Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 98/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26-4-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Minh Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Mạnh Hùng

Bà Nguyễn Thị Luyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Nga - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 02/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT: Thôn E Đ, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số E Agiou P, 2363, A, D, N, C; vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn E Đ, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn nộp ngày 26/12/2023 và các văn bản khác (có chứng nhận của Đ1), nguyên đơn là chị Trần Thị T trình bày:

Chị T và anh Hoàng Văn Đ kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 03/9/2002. Quá trình chung sống thời gian đầu quan hệ vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc nhưng đến năm 2009, quan hệ vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thậm chí khi mâu thuẫn xảy ra anh Đ còn đánh chị T. Nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm sống, cách nuôi dạy con chung và kinh tế gia đình khó khăn. Do áp lực về kinh tế nên năm 2017, chị T quyết định đi xuất khẩu lao động tại Cyprus để kiếm tiền nuôi các con ăn học, trang trải cuộc sống. Từ khi chị T sinh sống tại Cyprus cho đến thời điểm hiện tại thì giữa chị T và anh Đ không còn liên lạc, quan tâm đến nhau. Nay chị T thấy rằng giữa chị T và anh Đ không còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể khắc phục được, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Đại đ ổn định cuộc sống. Do chị T đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài không có điều kiện đến Toà án để tham gia tố tụng nên đề nghị Toà án giải quyết vụ án vắng mặt chị T. Chị T uỷ quyền cho ông Võ Ngọc D1 và ông Nguyễn Hữu K nhận thay các văn bản tố tụng.

Về quan hệ nuôi con chung: Quá trình chung sống, chị T và anh Đ có hai con chung là Hoàng Văn D2, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2004 và Hoàng Trần Hải N1, sinh ngày 23 tháng 7 năm 2006. Con chung Hoàng Văn D2 đã thành niên, còn con chung Hoàng Trần Hải N1, chị T có nguyện vọng để anh Đ tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T đồng ý đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000 đồng/tháng.

Về quan hệ tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản hoà giải ngày 25/3/2024, bị đơn – anh Hoàng Văn Đ trình bày:

Anh Đ thống nhất với lời trình bày của chị T về quan hệ hôn nhân được xác lập. Sau khi kết hôn, anh Đ và chị T về chung sống cùng gia đình anh Đ tại thôn E Đ, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do chị T không tin tưởng anh Đ về tình cảm. Anh Đ làm ăn thu lỗ, kinh tế gia đình sa sút, khó khăn nên giữa vợ chồng xảy ra nhiều xích mích. Có đôi khi nóng giận, không kiềm chế được nên anh Đ đã đánh chị T. Đến năm 2017, chị T đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa C. Từ khi ra nước ngoài sinh sống, anh Đ và chị T chỉ liên lạc trong 01 năm đầu, sau đó hai bên không còn liên lạc. Anh Đ và chị T sống ly thân từ đó. Người thân, bạn bè cũng hoà giải mâu thuẫn giữa hai vợ chồng nhưng không có kết quả. Nay chị T có yêu cầu ly hôn, anh Đ chưa đồng ý ly hôn. Trường hợp chị T muốn ly hôn thì chị T cần phải trao đổi qua điện thoại cho anh Đ trước sự chứng kiến của bố mẹ vợ cũng như các con chung. Tuỳ theo quan điểm của các con chung anh Đ sẽ quyết định đồng ý hay không đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh Đ xác nhận có hai con chung như chị T trình bày. Hiện tại anh Đ đang sinh sống cùng hai con chung kể từ khi chị T đi xuất khẩu lao động. Con chung Hoàng Văn D2 đã thành niên nên anh Đ không có ý kiến gì. Trong trường hợp ly hôn, anh Đại đồng ý trực tiếp nuôi con chung Hoàng Trần Hải N1. Anh Đại đồng ý việc chị T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Anh Đ trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

2

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T vắng mặt và đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Anh Đ vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị T vắng mặt và đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Anh Đ vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T, anh Đ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Hoàng Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 03/9/2002 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống những năm đầu quan hệ vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc, sau đó quan hệ vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ngày càng sâu sắc. Do mâu thuẫn nên anh Đ còn đánh chị T. Kể từ năm 2017 cho đến nay, chị T ra nước ngoài lao động, anh Đ chị T không còn liên lạc, quan tâm đến nhau. Nguyên nhân chính là do quan điểm sống, quan điểm nuôi dạy con chung của hai bên bất đồng; kinh tế gia đình khó khăn; chị T không tin tưởng anh Đ. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, mâu thuẫn giữa anh Đ và chị T đã sâu sắc, nhiều năm nay hai bên đã sống ly thân, không còn liên lạc, quan tâm đến nhau; mâu thuẫn vợ chồng không còn khả năng khắc phục. Xét yêu cầu ly hôn của chị T phù hợp với tình tạng thực tế mối quan hệ giữa họ và phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh Đ.

[4] Về quan hệ con chung: Chị T và anh Đ xác nhận quá trình chung sống có hai con chung là Hoàng Văn D2, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2004 và Hoàng Trần Hải N1, sinh ngày 23 tháng 7 năm 2006. Hiện cả hai con chung đang sinh sống cùng anh Đ. Con chung Hoàng Văn D2 đã thành niên, anh Đ chị T không có ý kiến gì. Đối với con chung Hoàng Trần Hải N1, cả chị T và anh Đ đều thống nhất quan điểm để anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, do điều kiện chị T đang lao động tại nước ngoài. Hàng tháng chị T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm của chị T và anh Đ về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung thống nhất với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi người và đặc biệt là đảm

3

bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung; phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[5] Về tài sản chung: Chị T và anh Đ đều không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.

[6] Về án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật - Điều 146; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Điều 146, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Hoàng Văn Đ.

2. Về quan hệ nuôi con chung: Xử giao con chung là Hoàng Trần Hải N1, sinh ngày 23 tháng 7 năm 2006 cho anh Hoàng Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Chị Trần Thị T có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 4 năm 2024.

Chị Trần Thị T có quyền thăm nom con chung, anh Hoàng Văn Đ không được cản trở chị T thực hiện quyền này. Chị T không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về quan hệ tài sản chung: Chị Trần Thị T và anh Hoàng Văn Đ thống nhất không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000136, ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Trần Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

4

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, anh Hoàng Văn Đ có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, chị Trần Thị T có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND xã Mỹ Đồng, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Phương

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 98/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger