Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————————————

Bản án số: 98/2024/HSST.

Ngày: 22/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Việt Chương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Quách Trung Sơn.
  • 2. Ông Võ Văn Cường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tín - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè tham gia phiên toà: Ông Đinh Văn Thông - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2024/TLST- HS ngày 02/10/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST- HS, ngày 11/10/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn U ( tên gọi khác Út Quần Xì ), sinh năm: 1983, tại Tiền Giang; căn cước công dân số : [...]; nơi đăng ký thường trú: ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; chổ ở hiện nay: không có chỗ ở cố định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G ( chết) và bà Nguyễn Thị M ( chết); anh chị em ruột có 08 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình, bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự : Không.

Về nhân thân: Vào ngày 05/8/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, hiện bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 12/11/2016.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.( bị cáo có mặt).

Bị hại:

  • 1- Anh Trần Sỹ H, sinh năm: 1978. Nơi cư trú: ấp X, xã Y, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.( vắng mặt).
  • 2- Anh Mai Thanh N, sinh năm: 1982. Nơi cư trú: ấp X, xã Y, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.( vắng mặt).
  • 3- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1986. Nơi cư trú: ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.( vắng mặt).
  • 4- Chị Võ Thị Q, sinh năm: 1987. Nơi cư trú: ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên ngày 24/3/2019, bị cáo Nguyễn Văn U nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó bị cáo Út đi bộ trên các tuyến đường đan nông thôn thuộc xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tìm tài sản của người dân để trộm cắp.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, bị cáo Út đi đến nhà của ông Nguyễn Văn Bé Lý, sinh năm 1949 ở ấp Mỹ Phúc, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè, bị cáo Út nhìn thấy nhà không đóng cửa, người trong nhà đã ngủ nên bị cáo đi vào nhà. Bị cáo đi vào khu vực nhà trước, nhìn thấy anh Trần Sỹ H, sinh năm 1978, thường trú ấp X, xã Y, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đang nằm ngủ trên giường bên cạnh có 01 điện thoại hiệu Samsung loại J7 màu vàng đen nên bị cáo Út trộm cắp điện thoại Samsung loại J7 bỏ vào túi quần.

Bị cáo Út tiếp tục đi ra khu vực nhà sau, nhìn thấy anh Mai Thanh N, sinh năm 1982, thường trú ấp X, xã Y, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đang nằm ngủ trên giường bên cạnh có 01 điện thoại di động hiệu Samsung loại J4 màu vàng gold và cái bóp, bị cáo liền trộm cắp điện thoại Samsung loại J4 rồi mở cái bóp lấy trộm số tiền 130.000 đồng bên trong bóp bỏ túi quần.

Sau khi trộm cắp được tài sản, bị cáo Út đi ra hướng Quốc lộ 1, lúc này Công an xã Thiện Trí, huyện Cái Bè đang tuần tra phát hiện bị cáo có biểu hiện nghi vấn nên đưa về trụ sở Công an làm việc. Kết quả xác minh bị cáo Út thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của anh Hòa và anh Năm, sau đó bị cáo Út bỏ trốn.

Đến ngày 09/5/20219, bị cáo Út tiếp tục đi bộ trên các tuyến đường đan nông thôn thuộc địa bàn xã Mỹ Hội, huyện Cái Bè để tìm tài sản của người dân trộm cắp. Khoảng 23 giờ cùng ngày, bị cáo Út đi đến nhà chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1986 ở ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, nhìn thấy nhà đóng cửa nhưng không khóa nên bị cáo Út đi vào trong nhà trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Asus màu đen, vỏ phía sau màu trắng để trên thành cửa sổ trong phòng ngủ của chị Tím để vào túi quần rồi bị cáo Út tiếp tục đi trộm cắp tài sản.

Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/5/2019, bị cáo Út đi đến nhà chị Võ Thị Q, sinh năm 1987, ở ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, nhìn thấy cửa nhà không khóa, bị cáo Út mở cửa đi vào phòng ngủ của chị Quý rồi trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen loại 105 bỏ vào túi quần rồi bị cáo đi ra. Bị cáo đi được một đoạn đến khu vực xã Thiện Trí gặp Công an xã Thiện Trí đang tuần tra, phát hiện bị cáo có biểu hiện nghi vấn nên đưa về trụ sở làm việc. Kết quả xác minh, bị cáo Út thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của chị Tím và chị Quý. (Bút lục số 01-04; 82-127; 166-172).

Bản kết luận định giá tài sản số 47/KLĐG-TTHS ngày 05/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện Cái Bè xác

định: 01 điện thoại di động hiệu Samsung j4 màu vàng gold trị giá 2.280.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung loại J7 màu vàng đen trị giá 1.960.000 đồng. (Bút lục số 71).

Bản kết luận định giá tài sản số 71/KLĐG-TTHS ngày 10/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện Cái Bè xác định: 01 điện thoại di động hiệu Asus t100f zenphone 2gb màu đen, vỏ phía sau màu trắng trị giá 800.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại 105 màu đen trị giá 200.000 đồng. (Bút lục số 74).

Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập và vật chứng thu giữ.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Vật chứng trong vụ án gồm:

  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung j4 màu vàng gold;
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung loại J7 màu vàng đen;
  • 01 điện thoại di động hiệu Asus t100f zenphone 2gb màu đen, vỏ phía sau màu trắng;
  • 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại 105 màu đen.

- Đối với số tiền 130.000 đồng, bị cáo Út làm rơi mất nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trao trả các tài sản trên cho người bị hại. (Bút lục 76-81).

Về trách nhiệm dân sự: Các anh Trần Sỹ H, anh Mai Thanh N, chị Nguyễn Thị T và chị Võ Thị Q đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo Út phải bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 75/CT- VKSCB ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn U về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Văn U khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, Tiền Giang truy tố đối với bị cáo.

- Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố theo Bản cáo trạng số 75/CT- VKSCB ngày 02/10/2024. Xác định bị cáo Nguyễn Văn U phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 điều 51 và điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn U từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Sỹ H, anh Mai Thanh N, chị Nguyễn Thị T và chị Võ Thị Q đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] - Nhận thấy, người bị hại anh Trần Sỹ H, anh Mai Thanh N, chị Nguyễn Thị T và chị Võ Thị Q vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt.

[2]- Xét các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật tố Tụng hình sự. Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[3] - Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo Nguyễn Văn U tại phiên tòa phù hợp với vật chứng thu giữ, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản, lời khai của người bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh tụng tại phiên toà, nên có đủ cơ sở xác định: Trong các ngày 24/3/2019, ngày 09/5/2019 và ngày 10/5/2019, tại nhà ông Nguyễn Văn Bé Lý ở ấp Mỹ Phúc, xã Thiện Trí, huyện Cái Bè; nhà chị Nguyễn Thị T ở ấp X, xã Y, huyện Cái Bè và nhà chị Võ Thị Q ở ấp X, xã Y, huyện Cái Bè; Nguyễn Văn U đã có hành vi trộm cắp của ông Trần Sỹ H 01 điện thoại hiệu Samsung loại J7 màu vàng đen trị giá 1.960.000 đồng, trộm cắp của anh Mai Thanh N 01 điện thoại di động hiệu Samsung loại J4 màu vàng gold trị giá 2.280.000 đồng và số tiền 130.000 đồng; trộm cắp của chị Nguyễn Thị T 01 điện thoại di động hiệu Asus màu đen trị giá 800.000 đồng và trộm cắp của chị Võ Thị Q 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại 105 màu đen trị giá 200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 5.370.000 đồng.

Nên có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn U phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

[4] - Về ý thức chủ quan bị cáo phải nhận thức được rằng, tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi trái pháp luật chiếm đoạt tài sản của người khác sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Thế nhưng, chỉ vì tham lam mà thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài. Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, nên xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc là cần thiết, có như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe, phòng chống tội phạm chung cho xã hội.

[5]- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo,

ăn năn hối cải được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7]- Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại nên không đặt ra xem xét.

[8]- Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Sỹ H, anh Mai Thanh N, chị Nguyễn Thị T và chị Võ Thị Q đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[9]- Xét thấy lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về tội danh, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10]- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn U phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

1- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn U phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn U 01( một) năm tù. Thời gian chấp hành bản án kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.

2- Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Văn U phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3- Bị cáo Nguyễn Văn U được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Trần Sỹ H, anh Mai Thanh N, chị Nguyễn Thị T và chị Võ Thị Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND. tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND. tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND. huyện Cái Bè;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra
  • Công an huyện Cái Bè;
  • - Chi cục THADS. huyện Cái Bè ;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trương Việt Chương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HSST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 98/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP TÀI SẢN NGUYỄN VĂN ÚT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger