Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN M, TỈNH SƠN LA

Bản án số: 98/2024/HS-ST

Ngày 10 - 6 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoà;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Quang Mạnh và bà Hà Thị Chum.

Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My, Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thiều, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Giàng A P, sinh 12/02/1990; tại: huyện M, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Giàng Bùa D, sinh 1961 và bà H (Hạng) Thị Nhứ (đã chết); có vợ Sùng Thị N, sinh 1992 và 03 con, cón lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến nay; có mặt tại phiên toà.
  2. Quàng Văn T, sinh 03/02/2000; tại: huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản L, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 03/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: La Ha; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Quàng Văn T1, sinh 1972 và bà Quàng Thị H1, sinh 1972; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: ngày 31/5/2019 bị Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt 20 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” đã được xoá án tích; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến nay; có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo P: Ông Lò Văn Đ, là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Nguyễn Phương V, là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S; có mặt.

- Người làm chứng: Quàng Văn P1, sinh 1962; Nơi cư trú: Bản L, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 10 phút, ngày 18/01/2024 Tổ công tác Công an xã H làm nhiệm vụ tại bản L, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La, phát hiện nhà ở L có dấu hiệu vi phạm pháp luật, đã yêu cầu kiểm tra. Khi bị kiểm tra Quàng Văn T đã lấy trong túi quần đang mặc ra giao nộp 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột màu trắng và khai nhận đó là ma tuý mua của Giàng A P với số tiền 200.000VNĐ, T đã sử dụng một phần còn lại cất giấu để sử dụng cho bản thân. Thấy vậy, Giàng A P đã tự giao nộp 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột màu trắng và số tiền 250.000VNĐ. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, dẫn giải về Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện M để điều tra theo thẩm quyền.

Giàng A P khai về nguồn gốc ma tuý có được từ ngày 17/01/2024 P gặp và mua của một người đàn ông dân tộc không biết tên, địa chỉ với số tiền 500.000VNĐ về cất giữ mục đích sử dụng và bán kiếm lời; khoảng 12 giờ ngày 18/01/2024, P mang theo ma tuý đi bộ đến nhà Lò Văn M, thấy anh M đang trộn bê tông ở sân, P không nói chuyện mà đi thẳng lên nhà ngồi và lấy ma tuý ra sử dụng thì có Quàng Văn P1 đến hỏi, bị cáo đã bán trái phép chất ma tuý cho P1 được số tiền 50.000VNĐ, P1 đã nhặt vỏ bao thuốc lá xé lấy mảnh giấy bạc rồi dùng bật lửa mang theo sử dụng (phù hợp với lời khai của P1), sau đó T đến hỏi mua, bị cáo tiếp tục bán trái phép chất ma tuý cho T, T đã dùng giấy bạc và bật lửa của T để sử dụng và bị phát hiện.

Ngày 18/01/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Phòng K Công an tỉnh S, tiến hành mở niêm phong cân tịnh tách bì, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định tang vật thu giữ khi bắt quả tang Giàng A PQuàng Văn T như sau:

Cục bột màu trắng trong gói nilon màu hồng, thu giữ với Giàng A P có khối lượng: 0,15 gam, lấy ra 0,07 gam làm mẫu giám định ký hiệu P1; còn lại: 0,08 gam ký hiệu P1A.

Cục bột màu trắng trong gói nilon màu hồng, thu giữ với Quàng Văn T có khối lượng: 0,10 gam, lấy ra 0,05 gam làm mẫu giám định ký hiệu T1; còn lại: 0,05 gam ký hiệu T1A.

Còn lại: 0,08 gam ký hiệu P1A; 0,05 gam ký hiệu T1A; 02 mảnh nilon màu hồng niêm phong lưu kho vật chứng theo quy định.

Ngày 18/01/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện thực hiện trưng cầu giám định số tiền 250.000VNĐ thu giữ của Giàng A P.

Ngày 22/01/2024 Phòng K Công an tỉnh S có Kết luận giám định số: 389/KL-KTHS, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu P1, T1 đều là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là P1= 0,07 gam; T1= 0,05 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,25 gam; loại Heroine”.

Ngày 24/01/2024 Phòng K Công an tỉnh S có kết luận giám định số 405/KL-KTHS, Kết luận: Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật.

Thực hiện điều tra, xác minh đối với người bán trái phép chất ma túy cho P nhưng không thu thập được tài liệu nào khác ngoài lời khai của P; Tổ chức nhận dạng giữa Giàng A PQuàng Văn P1, xác minh nhân thân của Quàng Văn P1, xác định P1 chưa có tiền án, tiền sự, ma tuý đã sử dụng hết nên Cơ quan chức năng chuyển đề nghị đưa P1 vào danh sách quản lý người sử dụng ma tuý.

Tiến hành điều tra làm rõ mối quan hệ, việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà Lò Văn M xác định: có mối quan hệ quen biết giữa Giàng A P, Quàng Văn P1, Quàng Văn TLò Văn M nhưng đều khai thống nhất về Lò Văn M đang trộn bê tông thì họ đến và tự lên nhà chơi, M không biết việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, không có ai cung cấp, cho thuê, mượn dụng cụ (ma tuý, giấy bạc, bật lửa), địa điểm để sử dụng trái phép chất ma tuý; việc cất giữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý là độc lập; đã tiến hành truy tìm vật dụng (giấy bạc, bật lửa) và đối chất làm rõ dấu hiệu “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” nhưng không thu được tài liệu nào khác chứng minh.

Bản cáo trạng số 58/CT-VKS-ML ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Giàng A P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội “Tàng trữ phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Giàng A P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội với mục đích mua ma túy cất giữ để sử dụng và bán cho người khác kiếm lời thì bị bắt như cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà bị cáo Quàng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đó là do nghiện ma túy nên đã mua ma túy cất giữ, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La luận tội và tranh luận: đề nghị tuyến bố bị cáo Giàng A P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tuyến bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giàng A P từ 07 đến 08 năm tù; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Quàng Văn T từ 22 đến 26 tháng tù; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: 0,08 gam Heroine ký hiệu P1A; 0,05 gam Heroine ký hiệu T1A; 02 mảnh nilon. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 250.000VNĐ của Giàng A P. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn tiền án phí cho các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo P tranh luận: đồng ý với nội dung cáo trạng và lời khai bị cáo đã trình bày; bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tự thú khai ra việc bán ma tuý cho P1; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, hiểu biết về đời sống xã hội và pháp luật rất hạn chế; nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng mức hình phạt từ 07 đến 07 năm 06 tháng tù, không phạt bổ sung với bị cáo; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; miễn tiền án phí cho bị cáo; các nội dung khác nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo T tranh luận: đồng ý với nội dung cáo trạng và lời khai bị cáo đã trình bày; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, hiểu biết về đời sống xã hội và pháp luật rất hạn chế; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên đề nghị Hội đồng xét xử xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xét giảm hình phạt dưới mức đề nghị của Viện kiểm sát cho phù hợp với khối lượng chất ma tuý bị cáo tàng trữ để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình, xã hội; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn tiền án phí cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo đối đáp tranh luận đều giữ nguyên ý kiến tranh luận; Các bị cáo không bổ sung bào chữa, tranh luận; các bị cáo xin được khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Người làm chứng Quàng Văn P1 vắng mặt; xét thấy lời khai trong hồ sơ đã rõ, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên quyết định xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà là thống nhất, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định: Giàng A P đã cất giấu, cất giữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời, thực tế khoảng 12 giờ ngày 18/01/2024, P đi bộ đến nhà Lò Văn M, thấy anh M đang trộn bê tông ở sân, P không nói chuyện mà đi thẳng lên nhà thì có Quàng Văn P1 đến, bị cáo đã bán trái phép chất ma tuý cho P1 được số tiền 50.000VNĐ, P1 đã nhặt vỏ bao thuốc lá xé lấy mảnh giấy bạc rồi dùng bật lửa mang theo sử dụng; khoảng 05 phút sau Quàng Văn T đến hỏi, bị cáo tiếp tục bán trái phép chất ma tuý cho T được số tiền 200.000VNĐ, T đã dùng giấy bạc và bật lửa của T để sử dụng một phần thì bị Tổ công tác Công an xã H phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ: 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột màu trắng của Quàng Văn T; 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột màu trắng và số tiền 250.000VNĐ của Giàng A P. Tại kết luận giám định số 389/KL-KTHS, ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu P1, T1 đều là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là P1= 0,07 gam; T1= 0,05 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,25 gam; loại Heroine". Như vậy, Giàng A PQuàng Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, Quàng Văn T đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi cất giấu, cất giữ trái phép 0,10 gam chất ma túy để sử dụng cho bản thân, còn Giàng A P đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi cất giấu, cất giữ trái phép tổng 0,25 gam chất ma túy và bán trái phép chất ma tuý cho Quàng Văn T 01 lần và bán cho Quàng Văn P1 01 lần (giữa các lần mua bán trái phép chất ma tuý với T, P1 là độc lập, có khoảng cách về thời gian) để kiếm lời là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Giàng A P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: b) Phạm tội 02 lần trở lên”.

Bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, C, Methamphetamine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[4] Về tính chất mức độ của hành vi: các bị cáo đã được tuyên truyền, vận động, cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý; bị cáo T đã được cải tạo giáo dục rèn luyện bản thân nhưng ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, vì sử dụng trái phép ma túy và vụ lợi các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tội phạm các bị cáo thực hiện là độc lập nhưng có mối quan hệ nhân quả với nhau, trong đó Giàng A P là người vừa cất giấu, cất giữ, vừa bán trái phép chất ma túy cho Quàng Văn P1 và bị cáo T nhằm mục đích tư lợi cá nhân, kiếm lời; còn Quàng Văn T dùng tiền mua và cất giữ trái phép ma túy để sử dụng là tiếp tay cho hành vi phạm tội của P. Hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; hành vi phạm tội của T là nghiêm trọng, còn hành vi phạm tội của P là rất nghiêm trọng, không những làm ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương mà còn là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết các bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sư: các bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:

Các bị cáo thành khẩn khai báo (khai đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội), ăn năn hối cải (bị cáo luôn thể hiện sự cắn rứt, dày vò lương tâm, chấp hành tốt nội quy, quy định nhà tạm giữ, tạm giam, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người tốt) là người dân lao động, người dân tộc thiểu số, sống ở vùng ba, nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo T là cháu của người có công (ông nội Quàng Văn P2 đã được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất), cần xem xét giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang bị cáo Giàng A P, tự thú (đã khai ra hành vi bán trái phép chất ma tuý cho P1) nên xét cho bị cáo P được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: các bị cáo là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (phiếu xét nghiệm dương tính (+) với ma túy); bị cáo T có nhân thân xấu, không chấp hành quy định của địa phương nên cần cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.

[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, biên bản xác minh tài sản, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa xác định các bị cáo không có tài sản giá trị nên không phạt bổ sung, phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam các bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; thời gian các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[9] Đối với Quàng Văn P1 là người mua trái phép ma tuý của Giàng A P nhưng không thu được ma tuý, chưa có tiền án, tiền sự nên Cơ quan chức năng chuyển đề nghị đưa P1 vào danh sách quản lý người sử dụng ma tuý. Đối với người bán trái phép chất ma túy cho P, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không thu thập được tài liệu khác ngoài lời khai của bị cáo nên không có cơ sở chứng minh, xử lý theo vụ án. Đối với hành vi P, P1T sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà Lò Văn M nhưng M không biết việc sử dụng trái phép ma tuý, không cho thuê hoặc mượn, không đủ căn cứ xử lý.

[10] Vật chứng của vụ án: Cơ quan chức năng đã lấy mẫu giám định 0,12 gam Heroine không hoàn lại mẫu giám định nên không có cơ sở xử lý.

Hiện đang lưu kho vật chứng: 0,08 gam Heroine ký hiệu P1A; 0,05 gam Heroine ký hiệu T1A là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

02 mảnh nilon, bị cáo PT đã sử dụng làm phương tiện cất giữ trái phép chất ma tuý là vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 250.000VNĐ là số tiền do Giàng A P phạm tội mà có nên cần phải tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo xin miễn nộp tiền án phí; theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Giàng A P.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Quàng Văn T.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Giàng A P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt:

    Bị cáo Giàng A P 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (18/01/2024); không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

    Bị cáo Quàng Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (18/01/2024); không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng: căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu và tiêu hủy: 0,08 gam Heroine ký hiệu P1A; 01 mảnh nilon của Giàng A P; 0,05 gam Heroine ký hiệu T1A và 01 mảnh nilon của Quàng Văn T.

    Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 250.000VNĐ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) của Giàng A P.

    (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/5/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La).

  4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Giàng A PQuàng Văn T.
  5. Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/6/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện M;
  • - CA h.M (Bộ phận Hồ sơ, CSĐT, THAHS, Nơi giam);
  • - Chi cục THADS huyện M;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 98/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giang A P, Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger