Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ MỸ

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Bản án số: 98/2024/HS-ST

Ngày: 24/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

Bà Phan Thị Sơn.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Trường G - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 92/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 01/01/1985 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1945, mẹ: Huỳnh Thị Đ1, sinh năm 1950; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án:

  • Bản án số 58/HS-ST ngày 06/7/2017 bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
  • Bản án số 79/HS-ST ngày 02/8/2017 bị Toà án nhân dân huyện Tân Thành (nay là thị xã P) xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Bản án số 79/HS-ST ngày 10/8/2017 bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 16 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”.

Tổng hợp hình phạt 06 năm 04 tháng tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 15/7/2022.

Tiền sự: không.

Nhân thân:

  • Bản án số 162/HSST ngày 23/5/2007 bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”.
  • Bản án số 14/HSST ngày 21/01/2011 bị Toà án nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).

2. Trần Quang L, sinh ngày 18/3/1984 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trần Văn L1, sinh năm 1965, mẹ Nguyễn Thị Anh H, sinh năm 1965 (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Bà Trần Thị Ngọc A, sinh năm 1963. HKTT: 109 Khu Ô, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: Khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Phạm Yến N, sinh năm 1985. HKTT: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bến Tre. Chỗ ở: Ấp B, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
  2. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Tổ A, Khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở: Tổ A, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
  3. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ A, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 12/01/2024, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô hiệu Wave alpha màu đỏ, BKS: 60Y6 - 9398 đi từ nhà ở ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai đến phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để gặp bạn. Khi đi đến khu vực ngã ba M, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đ đứng dừng chờ đèn đỏ thì nhìn thấy bà Trần Thị Ngọc A đang điều khiển xe mô tô lưu thông ngược chiều đường trên Quốc lộ E theo hướng thị xã P đi huyện L, tỉnh Đồng Nai, trên cổ bà Ngọc A có đeo một sợi dây chuyền vàng nên Đ nảy sinh ý định cướp giật sợi dây chuyền trên. Đực quay đầu xe đi theo sau bà Ngọc A để đợi thời cơ thích hợp cướp giật sợi dây chuyền. Khi đi đến gần ngã tư Khu công nghiệp M - A2 thuộc khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thấy trên đường vắng người nên Đ điều khiển xe áp sát từ bên phải và dùng tay trái giật sợi dây chuyền trên cổ của bà Trần Thị Ngọc A rồi tăng ga bỏ chạy. Khi về đến nhà, Đ thấy Trần Quang L đang đến chơi nên Đ nhờ L đi bán sợi dây chuyền mới cướp giật được. Liêm biết sợi dây chuyền là do Đ phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý đi bán giúp Đ. Sau đó, L mang sợi dây chuyền đi đến Tiệm V ở ấp B, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai bán cho chị Nguyễn Phạm Yến N được 17.687.000đ (mười bảy triệu, sáu trăm tám mươi bảy nghìn đồng). L mang toàn bộ số tiền trên về đưa cho Đ, Đ lấy 500.000 đồng mua ma tuý cùng L sử dụng, số tiền còn lại Đực tiêu xài cá nhân hết. Quá trình làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P, Nguyễn Văn Đ, Trần Quang L đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 04/KL ngày 25/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự, UBND thị xã P kết luận: 01 sợi dây chuyền chất liệu vàng 61%, trọng lượng 4,33 chỉ. Tại thời điểm ngày 12/01/2024 trị giá: 16.887.000đ (mười sáu triệu, tám trăm tám mươi bảy nghìn đồng); 01 mặt dây chuyền hình Oval màu đỏ chất liệu là vàng 61%, trọng lượng 1,018 chỉ. Tại thời điểm ngày 12/01/2024 trị giá: 3.970.200đ (ba triệu, chín trăm bảy mươi nghìn, hai trăm đồng).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã trả lại sợi dây chuyền vàng kèm theo mặt dây chuyền cho bà Trần Thị Ngọc A theo Quyết định xử lý vật chứng số 104/QĐ ngày 24/01/2024; 01 USB lưu trữ đoạn video ghi lại hình ảnh Nguyễn Văn Đ cướp giật dây chuyền của bà Trần Thị Ngọc A lưu theo hồ sơ vụ án; Đối với chiếc xe mô tô hiệu Wave alpha màu đỏ, gắn BKS: 60Y6-9398; số khung chưa xác định được; số máy JA39E-1092360, Đực sử dụng làm phương tiện phạm tội hiện chưa xác định được chủ sở hữu; 01 áo khoác và 01 nón bảo hiểm đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại - bà Trần Thị Ngọc A đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm. Bà Lê Thị T1 và bà Nguyễn Thị C (là người nhà của các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Trần Quang L) đã bồi thường cho bà Nguyễn Phạm Yến N tổng số tiền 17.687.000đ, bà N đã nhận tiền và không có yêu cầu bồi thường thêm.

Tại bản cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, Truy tố bị cáo Trần Quang L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Trần Quang L về tội danh như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

Áp dụng điểm d, i Khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 05 năm đến 06 năm tù. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Áp dụng Khoản 1 Điều 323; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Quang L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác và 01 nón bảo hiểm; đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô gắn BKS: 60Y6-9398; số khung chưa xác định được; số máy JA39E-1092360.

Tại phiên toà, bà Lê Thị T1 và bà Nguyễn Thị C không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường cho bà Nguyễn Phạm Yến N.

Lời khai tại phiên toà: Các bị cáo khai nhận khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Các bị cáo không bào chữa. Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tội danh và khung hình phạt:

[2.1] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 09 giờ ngày 12/01/2024, tại đoạn đường Quốc lộ 51 khu vực gần ngã tư Khu công nghiệp M - A2 thuộc khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi điều khiển xe mô tô gắn BKS: 60Y6 - 9398 áp sát xe mô tô do bị hại - bà Trần Thị Ngọc A điều khiển rồi dùng tay trái cướp giật 01 sợi dây chuyền kèm theo mặt dây chuyền bằng vàng của bị hại. Sau khi cướp giật được dây chuyền, Đ mang về nhà rồi nhờ Trần Quang L đi bán giúp, L biết sợi dây chuyền trên do Đ phạm tội mà có những vẫn đồng ý đi bán giúp Đ được số tiền 17.687.000đ (mười bảy triệu, sáu trăm tám mươi bảy ngàn đồng).

Do đó, hành vi của bị cáo Đ thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự, hành vi của bị cáo L thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm được quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự,

[2.2] Về khung hình phạt:

Đối với bị cáo Đ: Bị cáo Đ sử dụng sử dụng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ để thực hiện hành vi phạm tội, có nguy cơ dẫn đến mất an toàn về sức khoẻ, tính mạng của bị hại khi đang tham gia giao thông; đồng thời bị cáo Đ phạm tội thuộc trường hợp đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự thì lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”. Tại Điều 171 Bộ luật hình sự quy định tình tiết “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung tăng nặng nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đ theo điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Bị cáo L biết rõ sợi dây chuyền là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn giúp Đ bán sợi dây chuyền này cho bà Nguyễn Phạm Yến N. Giá trị sợi dây chuyền là 20.857.200 đồng. Do đó hành vi của Trần Quang L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Khoản 1, Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định bản cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả nên áp dụng điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho mỗi bị cáo.

Bị cáo L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình có công với cách mạng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[3.3] Về nhân thân: Các bị cáo đều là người nghiện ma tuý. Bị cáo Đ là người có nhân thân xấu, đã bị kết án nhiều lần.

[4] Về mức hình phạt:

Bị cáo Đ là người thành niên, nhận thức rõ hành vi cướp giật tài sản vi phạm pháp luật nhưng bị cáo bất chấp quy định của pháp luật, sử dụng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ để cướp giật tài sản một cách công khai, nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, có nguy cơ dẫn đến mất an toàn về sức khoẻ, tính mạng của bị hại khi đang tham gia giao thông.

Bị cáo L là công dân đã trưởng thành, ý thức được hành tiêu thụ tài sản mà bị cáo biết rõ là do người khác phạm tội mà có là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện là đã tiếp tay cho hành vi vi phạm pháp luật của người khác.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội các bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương ứng với hành vi phạm tội, tương ứng với đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo Đ, L là đều người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

[7] Xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) áo khoác và 01 (một) nón bảo hiểm không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ; Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô gắn BKS: 60Y6-9398; số khung chưa xác định được; số máy JA39E-1092360 được bị cáo Đ sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[8] Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[9] Đối với hành vi của bà Nguyễn Phạm Yến N, khi mua sợi dây chuyền do Trần Quang L mang đến bán, bà N không biết sợi dây chuyền trên do người khác phạm tội mà có nên hành vi của bà N không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 của Bộ luật hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tôi “Cướp giật tài sản”, bị cáo Trần Quang L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

  1. Căn cứ điểm d, i Khoản 2 Điều 171; điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 14/01/2024).

  2. Căn cứ Khoản 1 Điều 323; điểm b, s, i Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,

    Xử phạt bị cáo Trần Quang L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 14/01/2024).

  3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) áo khoác màu đen-trắng đã cũ và 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng đã cũ;
    • Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô hai bánh hiệu Honda, số loại Wave @, màu đỏ-bạc, gắn BKS: 60Y6-9398; số máy JA39E1092360; số khung đã bị hoen gỉ, tẩy xoá nên không xác định được số khung, xe đã cũ và không hoạt động được.

    Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án thị xã Phú Mỹ đang quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 93/BB-CCTHADS ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ.

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 24/6/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • VKSND thị xã Phú Mỹ;
  • Công an thị xã Phú Mỹ;
  • Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ;
  • Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (PV06);
  • TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
  • VKSND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
  • Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
  • Bị cáo;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về vụ án hình sự về tội "cướp giật tài sản" và tội "tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"

  • Số bản án: 98/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Cướp giật tài sản" và tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ - Cướp giật tài sản, Trần Quang L - Tiêu thụ tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger