Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HS-ST

Ngày: 31/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU – TỈNH GIALAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tô Thị Lành, ông Quách Đình Hoằng.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lệ Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Cao Thảo Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Kiều H

Họ và tên: Trần Kiều H (ten gọi khác: Trần Thái H1); Giới tính: N; sinh năm 1972 tại Thái Bình; Nơi cư trú: Nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Tin lành; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do.

Cha: Trần Thế C (đã chết); Mẹ: Đặng Thị T (đã chết).

Bị cáo có 03 người em ruột (lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1982).

Vợ: Đỗ Thị Thúy D - Sinh năm 1981; Bị cáo có 02 người con (sinh năm 2005 và năm 2007). Hiện vợ và các con của bị cáo trú tại: Thị trấn N, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh.

Tiền án, tiền sự: không.

Về nhân thân:

Tại bản án số 50/2021/HS-ST ngày 17/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử, tuyên phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Chấp hành án tại trại giam C3 – Bộ C4; đến ngày 07/9/2023, chấp hành xong hình phạt tù.

Tại bản án số 52/2000/HSPT ngày 06/11/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử, tuyên phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân”. Chấp hành án tại tạm giam Tống Lê C1.

Tại bản án số 173/2016/HSPT ngày 14/12/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử, tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của Cơ quan, tổ chức”. Chấp hành án tại tạm giam X – Bộ C4; đến ngày 05/3/2018, chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo Trần Kiều H bị bắt tạm để giam từ ngày 07/9/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Trần Văn T1 – sinh năm: 1966; Địa chỉ: A A, phường H, Tp P, tỉnh Gia Lai. (vắng mặt tại phiên tòa).
  2. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông T1 có ông Vũ Quang K, sinh năm: 1959 – Luật sư thuộc Công ty TNHH MTV V1 – Đoàn luật sư tỉnh G.

Địa chỉ: 8 đường B, phường P, Tp P, tỉnh Gia Lai.

Luật sư K có mặt Tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2018, Trần Kiều H có quan hệ với ông Bùi Thịnh V, sinh năm 1972 (trú tại tổ dân phố G, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông) nên thường xuyên đến nhà ông V tại thành phố G chơi. Tại đây, H gặp được ông Trần Văn T1 (lúc này đang làm Giám đốc V2 – Chi nhánh Đ1) nên làm quen; H giới thiệu với ông T1 là H đang làm cộng tác tình báo ở Bộ Q. Sau nhiều lần gặp nhau tại thành phố G, tỉnh Đắk Nông, giữa H và ông T1 có mối quan hệ thân thiết. Quá trình quen biết, H đã nhiều lần vay mượn tiền của ông T1 (khoảng 500.000.000 đồng nhưng không viết giấy tờ vay mượn gì) và H cũng đã cho ông T2 mượn nhiều ô tô về để sử dụng và đi thử. Biết ông T1 có nhu cầu mua xe ô tô hạng sang nên khoảng tháng 4/2019, H đã giới thiệu cho ông T1 mua xe ô tô nhãn hiệu LEXUS, loại RX450H để đi lại. H đưa ra thông tin là xe ô tô của Bộ Q đăng ký biển số doanh nghiệp ở thành phố Hải Phòng, H mua thanh lý của cơ quan. H thỏa thuận bán lại cho ông T1 với giá 1.300.000.000 đồng và cam đoan 03 năm sau mới sang tên cho ông T1, đồng thời gửi hình ảnh xe ô tô qua Zalo cho ông T1 xem. Ông T1 đồng ý mua xe nhưng nói H chưa đủ tiền nên trả trước 450.000.000 đồng thì H đồng ý. Ngày 07/5/2019, ông T1 sử dụng tài khoản của ông T1 tại Ngân hàng Q1 (M) số 3010168999999 chuyển 03 lần với tổng số tiền 450.000.000 đồng với nội dung là chuyển tiền xe, vào tài khoản Ngân hàng S số [...] của Trần Kiều H. Đến cuối tháng 5 năm 2019, H giao xe ô tô nhãn hiệu LEXUS, loại RX450H, gắn biển số 15A-189.88 cùng các giấy tờ xe cho ông T1 tại trước quán C5, địa chỉ: Tổ D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Do tin tưởng H nên ông T1 không kiểm tra giấy tờ và số khung số máy của xe. Quá trình giao nhận, mua bán xe, hai bên không làm giấy tờ thủ tục mua bán mà H có cam kết với ông T1 quá trình sử dụng xe nếu xe có vấn đề về pháp lý (nguồn gốc xe, tranh chấp...) thì H sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm và 03 năm sau sẽ sang tên cho ông T1.

Sau khi mua xe ô tô trên của H, ông T1 sử dụng đến giữa năm 2020 thì ông T1 có liên lạc và gọi điện cho H báo là xe ô tô gắn biển số 15A-189.88 sắp hết hạn đăng kiểm.

Ông T1 hỏi H đăng kiểm xe ở đâu; ban đầu H trả lời ông T1 mang xe đăng kiểm ở đâu cũng được nhưng sau đó H nói vì là xe mua thanh lý của Bộ Q nên để H làm các thủ tục đăng kiểm cho ông T1. Sau đó, H đã liên hệ với đối tượng Nguyễn Khắc C2 để đặt Chánh làm. Khoảng 10 ngày sau, H đã nhận được các giấy tờ của xe ô tô gắn biển số 15A-189.88, gồm: 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA 8924936, 01 tem kiểm định số DA 8924936 và 01 tem nộp phí đường bộ số 1A 9278274 và H đã gửi cho ông T1 qua đường bưu điện để ông T1 sử dụng.

Sau khi nhận các giấy tờ kiểm định xe của H, ông T1 sử dụng khi điều khiển xe tham gia giao thông. Vào ngày 18/12/2022, ông T1 đã điều khiển xe đi trên đường Phạm Văn Đồng khu vực ngã ba chợ T5, thành phố P) và đã vi phạm không chấp hành tín hiệu giao thông. Vào lúc 15 giờ 13 phút ngày 18/12/2022, qua hệ thống giám sát camera, Công an thành phố P phát hiện xe ô tô biển số 15A-189.88 có hành vi vi phạm: Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông tại đường P – Trần Quang D1 (khu vực chợ T5, thành phố P). Qua tra cứu, xác định xe tô tô biển số 15A-189.88 là của CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN T6 VÀ VẬN TẢI BIỂN GIANG THUỶ (đia chỉ: Số E P, Đ, H, Hải Phòng) nên ngày 10/01/2023, Công an thành phố P đã có thông báo cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 T3. Đến ngày 08/02/2023, Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 đã có công văn phúc đáp số 12/CV-GT ngày 30/01/2023, xác nhận không tham gia giao thông tại thành phố P, Gia Lai vào thời điểm trên, đồng thời cung cấp hình ảnh giấy tờ chính chủ, đặc điểm về biển số xe và đặc điểm xe đang sử dụng (trùng khớp nhãn hiệu, loại xe, màu sơn; nhưng khác biệt về biển số gắn trên xe là loại biển số hình chữ nhật, trong khi biển số xe trong thông báo vi phạm là biển số hình vuông).

Đến sáng ngày 04/3/2023, qua công tác nắm tình hình, Cơ quan điều tra đã phát hiện xe ô tô biển số 15A-189.88 lưu thông trên đường T, phường T, thành phố P, Gia Lai do Trần Văn T1 (sinh năm: 1966; trú tại: Số A đường A, phường H, P, Gia Lai) là người điều khiển xe nên đã yêu cầu ông T1 dừng xe và đưa xe về Công an thành phố Pleiku để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, ông T1 xác nhận có điều khiển phương tiện nêu trên vi phạm hành vi: Không chấp hành hiệu lệnh đèn tín hiệu giao thông vào lúc 15 giờ 13 phút ngày 18/12/2022 tại đường P (khu vực chợ T5, thành phố P, tỉnh Gia Lai) nhưng không xuất trình được giấy chứng nhận đăng ký xe. Tiến hành kiểm tra trong cốp sau xe phát hiện có 03 biển số xe, gồm: 02 biển số đều mang số 15A-18988 (01 biển hình vuông, 01 biển hình chữ nhật) và 01 biển số 51H-27569 (loại biển hình vuông) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T đã lập biên bản tạm giữ các biển số trên.

Đến ngày 06/3/2023, ông Trần Văn T1 đã đến Công an thành phố P xuất trình 01 Giấy chứng nhận Đăng ký xe ô tô mang tên chủ sở hữu Công ty TNHH T6, có số 063235, 01 Giấy chứng nhận kiểm định ATKT&BVMT PTGTCGĐB số DA8924936 của xe ô tô biển số 15A-18988. Kiểm tra thực tế chiếc xe ô tô đã thu giữ của ông T1 có số máy 2GR1395151*, số khung JTJBC1BA1B2417529. Kết quả tra cứu tại phòng C6 Công an tỉnh G, xác định: xe ô tô có số máy 2GR1395151*, số khung JTJBC1BA1B2417529 không tìm thấy dữ liệu tra cứu. Tra cứu tại Công ty TNHH đăng kiểm xe cơ giới tỉnh G, xác định: xe ô tô con biển số 15A – 189.88T nhãn hiệu LEXUS, số loại RX450HAWD, có số khung 2T2BC1BA0FC005186, số máy J989666* do Công ty TNHH T6 (địa chỉ: E P, Đ, H, Hải Phòng) đăng ký chủ phương tiện vào ngày 23/5/2015; phương tiện có số máy 2GR1395151*, số khung JTJBC1BA1B2417529 không có trên cơ sở dữ liệu của Cục Đ2. Như vậy, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do ông T1 xuất trình không trùng khớp với ngày đăng ký trong tra cứu; Giấy chứng nhận kiểm định do ông T1 xuất trình không trùng khớp với các đặc điểm trong giấy chứng nhận đăng ký và tra cứu phương tiện nên Cơ quan điều tra đã thu giữ Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy chứng nhận kiểm định trên của ông T1.

Quá trình điều tra vụ án, ông Trần Văn T1 khai báo: Sau khi mua xe kèm theo các giấy tờ: Giấy chứng nhận đăng ký xe; Giấy chứng nhận kiểm định, tam kiểm định và tem nộp phí sử dụng đường bộ của H, ông T1 đã sử dụng hàng ngày. Khi mua và nhận xe, do tin tưởng H nên ông T1 không kiểm tra số khung, số máy của xe ô tô và không kiểm tra trên xe ô tô có những gì. Đối với Giấy chứng nhận kiểm định, tem kiểm định và tem nộp phí đường bộ này khi hết hạn thì ông T1 đã xe bỏ và dán cái mới vào. Khi xe ô tô LEXUS biển số 15A-189.88 hết hạn đăng kiểm, ông T1 đã gọi điện thoại cho H hỏi thủ tục đăng kiểm thì H đã nói có quen các Trung tâm đăng kiểm, để H nhờ người làm. Sau khi nhận được 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA 8924936, 01 Tem kiểm định số DA 8924936 và 01 Tem nộp phí đường bộ số 1A 9278274 do H gửi, ông T1 tin tưởng những tài liệu trên là thật nên đã sử dụng khi điều khiển xe tham gia giao thông.

Bị cáo Trần Kiều H khai: Nguồn gốc chiếc xe ô tô gắn biển số 15A – 189.88 mà H đã bán cho ông Trần Văn T1 là do H mua của Nguyễn Khắc C2 ở Hải Phòng. Khi mua xe, C2 đã giao cho H giấy đăng ký xe cùng các giấy tờ: Giấy chứng nhặn đăng kiểm, tem kiểm định và tem nộp phí đường bộ cùng 02 biển số đều mang số 15A-18988 (01 biển hình vuông, 01 biển hình chữ nhật) và 01 biển số 51H-27569 (biển hình vuông). Khi bán xe cho ông T1, H đã để các biển số này trên xe để ông T1 thích biển số nào thì sau này sẽ sang tên theo biển số đó. Khi xe ô tô hết hạn đăng kiểm, ông T1 gọi điện thoại hỏi thủ tục đăng kiểm thì H đã đặt Chánh làm Giấy chứng nhận kiểm định số DA 8924936, Tem kiểm định số DA 8924936 và Tem nộp phí đường bộ số 1A 9278274 với số tiền 2.000.000 đồng rồi đưa cho ông T1 sử dụng.

Trên cơ sở lời khai của H, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và ghi lời khai của Nguyễn Khắc C2 (đang chấp hành án tại Trại Giam X – Bộ C4), C2 khai: Vào năm 2018, thông qua các mối quan hệ xã hội Chánh có quen biết với Trần Kiều H. Đến cuối năm 2018, H có nhờ Chánh làm giả 03 bộ giấy tờ (mỗi bộ gồm: 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 Giấy chứng nhận kiểm định, 01 Tem kiểm định và T4 nộp phí đường bộ) cho 03 xe ô tô (xe H có sẵn, nhập từ nước ngoài, không có biển số) giúp cho H; sau đó, C2 nhờ đối tượng tên Đ (không rõ nhân thân lai lịch) làm 03 bộ giấy tờ trên. Sau khi C2 nhận được các giấy tờ trên thì C2 đã gửi cho H. Còn chiếc xe ô tô LEXUS gắn biển số 15A – 189.88, Chánh khẳng định không bán cho H và không làm Giấy chứng nhận kiểm định số DA 8924936 (cấp ngày 19/12/2022), T4 kiểm định số DA 8924936 (có hiệu lực đến ngày 18/12/2023) và T4 nộp phí đường bộ số 1A 9278274 (đã nộp phí đến ngày 18/12/2023).

Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 19/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố bị cáo Trần Kiều H về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Kiều H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017;

Áp dụng: Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo Trần Kiều H từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2023.

Vật chứng của vụ án:

Đối với 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 063235; tên chủ xe: CÔNG TY TNHH T6 THỦY; của xe ô tô con, nhãn hiệu: LEXUS, loại xe: RX450H, màu đen, biển kiểm soát 15A-189.88, số khung J989666, số máy 1BAOFC005186; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số DA 8924936, của xe Ô tô con, nhãn hiệu: LEXUS, số lại: RX450HAWD, biển kiểm soát 15A-189.88, số khung J989666, số máy 2T2BC1BA0FC005186; 01 (một) Tem kiểm định số DA 8924936 trên có nội dung “★BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI★ CỤC ĐĂNG KIỂM VIỆT NAM AN TOÀN KỸ THUẬT No: DA 8924936 12/2023 15A-189.88 Có hiệu lực đến ngày 18/12/2023 BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG”, tất cả đều là tài liệu giả, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku lưu tại hồ sơ vụ án.

Đối với biển số 51H-275.69 qua tra cứu, xác định là biển số thu hồi, chưa được sử dụng để lưu hành; đối với chiếc xe tô tô nhãn hiệu: LEXUS, loại xe: RX450H, màu đen, biển kiểm soát 15A-189.88 theo xe, số khung: JTJBC1BA1B2417529; Số máy: J395151; qua xác minh tra cứu cơ sở dữ liệu của các cơ quan chức năng tại Việt Nam, không có thông tin, nguồn gốc. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục tạm giữ để điều tra, xác minh và xử lý sau.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2].Tại phiên tòa bị cáo Trần Kiều H khai nhận: Vào thời gian khoảng tháng 4/2019, qua mối quan hệ quen biết với ông Trần Văn T1 nên Trần Kiều H đã tự giới thiệu là người cộng tác của Cục tình báo Bộ Q và H đã giới thiệu có xe ô tô LEXUS biển số 15A-189.88 là xe của Bộ Q bán thanh lý để bán cho ông Trần Văn T1 giá 1.300.000.000 đồng; ông T1 đã đồng ý mua và đưa trước số tiền 450.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản cho H. Sau khi mua xe cùng các giấy tờ: Giấy chứng nhận đăng ký xe; Giấy chứng nhận kiểm định, tem kiểm định và tem nộp phí sử dụng đường bộ của H, ông T1 để sử dụng khi tham gia giao thông. Khi xe ô tô LEXUS biển số 15A-189.88 hết hạn đăng kiểm, ông T1 đã gọi điện thoại cho H hỏi thủ tục đăng kiểm thì H đã nói vì xe mua thanh lý của Bộ Q nên để H làm các thủ tục đăng kiểm cho ông T1. H khai: H đã nhờ Nguyễn Khắc C2 làm thủ tục đăng kiểm (tuy nhiên Chánh không thừa nhận). Sau khi nhận được 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA 8924936, 01 Tem kiểm định số DA 8924936 và 01 Tem nộp phí đường bộ số 1A 9278274 từ Chánh thì H đã gửi cho ông Trần Văn T1 để ông T1 sử dụng. Nhận được các giấy tờ này, ông T1 tin tưởng những tài liệu trên là thật nên đã sử dụng hàng ngày khi điều khiển xe tham gia giao thông.

Qua giám định, Giấy chứng nhận kiểm định số DA 8924936, Tem kiểm định số DA 8924936 và Tem nộp phí đường bộ số 1A 927827 là giả.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Kiều H2 tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung 2017.

Xét hành vi nhờ người khác làm giả Giấy chứng nhận kiểm định số DA 8924936 (cấp ngày 19/12/2022), T4 kiểm định số DA 8924936 (có hiệu lực đến ngày 18/12/2023) và T4 nộp phí đường bộ số 1A 9278274 (đã nộp phí đến ngày 18/12/2023) với giá 2.000.000 đồng; sau đó bị cáo Trần Kiều H đã gửi cho ông Trần Văn T1 sử dụng vào mục đích cá nhân, vì vậy hành vi của Trần Kiều H thực hiện như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản và trật tự trị an xã hội. Hành vi đó của bị cáo Trần Kiều H đã phạm vào tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuy nhiên HĐXX cũng có phần xem xét cho các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo có công với cách mạng bố của bị cáo là thương bệnh binh 61%, nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét cho bị cáo. Dù có xem xét đến đâu HĐXX cũng cần xét đến nhân thân của bị cáo liên tiếp từ năm 2000 đến nay bị cáo đã bị xét xử các lần như sau:

  • Tại bản án số 50/2021/HS-ST ngày 17/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử, tuyên phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Chấp hành án tại trại giam C3 – Bộ C4; đến ngày 07/9/2023, chấp hành xong hình phạt tù.
  • Tại bản án số 52/2000/HSPT ngày 06/11/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử, tuyên phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân”. Chấp hành án tại tạm giam Tống Lê C1.
  • Tại bản án số 173/2016/HSPT ngày 14/12/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử, tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của Cơ quan, tổ chức”. Chấp hành án tại tạm giam X – Bộ C4; đến ngày 05/3/2018, chấp hành xong hình phạt tù.

Từ sự phân tích trên HĐXX cần phải lên cho bị cáo một mức án nghiêm khắc để bị cáo có thời gian cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[3] Đối với Nguyễn Khắc C2 là người mà Trần Kiều H khai nhờ làm giả các tài liệu, mặc dù Nguyễn Khắc C2 khai làm giả 03 bộ tài liệu cho 03 xe ô tô (không rõ biển số) giúp cho Trần Kiều H. Tuy nhiên, C2 không biết hiện các tài liệu giả này đang ở đâu, Cơ quan điều tra không thu giữ được để trưng cầu giám định tài liệu. Ngoài ra, C2 không thừa nhận làm giả các tài liệu (gồm: Giấy chứng nhận kiểm định số DA 8924936 (cấp ngày 19/12/2022), T4 kiểm định số DA 8924936 (có hiệu lực đến ngày 18/12/2023) và T4 nộp phí đường bộ số 1A 9278274 (đã nộp phí đến ngày 18/12/2023)) đối với xe ô tô Lexus gắn biển số 15A – 189.88 cho Trần Kiều H. Do chỉ có lời khai của Trần Kiều H thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh Nguyễn Khắc C2 làm giả các tài liệu này. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ và sẽ xem xét, xử lý sau.

Đối với đối tượng Đ là người Nguyễn Khắc C2 khai nhờ Đ làm giả 03 bộ tài liệu cho 03 xe ô tô, sau đó giao cho H. Hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, địa chỉ của Đ nên chưa có căn cứ để điều tra, xử lý. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và sẽ xem xét, xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng Giấy chứng nhận kiểm định số DA 8924936 (cấp ngày 19/12/2022), T4 kiểm định số DA 8924936 (có hiệu lực đến ngày 18/12/2023) và T4 nộp phí đường bộ số 1A 9278274 (đã nộp phí đến ngày 18/12/2023) của ông Trần Văn T1: Do có mối quan hệ quen biết với Trần Kiều H nên ông T1 có mua của H 01 xe ô tô LEXUS biển số 15A-189.88. Khi mua H có nói trước với ông T1 khi nào xe ô trên hết hạn đăng kiểm thì gọi cho H để H nhờ các Trung tâm đăng kiểm làm. Vì vậy, khi xe đến hạn đăng kiểm ông T1 đã gọi điện thoại cho H để nhờ làm. Sau khi đặt làm các tài liệu trên, H nhận và gửi cho ông T1 thì H cũng không nói cho ông T1 biết những tài liệu này là giả. Bản thân ông T1 tin tưởng H và không biết các tài liệu trên là giả. Do đó, không đủ căn cứ xử lý ông T1 về hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

Đối với hành vi Trần Kiều H sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 063235 giả, bán xe ô tô LEXUS, gắn biển số 15A-189.88 cho ông Trần Văn T1 xảy ra tại thành phố G, tỉnh Đăk Nông vào năm 2019. Quá trình trao đổi thẩm quyền điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G xác định hiện chưa làm rõ được đối tượng làm giả tài liệu là ai, ở đâu, làm giả như thế nào nên cho rằng thẩm quyền điều tra thuộc cơ quan phát hiện là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục áp dụng các biện pháp nghiệp vụ xác minh, khi xác định được đối tượng làm giả tài liệu sẽ đề xuất chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G, tỉnh Đăk Nông xử lý theo quy định.

Đối với việc ngày 18/12/2022, ông Trần Văn T1 điều khiển xe ô tô gắn biển kiểm soát 15A-189.88 có hành vi vi phạm: không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông tại ngã tư đường P giao chợ T5, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Ngày 04/3/2023, Công an thành phố P đã lập biên bản vi phạm hành chính số 0002203/BB-VPHC, Quyển số 0023 để xử phạt theo quy định.

Đối với việc ông Trần Văn T1 tố giác Trần Kiều H về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 15/3/2024, ông Trần Văn T1 có đơn xin rút đơn tố giác đối với Trần Kiều H với lý do quá trình mua bán xe ô tô LEXUS, gắn biển số 15A-189.88, H cam kết xe có nguồn gốc rõ ràng, sau 03 năm sẽ sang được tên cho ông T1. Ông T1 cũng đồng ý mua nên đây là giao dịch dân sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định xe có nguồn gốc không hợp pháp do đó ông T1 đề nghị hủy bỏ giao dịch, trả lại xe cho H và H phải thanh toán lại tiền mua xe và tiền nợ cho ông T1 với số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng (H viết giấy cam kết sẽ trả lại cho ông T1 sau, vì vậy ông T1 không yêu cầu giải quyết). Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với Trần Kiều H về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với biển số 51H-275.69 qua tra cứu, xác định là biển số thu hồi, chưa được sử dụng để lưu hành và chiếc xe tô tô nhãn hiệu: LEXUS, loại xe: RX450H, màu đen, biển kiểm soát 15A-189.88 theo xe, số khung: JTJBC1BA1B2417529; Số máy: J395151 H khai mua của một người qua giới thiệu của Nguyễn Khắc C2; Song quá trình điều tra, xác minh tra cứu cơ sở dữ liệu của các cơ quan chức năng tại Việt Nam, chưa thu thập được chứng cứ chứng minh ai là chủ sở hữu chiếc xe. Xét thấy chiếc xe này không phải là tang vật của vụ án và hiện nay chưa có chứng cứ chứng minh ai là chủ sở hữu cũng như các giấy tờ hợp pháp liên quan đến chiếc xe nên giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục tạm giữ để điều tra, xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Kiều H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".

    Áp dụng: Khoản 1 Điều 341, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Kiều H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 07/9/2023.

  2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.

    Căn cứ: Khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu lưu vào hồ sơ vụ án:

    • 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 063235; tên chủ xe: CÔNG TY TNHH T6; địa chỉ: số E P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, của xe Ô tô con, nhãn hiệu: LEXUS, loại xe: RX450H, màu đen, biển kiểm soát 15A-189.88, số khung J989666, số máy 1BAOFC005186. Mặt sau dưới mục “TRƯỞNG PHÒNG” có dấu tròn nội dung “★PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG★CÔNG AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG”, chữ ký mực xanh và dấu họ tên “Đại tá Vũ Văn G”.
    • 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số DA 8924936, của xe Ô tô con, nhãn hiệu: LEXUS, số lại: RX450HAWD, biển kiểm soát 15A-189.88, số khung J989666, số máy 2T2BC1BA0FC005186, Năm, Nước sản xuất: 2014, CANADA. Trang 03 dưới mục “ĐƠN VỊ KIỂM ĐỊNH” có dấu tròn nội dung “★BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI★CỤC ĐĂNG KIỂM VIỆT NAM – TRUNG TÂM ĐĂNG KIỂM XE CƠ GIỚI SỐ 15-01V”, chữ ký mực xanh và dấu họ tên “Nguyễn Đình O”.
    • 01 (một) Tem kiểm định số DA 8924936 trên có nội dung “★BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI★CỤC ĐĂNG KIỂM VIỆT NAM AN TOÀN KỸ THUẬT No: DA 8924936 12/2023 15A-189.88 Có hiệu lực đến ngày 18/12/2023 BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG”.
    • 01 (một) Tem nộp phí sử dụng đường bộ số 1A 9278274 trên có nội dung “★BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI★TEM NỘP PHÍ SỬ DỤNG ĐƯỜNG BỘ No: 1A 9278274 12/2023 15A-189.88. Đã nộp phí đến ngày 18/12/2023”.
  3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Trần Kiều H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay (ngày 31/5/2024) bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Gia Lai;
  • -VKSND thành phố Pleiku;
  • -Công an thành phố Pleiku;
  • -Chi cục THA dân sự;
  • -Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • -Bị cáo; Người bị hại;
  • -Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU – TỈNH GIALAI về hình sự (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 98/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU – TỈNH GIALAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Kiều hưng phạm tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger