đ nhiều cái qua khoảng kính chắn gió (đã hạ xuống) trên cánh cửa bên trái của xe ô tô. Bị đánh, anh Đ đưa tay trái lên đỡ thì bị côn của T đập trúng vào cổ tay, gây thương tích. Côn gỗ do T đập còn gây móp méo nhẹ một số điểm của cánh cửa bên trái xe ô tô. Thấy chồng mình bị T dùng côn gỗ đánh, chị S mở cửa xe ô tô (bên phụ) xuống đường, chạy đến giằng co, kéo T ra phía trước đầu xe ô tô để can ngăn thì bị T dùng côn gỗ vụt trúng vào vùng trán bên trái và vai bên trái. Chị ST tiếp tục giằng co, xô đẩy nhau thì chị S giật được 01 đoạn của côn gỗ T đang cầm (xích nối của côn đã bị đứt) rồi dùng đoạn côn gỗ này vụt trúng vào vùng đầu của T làm cho T bị thương chảy máu đầu, ngã xuống đường. Cùng thời điểm này, thấy T giằng co, đánh vợ mình, anh Đ mở cửa bên trái xe ô tô để ra ngoài nhằm mục đích hỗ trợ cho vợ nhưng do cánh cửa bị kẹt, không mở được nên đã chui qua ô kính. Tuy nhiên, do vội vàng nên khi nhảy xuống anh Đ bị ngã khiến phần đầu gối chân trái va đập với mặt đường bê tông. Sau khi T bị ngã, anh Đ và chị S định tiếp tục đánh T nhưng có người dân can ngăn nên chị S cầm theo đoạn côn gỗ, đi cùng với anh Đ vào nhà anh Mai Văn T3 gần đó để trốn. Còn Vũ Văn T, sau khi đứng dậy, thấy vợ chồng S, Đ đã chạy trốn thì T đi đến trước xe ô tô BKS 35C-067.95 dùng tay phải đập 02 cái vào kính chắn gió phía trước xe ô tô của anh Đ làm kính bị nứt, vỡ. Sau đó, Vũ Văn T đi cùng với anh Vũ Ngọc N1 và anh Vũ Ngọc T4 đều là chú ruột của T đến nhà anh Mai Văn T3. Vũ Văn T có ý định đánh vợ chồng anh Đ, chị S nhưng anh Mai Văn T3 đã can ngăn, đồng thời báo tin đến Công an xã N.

Anh Đ cùng với chị S đã đến Công an xã N trình báo sự việc, đến chiều tối cùng ngày thì được người thân đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N cấp cứu và điều trị. Còn Vũ Văn T, được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện N cấp cứu và điều trị thương tích.

2

- Theo biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Trần Thị S do Cơ quan CSĐT Công an huyện N lập hồi 20 giờ 50 phút ngày 23/12/2018 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N, ghi nhận có các dấu vết:

  • + Xây sát vùng trán bên trái;
  • + Sưng nề, bầm tím vùng mắt bên trái và vai trái, hạn chế vận động vai trái mức độ nhẹ.

Chị Trần Thị S điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N từ 23/12/2018 đến ngày 24/12/2018 ra viện.

- Theo biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Nguyễn Văn Đ do Cơ quan CSĐT Công an huyện N lập hồi 19 giờ ngày 23/12/2018 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N, ghi nhận có các dấu vết:

  • + Bệnh nhân có 01 vết thương bờ trụ cổ tay trái khoảng 0.5cm, bờ nham nhở, chảy máu;
  • + Gối trái sưng nề, đau, hạn chế vận động.

Anh Nguyễn Văn Đ điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N từ 23/12/2018 đến ngày 26/12/2018 ra viện.

- Theo biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Vũ Văn T do Cơ quan CSĐT Công an huyện N lập hồi 16 giờ ngày 23/12/2018 tại Bệnh viện đa khoa huyện N, ghi nhận có các dấu vết:

  • + Vùng đỉnh trẩm có 01 vết thương rách da, kích thước (02 x 01)cm, bờ sắc gọn;
  • + Vùng đỉnh đầu có 01 khối sưng nề, kích thước (03 x 03)cm.

Vũ Văn T điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện N từ ngày 23/12/2018 đến ngày 28/12/2018 ra viện.

- Ngày 21, 22/01/2019, Trung tâm Pháp y tỉnh T có bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 33, 34, 35/2019/TTPY kết luận: tỉ lệ tổn thương cơ thể của chị Trần Thị S07%; tỉ lệ tổn thương cơ thể của Vũ Văn T03%; tỉ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn Đ12%, trong đó: chấn thương gối trái; là 11%, sẹo vết thương phần mềm vùng bờ ngoài cổ tay trái, số lượng sẹo ít, kích thước nhỏ: 01%.

- Ngày 11/3/2019, Cơ quan CSĐT đã trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh T giám định bổ sung về cơ chế hình thành vết thương của Nguyễn văn Đ1:

- Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 131/2019/TTPY ngày 15/03/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh T về cơ chế hình thành vết thương trên cơ thể anh Nguyễn Văn Đ xác định: Gối trái sung nề, đau hạn chế vận động: do tác động của ngoại lực; tạo nên bởi vật tày, hoặc vật tày có cạnh; nếu bị ngã, đập gối xuống mặt đường bê tông thì có thể tạo nên vết thương ở đầu gối trái của anh Nguyễn Văn Đ

- Ngày 11/12/2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện N ra quyết định trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh T giám định bổ sung cơ chế hình thành vết thương của Trần Thị S:

3

- Tại bản kết luận giám định pháp y bổ sung về cơ chế hình thành thương tích số 740/2019/TTPY ngày 16/12/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh T đối với Trần Thị S kết luận:

  • + Xây xát vùng trán bên trái: Do tác động của ngoại lực; tạo nên bởi vật tày có cạnh. Làm tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng trán trái.
  • + Sưng nề, bầm tím vùng mắt trái, hạn chế vận động vai trái mức độ nhẹ: Do tác động của ngoại lực; tạo nên bởi vật tày, hoặc vật có cạnh. Gây chấn thương đụng dập nhãn cầu trái đã được điều trị; hiện tại còn di chứng thị lực mắt trái = 7/10.

- Ngày 25/12/2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện N ra quyết định trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh T giám định bổ sung cơ chế hình thành vết thương của Vũ Văn TNguyễn Văn Đ.

- Tại bản kết luận giám định pháp y bổ sung về cơ chế hình thành thương tích số 777/2019/TTPY ngày 30/12/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh T đối với Vũ Văn T kết luận:

  • + Vùng đỉnh chẩm có 01 vết thương rách da, kích thước 02 x 01 cm, bờ sắc gọn: Do tác động của ngoại lực; tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật có cạnh sắc. Làm tổn thương rách da, cơ, mô mềm. Đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh chẩm.
  • + Vùng đỉnh đầu có 01 khối sưng nề, kích thước 03 x 03 cm: Do tác động của ngoại lực; tạo nên bởi vật tày, hoặc vật tày có cạnh. Làm tổn thương rách da, cơ, mô mềm. Đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh phải; sẹo xước trợt da nông, sẹo mờ, liền tốt.

- Tại bản kết luận giám định pháp y bổ sung về cơ chế hình thành thương tích số 779/2019/TTPY ngày 30/12/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh T đối với Nguyễn Văn Đ kết luận:

  • + Bệnh nhân có vết thương bờ trụ cổ tay trái khoảng 0,5 cm, bờ nham nhở, chảy máu: Do tác động của ngoại lực; tạo nên bởi vật tày có cạnh. Làm tổn thương, rách da, cơ, mô mềm. Đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng bờ ngoài cổ tay trái.

- Tại biên bản khám xe ô tô BKS 35C-067.95 do Cơ quan CSĐT Công an huyện N lập ngày 03/01/2019, xác định:

  • + Kính chắn gió phía trước cabin xe, kích thước (72 x 152)cm có 02 vết nứt kính dạng lan tỏa. Kích thước vết 01 là (70 x 62)cm, từ tâm vết 01 đến mặt đất là 1,6m; kích thước vết 02 là (65 x 56)cm, từ tâm vết 02 đến mặt đất là 1,55m; khoảng cách tâm vết 02 và vết 01 là 80cm.
  • + Ba đờ xốc phía trước đầu xe bên phải có vết xước sơn, kích thước (09 x 05)cm, từ điểm thấp nhất của vết đến mặt đất là 60cm.

4

  • + Cạnh trên cabin bên lái (phía trên cửa lên xuống cabin) có vết núng kim loại, xước sơn, kích thước (03 x 0.5)cm.
  • + Mặt ngoài cửa kính xe bên trái có bám dính 03 vết màu nâu ( nghi máu): Vết 01, kích thước (2 x 3)cm, từ vết đến mặt đất là 139cm; Vết 02, kích thước (03 x 1.5)cm, từ vết đến mặt đất là 134cm; Vết 03, kích thước (3 x 1.5)cm, từ vết đến mặt đất là 114cm.
  • + Mặt ngoài thành cabin phía dưới bên trái có vết xước sơn, kích thước (5.5 x 2.5)cm, từ vết đến mặt đất là 80cm.

- Theo bản kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện N ngày 14/01/2019 kết luận tổng thiệt hại của xe ô tô BKS 35C-067.95 là 2.100.000đ. Trong đó: 01 kính chắn gió phía trước, kích thước (72 x 152)cm có giá trị 1.150.000đ; cản trước bên phải cửa xe có giá trị 500.000đ. Dặm cua, dè phía sau bên trái có giá trị 250.000đ; viền chắn mưa bên trái có giá trị 200.000đ. Tuy nhiên, đối với cản trước bên phải cửa xe ô tô trị giá thiệt hại 500.000đ không có cơ sở để xác định do Vũ Văn T gây ra nên T không phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại này.

Chị Trần Thị S đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đoạn côn bằng gỗ dài 27,5cm, dạng hình trụ (một đầu lớn, một đầu nhỏ), đường kính phần lớn nhất 2,5cm, đường kính phần nhỏ nhất 1,5cm, ở đầu nhỏ có gắn một đoạn dây kim loại (dạng dây xích) dài 13m bị hoen rỉ. Chị S trình bày đây là đoạn côn gỗ chị giật được của T và đã dùng đánh lại T. Đối với 01 đoạn côn gỗ còn lại, lời khai ban đầu T trình bày sau khi xô xát thì chị S cầm 01 đoạn, T cầm 01 đoạn. Tuy nhiên, sau đó T không thừa nhận có cầm đoạn côn gỗ còn lại, cơ quan CSĐT đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả. Ngoài ra, Cơ quan CSĐT còn tạm giữ của anh Nguyễn Văn Đ 01 xe ô tô tải nhãn hiệu KIA biển kiểm soát 35C-067.95 và 01 giấy đăng kiểm của xe ô tô này.

Như vậy, đối với vết thương đầu gối trái của anh Nguyễn Văn Đ, kết quả điều tra có căn cứ xác định do anh Đ trèo qua cửa kính xe ô tô ngã xuống đường gây nên. Do đó, Vũ Văn T không phải chịu trách nhiệm đối với thương tích này.

Đối với hành vi chị Trần Thị S dùng khúc côn gỗ đánh Vũ Văn T bị thương, tỉ lệ tổn thương cơ thể 3%. Tuy nhiên, do trước đó chị S bị T dùng khúc côn gỗ đánh vào vùng trán bên trái, T tiếp tục giằng co, xô đẩy với chị S đến khi chị S giật được khúc côn gỗ mới đánh lại T. Do đó, hành vi của chị S thuộc trường hợp “phòng vệ chính đáng” nên chị S không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với hành vi của Vũ Văn T đập vào phần đầu xe ô tô của anh Đ làm hư hỏng kính chắn gió phía trước, viền chắn mưa bên trái, tổng trị giá thiệt hại là 1.600.000đ nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự.

5

* Về bồi thường dân sự: Anh Nguyễn Văn Đ, chị Trần Thị S yêu cầu Vũ Văn T phải bồi thường chi phí điều trị vết thương, bồi thường thiệt hại do không lao động được và giá trị hư hỏng xe ô tô tổng cộng là 189.108.000 đồng, bao gồm:

  1. Thiệt hại vật chất thực tế với số tiền: 52.108.000 đồng:
    1. Khoản tiền chi phí sửa chữa xe ô tô của hãng KIA: 2.915.000 đồng.
    2. Khoản chi phí viện phí và điều trị thương tích hai người: 10.355.000 đồng.
    3. Khoản thuê xe taxi, xe buýt đưa đi – đón về khi điều trị là 2.638.000 đồng.
    4. Khoản tiền thu nhập thực tế bị mất trong thời gian điều trị tại bệnh viện, điều trị ngoại trú và thời gian phục hồi sức khỏe của hai người:18.000.000 đồng.
    5. Khoản tiền công người chăm sóc khi điều trị tại bệnh viện: 1.200.000 đồng.
    6. Khoản tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe của hai người: 12.000.000 đồng.
    7. Khoản tiền thiệt hại trong thời gian xe bị lưu giữ, hư hỏng, không kinh doanh, buôn bán được là: 5.000.000 đồng.
  2. Khoản tiền thiệt hại do phải thuê xe + người lái + nhân viên bán hàng (trong thời gian hai người không đi được): 50.000.000 đồng.
  3. Khoản tiền bồi thường tổn thất về tinh thần của hai người, mỗi người 30 tháng lương tối thiểu: 87.000.000 đồng.

* Vật chứng vụ án: 01 xe ô tô tải nhãn hiệu KIA biển kiểm soát 35C-067.95 và 01 giấy đăng kiểm của xe ô tô này, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho anh Nguyễn Văn Đ vào ngày 04/01/2019. 01 đoạn côn gỗ màu nâu dài 27,5cm, dạng hình trụ (một đầu lớn, một đầu nhỏ), đường kính phần lớn nhất 2,5cm, đường kính phần nhỏ nhất 1,5cm, ở đầu nhỏ có gắn một đoạn dây kim loại (dạng dây xích) dài 13m bị hoen rỉ, đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Nga Sơn bảo quản theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/10/2019.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2020 ngày 24/4/2020 Tòa án ND huyện N đã tuyên phạt bị cáo Vũ Văn T 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và tuyên trách nhiệm bồi thường dân sự.

* Tại bản án hình sự phúc thẩm số 181/2020 ngày 10/7/2020 của Tòa án ND tỉnh Thanh Hóa, hủy bản án hình sự sơ thẩm số 11/2020 ngày 24/4/2020 để điều tra lại theo thủ tục chung.

Sau khi nhận lại hồ sơ vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N phối hợp với Viên kiểm sát nhân nhân huyện N đã tiến hành các biện pháp điều tra bổ sung các chứng cứ theo nội dung mà cấp phúc thẩm đã chỉ ra: Như trưng cầu giám định lại mức độ thương tật của chị S và anh Đ; Tiến hành thu thập thiết bị camera hành trình trên xe ôtô của anh Đ; Đối chất các vấn đề mâu thuẫn trong lời khai của anh Đ, chị S và bị cáo T; Giải trình của điều tra viên về việc đã thực hiện 03 biên bản tố tụng trong một thời gian (cùng là 21h ngày 23/12/2028).

6

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 28/3/2024 của TAND huyện Nga Sơn, Thanh Hóa đã quyết định:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Đ2 a Khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331; 333; 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 584; 585; 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc H.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Văn T cho chính quyền địa phương xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Vũ Văn T phải bồi thường chung cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Trần Thị S8.100.000đ (tám triệu một trăm nghìn đồng); và bồi thường riêng cho chị S23.524.000đ (hai mươi ba triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn đồng), bồi thường riêng cho anh Đ10.200.000đ (mười triệu hai trăm nghìn đồng). Tổng cộng các khoản chung và riêng buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đ và chị S41.824.000đ (bốn mươi mốt triệu tám trăm hai mươi tư nghìn đồng). Được trừ đi 5.000.000đ (Năm triệu đồng) của bị cáo đã nộp bồi thường thiệt hại, theo biên lai thu tiền số 0002354 ngày 26/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nga Sơn.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

* Ngày 01/3/2024, bị hại Nguyễn Văn ĐTrần Thị S kháng cáo với các nội dung sau:

  1. Yêu cầu xử lý bị cáo thêm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  2. Đề nghị xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ, tăng hình phạt xử tù giam bị cáo và tăng bồi thường.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị hại vẫn giữ nguyên các nội dung kháng cáo. Anh Đ và chị S yêu cầu bị cáo phải bồi thường cản trước bên phải cửa xe ô tô trị giá thiệt hại 500.000đ và phải chịu trách nhiệm hình sự và bồi thường đối với thương tích chấn thương gối trái là 11%.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa đề nghị HĐXX phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo của các bị hại, giữ nguyên án sơ thẩm.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

7

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị hại kháng cáo trong hạn luật định nên chấp nhận để xem xét vụ án theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.

[2] Xét kháng cáo của các bị hại:

2.1. Đề nghị xử lý bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”:

Đối với đề nghị của bị hại buộc bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Trên cơ sở biên bản khám xe ôtô BKS 35C -067.95 của Cơ quan CSĐT Công an huyện N ngày 03/01/2019. Ngày 14/01/2019 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND huyện N đã kết luận tổng thiệt hại của xe ô tô BKS 35C-067.95 là 2.100.000đ. Trong đó: 01 kính chắn gió phía trước, kích thước (72 x 152)cm có giá trị 1.150.000đ; cản trước bên phải có giá trị 500.000đ. Dặm cua, dè phía sau bên trái có giá trị 250.000đ; viền chắn mưa bên trái có giá trị 200.000đ. Tuy nhiên, đối với cản trước bên phải cửa xe ô tô trị giá thiệt hại 500.000đ, căn cứ các tài liệu chứng cứ đã thu thập được xác định bị cáo chỉ có hành vi tấn côgn anh Đ bên trái (Cửa lái) và gây móp nhẹ một số vị trí trên cánh cửa xe bên trái, sau đó bị cáo có hành vi dùng tay đập làm vỡ rạn cửa kính chắn gió phía trước của xe ô tô, không có cơ sở để xác định do Vũ Văn T có hành vi tác động vật lý vào phía phải của xe ô tô gây ra thiệt hại cản trước bên phải cửa xe ô tô trị giá 500.000đ, nên T không phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại này. Do đó bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm gây thiệt hại về vật chất đối với xe ôtô BKS 35C - 067.95 là 1.600.000đ, đối chiếu với quy định của pháp luật, với mức thiệt hại nêu trên không đủ định lượng để xử lý bị cáo về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

2.2. Đề nghị xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật:

Do có mâu thuẫn từ trước với vợ chồng anh Nguyễn Văn Đ, chị Trần Thị S, khoảng 11 giờ ngày 23/12/2018 tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Vũ Văn T đã dùng côn gỗ là hung khí nguy hiểm đánh chị Trần Thị S gây thương tích vùng trán bên trái và mắt trái gây tỷ lệ tổn thương cơ thể là 7%; đánh anh Nguyễn Văn Đ gây thương tích vùng bờ ngoài cổ tay trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%. Hành vi của Vũ Văn T thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm, cố ý gây thương tích cho 02 người, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08%.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, xâm hại đến trật tự an toàn xã hội.

Toà cấp sơ thẩm xử bị cáo Vũ Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Anh Đ và chị S cho rằng bị cáo phải chịu trách nhiệm về vết thương ở khớp gối trái của anh Đ là 11%. Xét thấy vết thương ở khớp gối trái của anh Đ là do anh Đ thấy T đánh vợ mình, anh Đ mở cửa bên trái xe ô tô để ra ngoài nhằm mục đích hỗ trợ cho

8

vợ nhưng do cánh cửa bị kẹt, không mở được nên đã chui qua ô kính, do vội vàng nên khi nhảy xuống anh Đ bị ngã khiến phần đầu gối chân trái va đập với mặt đường bê tông gây thương tích ở khớp gối. Như vậy, đối với vết thương đầu gối trái của anh Nguyễn Văn Đ, kết quả điều tra có căn cứ xác định do anh Đ trèo qua cửa kính xe ô tô ngã xuống đường gây nên. Do đó, Vũ Văn T không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với thương tích này.

2.3. Đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ, tăng hình phạt xử tù giam bị cáo và tăng bồi thường:

- Về tình tiết giảm nhẹ và hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi dùng côn gỗ đánh gây thương tích cho anh Đ và chị S và tự nguyện nộp 5.000.000đ tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện N để bồi thường thiệt hại, bị cáo có bố là ông Vũ Ngọc T1 đã từng tham gia cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước bị thương binh loại A và được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, được tặng kỷ niệm chương là chiến sỹ bảo về T5 cổ Quảng Trị năm 1972. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc tường hợp ít nghiêm trọng, nên toà án cấp sơ thẩm bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Bị cáo nhân thân tốt, lý lịch rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện nộp một phần tiền để bồi thường thiệt hại. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, án sơ thẩm cho bị cáo T được hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền là thoả mãn các điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại điều 65 BLHS và phù hợp với nghị quyết số 02/1018 và Nghị quyết số 01/2022 của HĐTP Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 BLHS về án treo.

- Về bồi thường dân sự: Tại phiên toà các khoản bồi thường án sơ thẩm quyết định anh Đ và chị S không có ý kiến gì. Anh, chị yêu cầu bị cáo phải bồi thường cản trước bên phải cửa xe ô tô trị giá thiệt hại 500.000đ và phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thương tích chấn thương gối trái của anh Đ11%.

Nhưng như đã phân tích phần trên, đã không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị hại đối với đề nghị xử lý bị cáo T về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” với hành vi làm hư hỏng cản trước bên phải cửa xe ô tô trị giá 500.000đ và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với thương tích chấn thương gối trái của anh Đ11%. Do đó, các bị hại kháng cáo buộc bị cáo Vũ Văn T phải bồi thường chung cho anh Đ và chị S giá trị cản trước bên phải cửa xe ô tô chịu trách nhiệm bồi thường đối với thương tích chấn thương gối trái của anh Đ11% là không có căn cứ chấp nhận.

9

[3] Về án phí: Các bị hại không được chấp nhận kháng cáo, nhưng thuộc trường hợp không phải chịu án phí HSPT.

Vì các lẽ trên

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 355; Điều 356 BLTTHS.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị hại Nguyễn Văn ĐTrần Thị S. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 28/3/2024 của TAND huyện Nga Sơn, Thanh Hóa.
  2. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Đ2 a Khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331; 333; 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 584; 585; 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc H.
  3. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Vũ Văn T cho chính quyền địa phương xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại điều 92 Luật THA hình sự 2019.

    Bị cáo được hưởng án treo trong thời gian thử thách cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của BLHS.

    * Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Vũ Văn T phải bồi thường chung cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Trần Thị S8.100.000đ (tám triệu một trăm nghìn đồng); và bồi thường riêng cho chị S23.524.000đ (hai mươi ba triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn đồng), bồi thường riêng cho anh Đ10.200.000đ (mười triệu hai trăm nghìn đồng). Tổng cộng các khoản chung và riêng buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đ và chị S41.824.000đ (bốn mươi mốt triệu tám trăm hai mươi tư nghìn đồng). Được trừ đi 5.000.000đ (Năm triệu đồng) của bị cáo đã nộp bồi thường thiệt hại, theo biên lai thu tiền số 0002354 ngày 26/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nga Sơn.

    Kể từ khi người được thi hành án có đơn thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.

10

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THDS.

  1. Án phí: Các bị hại không phải nộp án phí HSPT.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P7);
  • - TAND huyện Nga Sơn;
  • - VKSND huyện Nga Sơn;
  • - Công an huyện Nga Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Nga Sơn;
  • - Bị cáo; bị hại
  • - Lưu hồ sơ vụ án
  • - Lưu VP, Toà Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Dung

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-PT ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 98/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn T gây thương tích cho anh Điệp và chị Sáu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger