Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HSST

Ngày 16 – 8 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạnh Xuân Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tuấn và bà Lê Thị Huấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Vy – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2024/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 97/2024/QĐXXST – HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với:

1- Bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1992, tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Thôn H, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963; vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1992; con: 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/5/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên (nay là thị xã D), tỉnh Hà Nam xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong án phạt tù, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, đã được xóa án tích. Tạm giữ từ ngày 17/5/2024 đến ngày 26/5/2024 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; có mặt.

2- Người chứng kiến: Ông Bùi Văn T2, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 00 phút ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại tổ dân phố Đ, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Tổ công tác của Công an thị xã D phối hợp cùng Công an phường C, thị xã D tuần tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn H đang có hành vi cất giấu trong túi quần phía trước bên trái đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 01 túi nilon màu trắng viền màu xanh, loại túi có kẹp nhựa, kích thước khoảng (2,5x2,5)cm, bên trong túi có 06 viên nén màu đỏ. Tại đây, Nguyễn Văn H khai là ma tuý ngựa, mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ số tang vật có liên quan đồng thời đưa Nguyễn Văn H về trụ sở Công an thị phường C để làm việc.

Vật chứng, tài sản thu giữ, tạm giữ gồm: Thu giữ trong túi quần phía trước bên trái đang mặc của Nguyễn Văn H 01 vỏ bao thuốc lá T, bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2,5x2,5)cm, bên trong túi có 06 viên nén màu đỏ, được niêm phong trong phong bì dán kín ký hiệu QT01; Tạm giữ trong túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Văn H 02 điện thoại di động trong đó có 01 điện thoại nhãn hiệu Realme màu xanh có số IMEI1: 867069040157593, số IMEI2: 867069040157585 và 01 điện thoại đen trắng màu đen nhãn hiệu Nokia bên trong máy có lắp sim điện thoại có số sêril: 355764102878362, số sêri 2: 355764103878361, (02 máy có lắp sim điện thoại), được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02.

Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H tại thôn H, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 354/KL – KTHS ngày 22/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,575g (không phẩy năm trăm bảy mươi lăm gam) loại: Methamphetamine.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Nguyễn Văn H khai nhận: Do bản thân nghiện ma tuý nên khoảng 13 giờ 00 phút ngày 17 tháng 5 năm 2024, H một mình bắt xe ôm của một người đàn ông không quen biết (H khai không biết họ và tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này) đi lên khu vực B, xã tri T3, huyện P, thành phố Hà Nội để mua ma túy ngựa về sử dụng. Khi đến nơi, H xuống xe và gặp một người đàn ông. H khai không biết họ và tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, số điện thoại của người này. Do đã từng có lần mua ma túy của người đàn ông này nên khi gặp, H hỏi mua 500.000 đồng ma tuý ngựa, người đàn ông đồng ý bán. H đưa người đàn ông này 500.000 đồng, gồm 05 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Sau khi nhận tiền H đưa thì người này đưa cho H một túi nilon màu trắng. H kiểm tra thấy bên trong túi có 06 viên nén màu đỏ, biết đó là ma tuý ngựa nên H cầm cất vào bỏ bao thuốc lá Thăng L1 và bắt xe ôm đi về. Khi về đến trường học tiểu học phường C, thị xã D thì H xuống xe, đi bộ về qua khu trang trại chăn nuôi thuộc tổ dân phố Đ, phường C, thị xã D tìm chỗ sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Về nguồn gốc số tiền 500.000 đồng mà Nguyễn Văn H dùng để mua ma túy: Quá trình điều tra H khai đây là số tiền do H lao động mà có.

Cáo trạng số 92/CT – VKS ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn H mức án từ 24 (hai mươi tư) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn H không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, ĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Hồi 14 giờ 00 phút ngày 17/5/2024, tại khu vực trang trại thuộc Tổ dân phố Đ, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn H có hành vi cất giữ trái phép 0,575g ma túy, loại: Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Công an phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam kiểm tra, phát hiện lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương. Hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân của Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, bản Cáo trạng số 92/CT – VKS – DT ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

Bị cáo là người có nhân thân xấu. Không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ nhận định trên, nhận thấy hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy. Vì vậy, sau khi xem xét mọi mặt, HĐXX xét thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo hiện tại là người không có nghề nghiệp, thu nhập nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về các hành vi, tình tiết khác: Đối với người đàn ông làm nghề xe ôm đã chở H đi mua ma túy và người đàn ông ở khu vực B, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội đã bán ma túy cho H: Quá trình đấu tranh, Nguyễn Văn H khai không có thông tin về tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của những người này. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xử lý những người này là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong có số 354/KTHS có dấu giáp lai của Phòng K - Công an tỉnh H: HĐXX xác định đây là mẫu vật hoàn trả sau giám định ma túy, là vật chứng cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 02 điện thoại di động trong đó có 01 điện thoại nhãn hiệu Realme màu xanh và 01 điện thoại đen trắng màu đen nhãn hiệu Nokia: Quá trình đấu tranh xác định đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến nội dung vụ án nên trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Nguyễn Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2024.

  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    • Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có số 354/KL – KTHS và ba dấu giáp lai của Phòng K - Công an tỉnh H.

    • Trả lại bị cáo Nguyễn Văn H: 02 điện thoại di động trong đó có 01 điện thoại nhãn hiệu Realme màu xanh và 01 điện thoại đen trắng màu đen nhãn hiệu Nokia.

    (Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận giữa Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam và Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ngày 09/7/2024).

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng.

Báo cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- TAND tối cao;

- TAND tỉnh Hà Nam;

- VKSND tỉnh Hà Nam;

- Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên;

- VKSND thị xã Duy Tiên;

- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;

- Cơ quan THAHS Công an tx Duy Tiên;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;

- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mạnh Xuân Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HSST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 98/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger