Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐAN PHƯỢNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản số: 98/2024/HS-ST

Ngày: 26 - 11 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thuý.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Độ; Bà Nguyễn Thị Chiều.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, T phố Hà Nội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Bá T, sinh năm 2001 tại huyện Q, tỉnh B; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh H; nơi tạm trú: KCN Đài Tư, phường Phúc Lợi, quận Long Biên, T phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá M và bà Bùi Thị B; có vợ là Trần Thị Như Q và 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; danh bản, chỉ bản số 275 do Công an huyện Đan Phượng lập ngày 23/8/2024; tạm giữ, tạm giam: từ ngày 23/8/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đan Phượng, T phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Dương Thị Th, sinh năm 2002; nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh T; nơi tạm trú: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, T phố H; vắng mặt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ 16, phường V, quận H, T phố Hà Nội; vắng mặt.
  • + Chị Trần Thị Như Q, sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh N có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- 1 -

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 3 năm 2024, Nguyễn Bá T quen biết và có quan hệ tình cảm với chị Dương Thị Th. Quá trình quen biết với chịTh, do cần tiền ăn tiêu và trả nợ, Nguyễn Bá T đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Th. Trưa ngày 01/4/2024, tại nhà trọ của chịTh ở thôn Bãi Thụy, xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, T phố Hà Nội, lấy lý do về quê, T hỏi mượn chịTh chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển kiểm soát 22B2-746.51 cùng giấy đăng ký xe và hẹn ngày 02/4/2024 trả. Tin tưởng T, chịTh đồng ý. Sau khi nhận được xe, T điều khiển xe máy đến cửa hàng cầm đồ Bình M tại 241 Lĩnh Nam, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, T phố Hà Nội thỏa thuận bán cho anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1990 với giá 19.000.000 đồng. Quá trình mua xe, anh M hỏi nguồn gốc thì T nói mua của người quen nên không sang tên, kiểm tra số khung, số máy không có dấu hiệu đục phá, xe có đăng ký nên anh M đồng ý mua. Sau khi bán xe được 19.000.000 đồng, T cùng vợ là Trần Thị Như Q mang đi trả các khoản nợ của T, số tiền còn lại T tiêu xài hết. Đến ngày 02/4/2024, không thấy T trả xe máy theo như đã hẹn trước đó, chịTh gọi điện thoại liên lạc với T nhưng T nói dối là đang đi T phố Hồ Chí M chưa trả được. Sau đó, chịTh liên tục đòi xe, ngày 14/4/2024 T thừa nhận đã bán chiếc xe của chịTh, hẹn đến cuối tháng 4/2024 sẽ chuộc xe về, nếu chịTh muốn lấy xe ngay thì mang 21.000.000 đồng đến gặp T cùng đi chuộc xe. Tuy nhiên chịTh không đồng ý, ngày 21/4/2024 chịTh đến trình báo Công an huyện Đan Phượng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Đan Phượng, kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu sơn đen, biển kiểm soát 22B2-746.51 trị giá 21.560.000 đồng.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ những đồ vật, tài sản gồm:

  • - Thu giữ của anh Nguyễn Văn M: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu sơn đen, biển kiểm soát 22B2-746.51; 01 chứng nhận đăng ký xe máy biển kiểm soát 22B2-746.51, mang tên Sầm Thị Tình, sinh năm 1980 (trú tại thôn Hải Mô Đông, xã Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang); 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Bá T; 01 giấy bán xe có tên người bán Nguyễn Bá T.
  • - Thu giữ của Nguyễn Bá T 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S21 Ultra 5G màu đen.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Bá T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 94/CT-VKSĐP ngày 04/11/2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, T phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Bá T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng thực hành quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của Nguyễn Bá T về tội “Lừa đảo chiếm

- 2 -

đoạt tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Đề nghị về xử lý vật chứng, trách nhiệm bồi thường dân sự và án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng đã thực hiện việc khởi tố điều tra, truy tố đúng thẩm quyền. Trình tự thủ tục tiến hành thu thập chứng cứ, nội dung và căn cứ ban hành các quyết định tố tụng, thực hiện hành vi tố tụng đều tuân thủ đúng các qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bá T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác nên ngày 01/4/2024, tại nhà trọ của chịTh ở thôn Bãi Thụy, xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, lấy lý do về quê, T hỏi mượn chịTh chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển kiểm soát 22B2-746.51 cùng giấy đăng ký xe và hẹn ngày 02/4/2024 trả. Tin tưởng T, chịTh đồng ý, sau khi nhận được xe, T điều khiển xe máy đến cửa hàng cầm đồ Bình M tại 241 Lĩnh Nam, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, T phố Hà Nội bán cho anh Nguyễn Văn M với giá 19.000.000 đồng. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS đã kết luận chiếc xe máy T chiếm đoạt của chịTh có trị giá 21.560.000 đồng.

[3] Hành vi của Nguyễn Bá T lợi dụng sự cả tin của chịTh, T dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin gian dối để chị Th tin tưởng, giao tài sản cho và chiếm đoạt. Tài sản T chiếm đoạt của chịTh là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển kiểm soát 22B2-746.51 có trị giá 21.560.000 đồng. Hành vi trên của Nguyễn Bá T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo theo tội danh điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội tại địa phương, bởi vậy phải xử bị cáo mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo, giáo dục bị cáo T người tốt và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- 3 -

[6]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về nghĩa vụ bồi thường dân sự: Người bị hại là chị Dương ThịTh đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu sơn đen, biển kiểm soát 22B2-746.51 cùng 01 chiếc đăng ký xe mô tô, chị Th không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Anh Nguyễn Văn M yêu cầu bị cáo Nguyễn Bá T trả lại số tiền 19.000.000 đồng, đây là số tiền anh M mua xe máy do bị cáo chiếm đoạt mà có, chiếc xe hiện đã được trả cho chủ sở hữu, vì vậy buộc bị cáo Nguyễn Bá T phải trả lại số tiền 19.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn M là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S21 Ultra 5G màu đen là tài sản của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công; 01 bằng lái xe trả lại cho bị cáo.

[10] Đối với anh Nguyễn Văn M, khi mua xe máy của T không biết chiếc xe máy là tài sản do T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[11] Đối với Trần Thị Như Q, kết quả điều tra xác định Q là vợ hợp pháp của T; Q không bàn bạc từ trước và ban đầu Q không biết T có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; chỉ sau khi T bán xe Q mới biết hành vi phạm tội của T và Q có đến gặp anh M để lấy thêm tiền nhưng không được, cùng T đi trả nợ các khoản vay của T; ngoài ra Q còn có hành vi nhắn tin đe dọa chịTh, không trình báo Cơ quan điều tra về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T. Xét mối quan hệ của Q với T, mặt khác vi phạm của Q có mức độ nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý Q về các hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tiêu thụ tài sản do người phạm tội mà có; Che giấu tội phạm và Không tố giác tội phạm được quy định tại các Điều 174, 323, 389 và 390 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[12] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự

  • + Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 23/8/2024.

2. Về nghĩa vụ bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Bá T trả lại cho anh Nguyễn Văn M 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng).

3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Ultra màu đen bên trong lắp sim.
  • - Trả lại T 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Bá T.

- 4 -

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/11/2024 giữa Công an huyện Đan Phượng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng)

4. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 21, 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Bá T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 950.000 đồng (chín trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án, có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án, có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND T phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Đan Phượng, TP Hà Nội;
  • - CCTHADS huyện Đan Phượng, TP Hà Nội;
  • - Bị cáo, bị hại, NLQ...;
  • - UBND xã Tứ Cường, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Thuý

- 5 -

- 6 -

- 7 -

- 8 -

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 98/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng đầu tháng 3 năm 2024, Nguyễn Bá T quen biết và có quan hệ tình cảm với chị Dương Thị Th. Quá trình quen biết với chịTh, do cần tiền ăn tiêu và trả nợ, Nguyễn Bá T đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chịTh. Trưa ngày 01/4/2024, tại nhà trọ của chịTh ở thôn Bãi Thụy, xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, T phố Hà Nội, lấy lý do về quê, T hỏi mượn chịTh chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển kiểm soát 22B2-746.51 cùng giấy đăng ký xe và hẹn ngày 02/4/2024 trả. Tin tưởng T, chịTh đồng ý. Sau khi nhận được xe, T điều khiển xe máy đến cửa hàng cầm đồ Bình M tại 241 Lĩnh Nam, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, T phố Hà Nội thỏa thuận bán cho anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1990 với giá 19.000.000 đồng. Quá trình mua xe, anh M hỏi nguồn gốc thì T nói mua của người quen nên không sang tên, kiểm tra số khung, số máy không có dấu hiệu đục phá, xe có đăng ký nên anh M đồng ý mua. Sau khi bán xe được 19.000.000 đồng, T cùng vợ là Trần Thị Như Q mang đi trả các khoản nợ của T, số tiền còn lại T tiêu xài hết. Đến ngày 02/4/2024, không thấy T trả xe máy theo như đã hẹn trước đó, chịTh gọi điện thoại liên lạc với T nhưng T nói dối là đang đi T phố Hồ Chí M chưa trả được. Sau đó, chịTh liên tục đòi xe, ngày 14/4/2024 T thừa nhận đã bán chiếc xe của chịTh, hẹn đến cuối tháng 4/2024 sẽ chuộc xe về, nếu chịTh muốn lấy xe ngay thì mang 21.000.000 đồng đến gặp T cùng đi chuộc xe. Tuy nhiên chịTh không đồng ý, ngày 21/4/2024 chịTh đến trình báo Công an huyện Đan Phượng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger