|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 98/2024/HS-ST Ngày: 30-9-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Khánh và bà Lê Thị Thu Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thùy Khánh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, tp . xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/TLST-HS ngày 10/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 11/9/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2024/HS-QĐ ngày 23/9/2024 đối với bị cáo:
Hồ Quốc T; giới tính: Nam; Sinh ngày 11 tháng 03 năm 1986; Tại: Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi ĐKTT: K T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Hồ Tú U (sinh năm: 1957); con bà: Ngô Thị K (sinh năm: 1957). Gia đình có 02 người con, bị cáo là con đầu. Bị cáo có 01 con sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2024 đến nay.
2. Bị hại:
Chị Phạm Thị Bích T1, sinh năm: 1989. Trú tại: K đường T, phường B, quận H, tp .. Địa chỉ liên hệ: Cửa hàng B, 14 T, Khu Ê, C, tp .. Vắng mặt.
- Anh Trương Thanh T2, sinh năm: 1988. Trú: tổ B phường H, quận C, tp .. Địa chỉ liên hệ: Cửa hàng Đ, đường D tại thôn D, xã H, H, tp .. Có mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm: 1987. Trú tại: K đường K, Khu Ê, quận N, tp .. Địa chỉ liên hệ: cửa hàng B1, số A L, phường H, quận C. Đại diện theo ủy quyền: Anh Dương Ny V, sinh năm: 1989, trú tại: C L, Hòa Cường N, H, tp .. Vắng mặt.
- Công ty Cổ phần D2 cửa hàng W, số A L, phường K, quận N. Đại diện ủy quyền: chị Phạm Thị Phương T3. Có mặt.
- Công ty Cổ phần D2 - cửa hàng T7, số G Hồ X, phường K, quận N. Đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1998. Có mặt.
- Công ty Cổ phần D2 - cửa hàng T7, số D P, xã H, huyện H. Đại diện theo ủy quyền: bà Tô Thị Mỹ H1, sinh năm: 1997. Có mặt.
- Chị Đặng Thị Thu T4, sinh năm 1978. Trú: tổ E, phường K, quận C. Địa chỉ liên hệ: Cửa hàng F, số I X, phường K, quận C, tp .. Vắng mặt.
- Anh Trần Đình Q, sinh năm 1966; Trú: số A N, tổ E, phường H, quận C, tp . Vắng mặt.
- Anh Lưu Văn D1, sinh năm 1978. Địa chỉ: cửa hàng P1 thôn C, xã H, huyện H, tp .. Vắng mặt.
- Anh Chu Văn T5, sinh năm: 1978.Địa chỉ: G N, phường P, quận S, tp .. Vắng mặt.
- Công ty TNHH N1. Địa chỉ: số E T, phường A, quận T, tp .. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1973; Địa chỉ: cửa hàng C2 số D P, phường H, quận C, tp .. Có mặt.
- Anh Nguyễn Sư C1, sinh năm 1984. Địa chỉ: cửa hàng Đ1, số C T, phường H, quận C, tp .. Có mặt.
- Công ty Cổ phầD2 vật liêu và thiết bị xây dựng Vinmax. Địa chỉ: số E T, phường A, quận T, tp .. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Cửa hàng Đ, thuộc thôn L, xã H, huyện H, tp .. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1975; trú tổ C, phường A, quận S, tp .. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1968, trú tại: A T, H, quận C, tp .. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Quốc T là người không có nghề nghiệp, để có tiền sử dụng cá nhân, trong khoảng thời gian từ ngày 19/01/2023 đến ngày 03/03/2024 đã liên tục thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận C, và các quận T, N, S và huyện H, thành phố Đà Nẵng, cụ thể:
Vụ thứ 1: Rạng sáng ngày 19/01/2023, Hồ Quốc T đến cửa hàng bánh mỳ, số A T, phường K, quận C, dùng kìm bấm khóa cửa, đột nhập vào bên trong mở hộc tủ sắt lấy trộm của chị Phạm Thị Bích T1 (sinh năm: 1989; trú: K đường T, phường B, quận H) số tiền 30.000.000 đồng và sử dụng tiêu xài hết.
Vụ thứ 2: Rạng sáng ngày 02/02/2023, Hồ Quốc T đến cửa hàng Đ trên đường D, thuộc thôn D, xã H, huyện H bấm ổ khóa cửa đột nhập vào bên trong lấy trộm của anh Trương Thanh T2 (sinh năm: 1988; trú tổ B phường H, quận C) 01 chiếc điện thoại Iphone 11 trị giá 5.570.000 đồng; 01 máy tính bảng hiệu Ipad Air 2 trị giá 2.580.000 đồng; 01 điện thoại Oppo F11 trị giá 2.040.000 đồng; 02 điện thoại Oppo A5(2020) trị giá 3.660.000 đồng; 01 điện thoại Oppo A57 trị giá 1.800.000 đồng; 01 điện thoại Samsung A12 trị giá 2.295.000 đồng; 01 điện thoại Redmi 9 trị giá 1.830.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt được trong vụ này là 22.755.000 đồng. Toàn bộ tài sản trên T đem bán cho một người (không rõ lai lịch) được 300.000 đồng và sử dụng tiêu xài hết.
Vụ thứ 3: Rạng sáng ngày 20/02/2023, Hồ Quốc T đến cửa hàng B1, số A L, phường H, quận C, trèo lên tầng 2, dùng kìm cộng lực bấm ổ khoá, đột nhập vào bên trong trộm cắp của chị Nguyễn Thị Thúy H (sinh năm: 1987; trú tổ T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Quảng Nam) số tiền 13.000.000 đồng để trong tủ sắt tại quầy thu ngân. Số tiền trộm cắp được, T tiêu xài hết.
Vụ thứ 4: Rạng sáng ngày 17/7/2023, Hồ Quốc T đến cửa hàng W, số A L, Khu Ê, N, trèo lên tầng 2, cạy cửa, đột nhập vào bên trong, tắt cầu dao điện, lấy đầu ghi camera bỏ vào ba lô rồi dùng xà beng cậy tủ quầy thu ngân lấy trộm của Công ty Cổ phần D2 số tiền 11.000.000 đồng. Số tiền trộm cắp được, T tiêu xài hết. Đầu ghi camera T vứt bỏ trên đường đi, không thu hồi được và không có thông tin, thông số kỹ thuật để xác định giá trị tài sản.
Vụ thứ 5: Rạng sáng ngày 12/08/2023, Hồ Quốc T đến cửa hàng T7, số G Hồ X, phường K, quận N, leo lên mái nhà đột nhập vào bên trong lấy trộm của Công ty Cổ phần D2 số tiền 16.000.000 đồng. Số tiền trộm cắp được, T tiêu xài hết.
Vụ thứ 6: Rạng sáng ngày 28/8/2023, Hồ Quốc T đến cửa hàng T7, số D P, xã H, huyện H, dùng kìm cộng lực cắt cửa sắt phía sau và đột nhập vào bên trong, lấy trộm của Công ty Cổ phần D2 số tiền 11.000.000 đồng. Số tiền trộm cắp được, T tiêu xài hết.
Vụ thứ 7: Rạng sáng ngày 14/11/2023, Hồ Quốc T đến cửa hàng F, số I X, phường K, quận C, dùng kìm cộng lực cắt ổ khoá cửa phía sau đột nhập vào trong, sau đó cắt cầu dao điện, rút đầu ghi camera bỏ vào ba lô và lấy trộm của chị Đặng Thị Thu T4 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS max, trị giá 6.870.000 đồng và số tiền 5.000.000 đồng để tại ngăn tủ quầy thu ngân. Đầu ghi camera T đã vứt bỏ trên đường đi (không xác định được địa điểm cụ thể). Máy điện thoại trộm được, T bán cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) được 3.500.000 đồng. Sau đó, điện thoại này được người đàn ông trên bán lại cho ông Nguyễn Thanh P. Tài sản hiện đã được thu hồi. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được trong vụ này là 11.870.000 đồng.
Vụ thứ 8: Rạng sáng ngày 02/12/2023, Hồ Quốc T đến cửa hàng P1, thôn C, xã H, huyện H lấy trộm của anh Lưu Văn D1 01 máy tính xách tay hiệu Lenovo và số tiền 1.000.000 đồng. Máy tính trộm cắp được T bán cho tiệm mua bán máy tính cũ trên đường P, quận T (không xác định được địa chỉ) được 1.400.000 đồng và sử dụng tiêu xài hết. Tài sản hiện không thể thu hồi và không có thông tin, đặc điểm, thông số kỹ thuật của Máy tính xách tay nên không thể xác định giá trị tài sản.
Vụ thứ 9: Rạng sáng ngày 08/12/2023, Hồ Quốc T đến cửa hàng bán vật liệu xây dựng, số A N, phường H, quận C, dùng kìm cộng lực cắt ổ khoá rồi đột nhập vào bên trong, lấy trộm của anh Trần Đình Q 01 máy tính xách tay hiệu Dell vostro 3578, trị giá 5.727.000 đồng; 01 máy tính xách tay hiệu Asus ROG Strix GL553, trị giá 6.807.000 đồng và 01 máy Ipad 2 trị giá 735.000 đồng. Máy Ipad 2 Tỉnh làm rơi trên đường nên không thể thu hồi. 02 máy máy tính xách tay Tỉnh bán tại 01 cửa hàng mua bán máy tính cũ trên đường P, quận T (không nhớ vị trí cụ thể) được 1.400.000 đồng và sử dụng tiêu xài hết, tài sản không thu hồi được. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được trong vụ này là 13.269.000 đồng.
Vụ thứ 10: Rạng sáng ngày 20/01/2024, Hồ Quốc T đến cửa hàng mua bán điện thoại, số G N, phường P, quận S, dùng kìm cộng lực bấm ổ khoá đột nhập vào trong lấy trộm của anh Chu Văn T5 01 điện thoại Oppo A83 trị giá 1.110.000 đồng, 01 điện thoại Oppo A77 trị giá 1.750.000 đồng và 01 điện thoại Oppo (không rõ đặc điểm). Máy điện thoại O (không rõ đặc điểm) Tỉnh làm rơi trên đường nên không thu hồi được và cũng không có thông số kỹ thuật để xác định giá trị tài sản, 02 máy điện thoại còn lại đã được thu hồi của T. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được trong vụ này là 2.860.000 đồng.
Vụ thứ 11: Rạng sáng ngày 23/01/2024, Hồ Quốc T đến trụ sở Công ty TNHH N1, số E T, phường A, quận T, dùng kìm cộng lực bấm ổ khoá cửa phía sau xưởng rồi dùng xà beng cạy cửa, đột nhập vào trong, ngắt kết nối điện và rút đầu ghi camera bỏ vào ba lô, sau đó lấy trộm của Công ty TNHH N1 số tiền 11.000.000 đồng trong tủ sắt, ngoài ra T còn đập 01 con heo đất trong tủ sắt lấy 3.000.000 đồng và 01 máy hàn MIC trị giá 9.630.000 đồng. Đầu ghi camera, T vứt tại địa điểm không xác định nên không thu hồi được và không có thông số kỹ thuật để xác định giá trị tài sản. Máy hàn MIC Tỉnh bán cho một người (không rõ lai lịch) được 6.000.000 đồng và sử dụng tiêu xài hết, tài sản không thu hồi được. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được trong vụ này là 20.130.000 đồng.
Vụ thứ 12: Rạng sáng một ngày cuối tháng 01/2024 (không rõ ngày), Hồ Quốc T đến cửa hàng C2, số D P, phường H, quận C, dùng kìm cộng lực cắt ổ khoá cửa trước đột nhập vào bên trong lấy trộm của anh Nguyễn Ngọc C 10 cuộn dây đồng quấn mô tơ (01 cuộn có trọng lượng 3kg) trị giá 10.940.000 đồng; 20kg đồng phế liệu trị giá 3.500.000 đồng và số tiền 800.000 đồng. Toàn bộ dây đồng trộm cắp được, T bán cho cửa hàng mua bán phế liệu trên đường T (không xác định được vị trí) được 2.300.000 đồng và sử dụng tiêu xài hết, tài sản không thu hồi được. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được trong vụ này là 15.240.000 đồng.
Vụ thứ 13: Rạng sáng ngày 21/02/2024, Hồ Quốc T điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 73K9- 0549 đi đến trước cửa hàng Đ1, số C T, phường H, quận C. Tại đây, T giấu xe máy vào sát vỉa hè, dùng kìm bấm ổ khoá cửa, đột nhập vào bên trong cửa hàng, T rút dây điện camera, tháo đầu ghi camera bỏ vào ba lô, rồi lấy trộm của anh Nguyễn Sư C1 03 máy khoan HP1630 hiệu Makita trị giá 4.680.000 đồng; 02 máy khoan TD0101F hiệu Makita trị giá 3.660.000 đồng; 01 máy mài 9553B hiệu Makita trị giá 1.100.000 đồng; 05 máy mài 9556HN hiệu Makita trị giá 6.550.000 đồng; 02 máy mài 9553NB hiệu Makiata trị giá 2.220.000 đồng; 01 máy tính xách tay HP450 trị giá 3.930.000 đồng. Đối với đầu ghi camera, T vứt bỏ tại địa điểm không xác định được nên không thu hồi được và không có thông tin để xác định giá trị tài sản. Tài sản trộm cắp được, T bán cho một người (không rõ lai lịch) được 5.000.000 đồng và sử dụng tiêu xài hết, tài sản không thu hồi được. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được trong vụ này là 22.140.000 đồng.
Vụ thứ 14: Khoảng 00 giờ 15 phút, ngày 01/3/2024, Hồ Quốc T đến trụ sở Công ty Cổ phần D2, số E T, phường A, quận T, dùng kìm cộng lực cắt cửa chính chui vào bên trong, rồi cắt cầu dao điện lấy trộm của Công ty Cổ phần D2 01 cặp đựng laptop màu ghi, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude E7440 trị giá 3.430.000 đồng, 01 ổ cứng rời loại 500GB trị giá 140.000 đồng, 01 điện thoại hiệu Redmi 12C màu xanh trị giá 1.380.000 đồng, 01 điện thoại hiệu Iphone 7 màu đen trị giá 1.570.000 đồng, 01 bộ thu âm hiệu saramonic màu đen trị giá 1.950.000 đồng, 01 khoan bê tông Bosch GBH2-24DRE trị giá 3.490.000 đồng, 01 máy siết bulong pin Yamasu M330BL trị giá 1.480.000 đồng, 01 máy siết vít Yamasu CV330 trị giá 2.350.000 đồng, 01 máy siết bulong pin akuza B350 trị giá 880.000 đồng, 01 máy siết bulong pin akuza B550 trị giá 1.690.000 đồng, 03 cuộn cáp hàn trị giá 18.590.000 đồng, 02 lọ thực phẩm chức năng và số tiền 947.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 37.897.000 đồng.
Đối với 02 hộp thực phẩm chức năng, T đã vứt trên đường (không xác định được vị trí) nên không thu hồi được, đồng thời không có thông tin để xác định giá trị của 02 hộp thực phẩm chức năng và cặp đựng laptop. Đối với 03 cuộn dây cáp hàn, T bán cho người đàn ông (không rõ lai lịch) được 3.200.000 đồng. Đối với 01 máy siết vít yamasu CV330, 01 máy siết bulon pin akuza B550 và 01 máy khoan Bosch GBH2-24DRE, T bán cho người đàn ông (không rõ lai lịch) được 1.000.000 đồng, các tài sản này hiện không thu hồi được. Các tài sản còn lại hiện đã được thu hồi.
Vụ thứ 15: Rạng sáng ngày 03/03/2024, Hồ Quốc T đến cửa hàng Đ2 trên đường D, thuộc thôn L, xã H, huyện H, dùng kìm bấm ổ khoá cửa đột nhập vào bên trong lấy trộm của anh Nguyễn Văn Q1 04 máy mài hiệu Makita màu xanh, GA4030 trị giá 4.620.000 đồng, 10 kg dây đồng cuốn mô tơ trị giá 3.240.000 đồng và 01 máy xiết bu lông Makita. Tài sản trộm cắp được T bán cho một người (không rõ lai lịch) được 1.000.000 đồng. Số tiền này T đã tiêu xài hết, tài sản không thu hồi được. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được trong vụ này là 7.860.000 đồng.
Đối với máy xiết bu long M do không có thông tin, thông số kỹ thuật nên không thể định giá được tài sản.
Tang vật thu giữ:
- 01 kìm cộng lực bằng kim loại màu xanh, có tay cầm bọc nhựa màu đen, trên thân kìm có dòng chữ A0741-18 450mm/18”; 01 cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 45cm; 01 đèn pin đội đầu; 01 xe đạp màu trắng.
- 01 mũ len trùm đầu màu đỏ đen; 01 áo mưa màu xanh đen; 02 áo khoác màu xám bên trên có ghi dòng chữ Adidas; 01 đôi giày màu đen, trên giày có ghi dòng chữ SPOREM.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, BKS:73K9-0549.
- 05 loa hiệu JBL; 01 loa hiệu Professional; 02 loa không xác định nhãn hiệu; 01 máy tính xách tay hiệu ASUS, màu đen; 01 âm ly hiệu Craft&Audio CA60; 01 âm ly hiệu Professional Power; 01 máy Professional Wireless Microphone hiệu Sennheiser; 01 máy Professional S, hiệu JBL; 01 máy quản lý nguồn SUPPLY VOLTAGE DISPLAY, hiệu 7Acoustic; 01 máy Professional Mixer DSP Digital Echo, hiệu JBL; 01 máy hiệu JBPROSOUND; 01 máy hiệu SMITHS; 01 máy chỉnh âm thanh, hiệu YAMAHA; 01 máy chiếu, hiệu CANON; 01 tivi hiệu TCL; 01 máy khoan cầm tay có pin, hiệu Makita 20Ah, M7-M32, 21v và 01 máy mài hiệu Bosch số 0601375043.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax, màu vàng, số Imei: 353093101889713 ; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số IMEI1: 868568045253637, số IMEI2: 868568045253629 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số IMEI1: 864805037527873, số IMEI2: 864805037527865
- 01 cặp đựng laptop màu ghi xám; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude E7440, số seri 37131817862 kèm dây sạc; 01 ổ cứng rời loại 500GB, số SN:5VJCJDLN; 01 điện thoại di động hiệu Redme màu xanh, số IMEI: 866470061180442178, IMEI2: 866470061180459178; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, trên vỏ mặt sau có ghi model A1778; 01 máy thu âm sramonic màu đen, kèm phụ kiện; 01 máy siết bulong cầm tay có pin, hiệu Akuza B350 và 01 máy siết vít loại cầm tay có pin, hiệu Yamasu M330BL
Từ những tình tiết nêu trên, tại Cáo trạng số 89/CT-VKSCL ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố bị cáo Hồ Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ thực hiện quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b và g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm 6 tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 kìm cộng lực bằng kim loại màu xanh, có tay cầm bọc nhựa màu đen, trên thân kìm có dòng chữ A0741-18 450mm/18”; 01 cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 45cm; 01 đèn pin đội đầu; 01 xe đạp màu trắng là phương tiện công cụ dùng vào việc phạm tội, đề nghị tịch thu sung công;
- Đối với 01 mũ len trùm đầu màu đỏ đen; 01 áo mưa màu xanh đen; 02 áo khoác màu xám bên trên có ghi dòng chữ Adidas; 01 đôi giày màu đen, trên giày có ghi dòng chữ SPOREM là công cụ phạm tội, xét thấy không có giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, BKS:73K9-0549, Hồ Quốc T sử dụng để đi trộm cắp tài sản, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được chủ sở hữu, nên đề nghị tịch thu sung công;
- Đối với 05 loa hiệu JBL; 01 loa hiệu Professional; 02 loa không xác định nhãn hiệu; 01 máy tính xách tay hiệu ASUS, màu đen; 01 âm ly hiệu Craft&Audio CA60; 01 âm ly hiệu Professional Power; 01 máy Professional Wireless Microphone hiệu Sennheiser; 01 máy Professional S, hiệu JBL; 01 máy quản lý nguồn SUPPLY VOLTAGE DISPLAY, hiệu 7Acoustic; 01 máy Professional Mixer DSP Digital Echo, hiệu JBL; 01 máy hiệu JBPROSOUND; 01 máy hiệu SMITHS; 01 máy chỉnh âm thanh, hiệu YAMAHA; 01 máy chiếu, hiệu CANON; 01 tivi hiệu TCL; 01 máy khoan cầm tay có pin, hiệu Makita 20Ah, M7-M32, 21v và 01 máy mài hiệu Bosch số 0601375043, là tài sản Hồ Quốc T mua được từ tiền bán tài sản phạm tội mà có, đề nghị tịch thu sung công;
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax, màu vàng, số I: 353093101889713 (tài sản trộm cắp vụ 7) là của chị Đặng Thị Thu T4; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số IMEI1: 868568045253637, số IMEI2: 868568045253629 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số IMEI1: 864805037527873, số IMEI2: 864805037527865 (tài sản trộm cắp vụ 9) là tài sản của anh Chu Văn T5. Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu.
- Đối với 01 cặp đựng laptop màu ghi xám; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude E7440, số seri 37131817862 kèm dây sạc; 01 ổ cứng rời loại 500GB, số SN:5VJCJDLN; 01 điện thoại di động hiệu Redme màu xanh, số IMEI: 866470061180442178, IMEI2: 866470061180459178; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, trên vỏ mặt sau có ghi model A1778; 01 máy thu âm sramonic màu đen, kèm phụ kiện; 01 máy siết bulong cầm tay có pin, hiệu Akuza B350 và 01 máy siết vít loại cầm tay có pin, hiệu Yamasu M330BL (tài sản trộm cắp vụ 13) là của công ty Cổ phần D2. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Đặng Thị Thu T4 yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền bồi thường 10.000.000 đồng và anh Chu Văn T5 yêu cầu 1.700.000 đồng; Đại diện công ty Cổ phần D2 là anh Huỳnh Văn T6 yêu cầu Hồ Quốc T tiếp tục bồi thường số tiền 27.067.000 đồng. Các bị hại yêu cầu Hồ Quốc T bồi thường với số tiền cụ thể như sau:
Chị Phạm Thị Bích T1: 30.000.000 đồng; Anh Trương Thanh T2: 22.755.000 đồng; Anh Dương Ny V (đại diện của chị Nguyễn Thị Thúy H): 13.000.000 đồng; Chị Phạm Thị Phương T3 (đại diện cửa hàng W số 131 L: 11.000.000 đồng; Chị Nguyễn Thị D (đại diện cửa hàng P2): 16.000.000 đồng; Chị Nguyễn Thị Ngọc L (đại diện cửa hàng P2): 11.000.000 đồng; Anh Trần Đình Q: 9.160.000 đồng; Anh Huỳnh Văn N (đại diện công ty TNHH N1): 13.269.000 đồng; Anh Nguyễn Ngọc C: 26.130.000 đồng; Anh Nguyễn Sư C1: 15.240.000 đồng; Anh Nguyễn Văn Q1: 24.940.000 đồng và anh Lưu Văn D1: 11.000.000 đồng. Đến nay Tỉnh chưa bồi thường. Đề nghị HĐXX tuyên buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền trên theo yêu cầu của các bị hại.
Đối với anh Nguyễn Thanh P đã mua điện thoại do T trộm cắp được mà có từ người đàn ông (không rõ lai lịch), anh P không mua trực tiếp từ Tỉnh và không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Anh P yêu cầu Hồ Quốc T trả lại số tiền 6.500.000 đồng tiền mua máy điện thoại đã bị thu hồi. Bị cáo T cũng đồng ý với yêu cầu này. Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Thanh P, buộc bị cáo T phải trả cho anh P số tiền 6.500.000 đồng.
Vấn đề khác:
Ngoài các hành vi trộm cắp nêu trên, Hồ Quốc T khai nhận còn đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tại đường Cách mạng tháng T, phường K, quận C (vào tháng 03/2023), đường X, phường K, quận C (vào tháng 12/2023) và đường T, phường A, quận T (vào tháng 02/2024) nhưng không nhớ trộm cắp tài sản gì tại địa điểm cụ thể nào. Qua xác minh không có người dân nào trình báo mất tài sản, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Quá trình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Hồ Quốc T có cạy phá, làm hư hỏng một số cửa, khóa cửa và trần la phông, tuy nhiên, giá trị tài sản hư hỏng không đáng kể, các bị hại không yêu cầu định giá và không yêu cầu bồi thường, nên không đề cập xử lý.
Đối với những người mua tài sản trộm cắp của Hồ Quốc T, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được, nên không có cơ sở xử lý.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt. Bị cáo nói lời nói sau cùng là vô cùng hối hận về hành vi phạm tội và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố, xét xử của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu hồi được, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan CSĐT Công an quận C đã thu thập được thể hiện tại hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Trong khoảng thời gian từ ngày 19/01/2023 đến ngày 03/03/2024, trên địa bàn quận C và các quận thuộc thành phố Đà Nẵng, Hồ Quốc T là người không có nghề nghiệp, nhưng để có tiền sử dụng cho bản thân và không phải lao động, bị cáo đã chuẩn bị công cụ, phương tiện gồm: kìm cộng lực, xà beng, đèn pin đội đầu để lén lút thực hiện 15 lần đột nhập vào cửa hàng và nhà của nhiều người dân trộm cắp tài sản. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt được là 226.021.000 đồng. Do đó, VKSND quận Cẩm Lệ truy tố bị cáo Hồ Quốc T với tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, có nhận thức pháp luật và xã hội nhất định. Vì động cơ cá nhân, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài, bị cáo đã bất chấp hậu quả, coi thường pháp luật, 15 lần lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác trên địa bàn tp Đà Nẵng. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ và thể hiện sự chuyên nghiệp, liều lĩnh, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hồ Quốc T bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” và “Phạm tội từ hai lần trở lên” quy định tại điểm b và g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích trên, căn cứ vào mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Đồng thời, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo: Hồ Quốc T ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 kìm cộng lực bằng kim loại màu xanh, có tay cầm bọc nhựa màu đen, trên thân kìm có dòng chữ A0741-18 450mm/18”; 01 cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 45cm; 01 đèn pin đội đầu; 01 xe đạp màu trắng là phương tiện công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công;
- Đối với 01 mũ len trùm đầu màu đỏ đen; 01 áo mưa màu xanh đen; 02 áo khoác màu xám bên trên có ghi dòng chữ Adidas; 01 đôi giày màu đen, trên giày có ghi dòng chữ SPOREM là công cụ phạm tội và không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, BKS:73K9-0549, Hồ Quốc T sử dụng để đi trộm cắp tài sản, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được chủ sở hữu, nên đề nghị tịch thu sung công;
- Đối với 05 loa hiệu JBL; 01 loa hiệu Professional; 02 loa không xác định nhãn hiệu; 01 máy tính xách tay hiệu ASUS, màu đen; 01 âm ly hiệu Craft&Audio CA60; 01 âm ly hiệu Professional Power; 01 máy Professional Wireless Microphone hiệu Sennheiser; 01 máy Professional S, hiệu JBL; 01 máy quản lý nguồn SUPPLY VOLTAGE DISPLAY, hiệu 7Acoustic; 01 máy Professional Mixer DSP Digital Echo, hiệu JBL; 01 máy hiệu JBPROSOUND; 01 máy hiệu SMITHS; 01 máy chỉnh âm thanh, hiệu YAMAHA; 01 máy chiếu, hiệu CANON; 01 tivi hiệu TCL; 01 máy khoan cầm tay có pin, hiệu Makita 20Ah, M7-M32, 21v và 01 máy mài hiệu Bosch số 0601375043, là tài sản Hồ Quốc T mua được từ tiền bán tài sản phạm tội mà có nên tịch thu sung công;
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax, màu vàng, số I: 353093101889713 (tài sản trộm cắp vụ 7) là của chị Đặng Thị Thu T4; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số IMEI1: 868568045253637, số IMEI2: 868568045253629 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số IMEI1: 864805037527873, số IMEI2: 864805037527865 (tài sản trộm cắp vụ 9) là tài sản của anh Chu Văn T5. Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu là có căn cứ nên chấp nhận.
- Đối với 01 cặp đựng laptop màu ghi xám; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude E7440, số seri 37131817862 kèm dây sạc; 01 ổ cứng rời loại 500GB, số SN:5VJCJDLN; 01 điện thoại di động hiệu Redme màu xanh, số IMEI: 866470061180442178, IMEI2: 866470061180459178; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, trên vỏ mặt sau có ghi model A1778; 01 máy thu âm sramonic màu đen, kèm phụ kiện; 01 máy siết bulong cầm tay có pin, hiệu Akuza B350 và 01 máy siết vít loại cầm tay có pin, hiệu Yamasu M330BL là của công ty Cổ phần D2. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ nên chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại yêu cầu Hồ Quốc T bồi thường với số tiền cụ thể như sau: Chị Phạm Thị Bích T1: 30.000.000 đồng; Anh Trương Thanh T2: 22.755.000 đồng; Anh Dương Ny V (đại diện của chị Nguyễn Thị Thúy H): 13.000.000 đồng; Chị Phạm Thị Phương T3 (đại diện cửa hàng W số 131 L: 11.000.000 đồng; Chị Nguyễn Thị D (đại diện cửa hàng P2): 16.000.000 đồng; Chị Nguyễn Thị Ngọc L (đại diện cửa hàng P2): 11.000.000 đồng; Anh Trần Đình Q: 9.160.000 đồng; Anh Huỳnh Văn N (đại diện công ty TNHH N1): 13.269.000 đồng; Anh Nguyễn Ngọc C: 26.130.000 đồng; Anh Nguyễn Sư C1: 15.240.000 đồng; Anh Nguyễn Văn Q1: 24.940.000 đồng và anh Lưu Văn D1: 11.000.000 đồng. Chị Đặng Thị Thu T4: 10.000.000 đồng. Anh Chu Văn T5: 1.700.000 đồng. Đại diện Công ty Cổ phần D2 là anh Huỳnh Văn T6: 27.067.000 đồng.
Đối với yêu cầu của các bị hại, HĐXX nhận thấy: căn cứ hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả định giá, các bị hại yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền như trên là có căn cứ. Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với kết quả định giá và thống nhất bồi thường cho bị hại. Do đó, căn cứ các khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 587 và 589 Bộ luật Dân sự, HĐXX chấp nhận yêu cầu của các bị hại, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường như sau:
- Bồi thường cho chị Phạm Thị Bích T1 số tiền: 30.000.000 đồng;
- Bồi thường cho anh Trương Thanh T2 số tiền: 22.755.000 đồng;
- Bồi thường chochị Nguyễn Thị Thúy H số tiền: 13.000.000 đồng;
- Bồi thường cho Công ty Cổ phần D2 cửa hàng W, số A L, phường K, quận N số tiền: 11.000.000 đồng;
- Bồi thường cho Công ty Cổ phần D2 - cửa hàng T7, số G Hồ X, số tiền: 16.000.000 đồng;
- Bồi thường cho Công ty Cổ phần D2 - cửa hàng T7 số 418 P, số tiền: 7.500.000 đồng;
- Bồi thường cho anh Trần Đình Q số tiền: 9.160.000 đồng;
- Bồi thường cho công ty TNHH N1 số tiền: 13.269.000 đồng;
- Bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc C số tiền: 26.130.000 đồng;
- Bồi thường cho anh Nguyễn Sư C1 số tiền: 15.240.000 đồng;
- Bồi thường cho anh Nguyễn Văn Q1 số tiền: 24.940.000 đồng
- Bồi thường cho anh Lưu Văn D1 số tiền: 11.000.000 đồng.
- Bồi thường cho chị Đặng Thị Thu T4 số tiền: 10.000.000 đồng.
- Bồi thường cho anh Chu Văn T5 số tiền: 1.700.000 đồng.
- Bồi thường cho Công ty Cổ phần D2 số tiền: 27.067.000 đồng.
Đối với anh Nguyễn Thanh P đã mua điện thoại do T trộm cắp được mà có từ người đàn ông (không rõ lai lịch), anh P không mua trực tiếp từ Tỉnh và không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Anh P yêu cầu Hồ Quốc T trả lại số tiền 6.500.000 đồng tiền mua máy điện thoại đã bị thu hồi. Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất bồi thường cho anh P. Do đó, căn cứ các khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 587 và 589 Bộ luật Dân sự, HĐXX chấp nhận yêu cầu, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh P số tiền 6.500.000 đồng
Tổng số tiền bồi thường cho các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là: 245.261.000 đồng
[6] Vấn đề khác
Ngoài các hành vi trộm cắp nêu trên, Hồ Quốc T khai nhận còn đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tại đường Cách mạng tháng T, phường K, quận C (vào tháng 03/2023), đường X, phường K, quận C (vào tháng 12/2023) và đường T, phường A, quận T (vào tháng 02/2024) nhưng không nhớ trộm cắp tài sản gì tại địa điểm cụ thể nào. Qua xác minh không có người dân nào trình báo mất tài sản, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ nên chấp nhận.
Quá trình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Hồ Quốc T có cạy phá, làm hư hỏng một số cửa, khóa cửa và trần la phông, tuy nhiên, giá trị tài sản hư hỏng không đáng kể, các bị hại không yêu cầu định giá và không yêu cầu bồi thường, nên không đề cập xử lý.
Đối với những người mua tài sản trộm cắp của Hồ Quốc T, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được, nên không có cơ sở xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo: Hồ Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b, g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: bị cáo Hồ Quốc T 08 (tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/3/2024 .
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với 01 kìm cộng lực bằng kim loại màu xanh, có tay cầm bọc nhựa màu đen, trên thân kìm có dòng chữ A0741-18 450mm/18”; 01 cây xà beng bằng kim loại dài khoảng 45cm; 01 đèn pin đội đầu; 01 xe đạp màu trắng, 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, BKS:73K9-0549.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ len trùm đầu màu đỏ đen; 01 áo mưa màu xanh đen; 02 áo khoác màu xám bên trên có ghi dòng chữ Adidas; 01 đôi giày màu đen, trên giày có ghi dòng chữ SPOREM ;
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 05 loa hiệu JBL; 01 loa hiệu Professional; 02 loa không xác định nhãn hiệu; 01 máy tính xách tay hiệu ASUS, màu đen; 01 âm ly hiệu Craft&Audio CA60; 01 âm ly hiệu Professional Power; 01 máy Professional Wireless Microphone hiệu Sennheiser; 01 máy Professional S, hiệu JBL; 01 máy quản lý nguồn SUPPLY VOLTAGE DISPLAY, hiệu 7Acoustic; 01 máy Professional Mixer DSP Digital Echo, hiệu JBL; 01 máy hiệu JBPROSOUND; 01 máy hiệu SMITHS; 01 máy chỉnh âm thanh, hiệu YAMAHA; 01 máy chiếu, hiệu CANON; 01 tivi hiệu TCL; 01 máy khoan cầm tay có pin, hiệu Makita 20Ah, M7-M32, 21v và 01 máy mài hiệu Bosch số 0601375043.
(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục THADS quận C theo Quyết định chuyển vật chứng số 67/QĐ-VKSCL ngày 09/9/2024 của VKSND quận Cẩm Lệ, Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2024)
3. Về trách nhiệm dân sự: căn cứ các khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 587 và 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường như sau:
- Bồi thường cho chị Phạm Thị Bích T1 số tiền: 30.000.000 đồng.
- Bồi thường cho anh Trương Thanh T2 số tiền: 22.755.000 đồng.
- Bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền: 13.000.000 đồng.
- Bồi thường cho Công ty Cổ phần D2 cửa hàng W, số A L, phường K, quận N số tiền: 11.000.000 đồng.
- Bồi thường cho Công ty Cổ phần D2 - cửa hàng T7, số G Hồ X, số tiền: 16.000.000 đồng.
- Bồi thường cho Công ty Cổ phần D2 - cửa hàng T7 số 418 P, số tiền: 7.500.000 đồng.
- Bồi thường cho anh Trần Đình Q số tiền: 9.160.000 đồng.
- Bồi thường cho công ty TNHH N1 số tiền: 13.269.000 đồng.
- Bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc C số tiền: 26.130.000 đồng.
- Bồi thường cho anh Nguyễn Sư C1 số tiền: 15.240.000 đồng.
- Bồi thường cho anh Nguyễn Văn Q1 số tiền: 24.940.000 đồng.
- Bồi thường cho anh Lưu Văn D1 số tiền: 11.000.000 đồng.
- Bồi thường cho chị Đặng Thị Thu T4 số tiền: 10.000.000 đồng.
- Bồi thường cho anh Chu Văn T5 số tiền: 1.700.000 đồng.
- Bồi thường cho Công ty Cổ phần D2 số tiền: 27.067.000 đồng.
- Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Thanh P số tiền 6.500.000 đồng
Tổng số tiền bồi thường là: 245.261.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm là:12.263.050 đồng
5. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Hưng |
Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản (theft of property)
- Số bản án: 98/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Theft of property)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hồ Quốc T trộm cắp 15 lần trên địa bàn thành phô Đà Nẵng
