Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U MINH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21-8-2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Thía

Ông Huỳnh Việt Bắc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 293/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1982 (có mặt)

- Bị đơn: Ông Tống Văn K, sinh năm 1979 (có mặt)

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp H, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà bà Nguyễn Thị Phương trình B: Qua thời gian tìm hiểu và được sự đồng ý của gia đình bà với ông K tổ chức đám cưới và chung sống với nhau vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau. Vợ chồng chung sống có với nhau 03 người con chung, nhưng thời gian gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt hàng ngày và trong tính toán làm ăn. Vợ chồng không có tiếng nói chung, không tôn trọng nhau. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện U Minh giải quyết ly hôn với ông K. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi người con tên Tống Thị Ngọc H, sinh ngày 31/8/2011 và bà đồng ý giao người con tên Tống Duy K1, sinh ngày 22/01/2008 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với người con chung tên Tống Tường V, sinh năm 2005 đã trên 18 tuổi, nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung, không có nên không yêu cầu giải quyết. Đồng thời, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Tống Văn K trình bày: Về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn, có 03 người con chung, không có tài sản chung, nợ chung đúng như bà P trình bày. Tuy nhiên, ông xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do có lần ông thấy bà P uống rượu với người đàn ông khác, do ông không kiềm chế được nên ông có chửi mắng bà P, nhưng ông vẫn còn rất thương vợ, nên không đồng ý ly hôn, ông yêu cầu Toà án hàn gắn tình cảm để vợ chồng về chung sống với nhau. Trường hợp Toà án giải quyết cho vợ chồng ông ly hôn thì ông đồng ý trực tiếp nuôi người con tên Tống Duy K1 và đồng ý giao người con tên Tống Thị Ngọc H cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với người con tên T tường Vi đã trên 18 tuổi, nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết. Đồng thời, không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

Bà P khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông K, địa chỉ cư trú: Ấp H, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông K tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau. Do đó, hôn nhân giữa bà P và ông K là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Bà P cương quyết yêu cầu ly hôn với ông K, do không còn tình cảm vợ chồng và do ông K thường xuyên chửi mắng bà vô cớ nhiều lần. Còn ông K cho rằng còn thương vợ, muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng ông K không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng và tại phiên toà ông K xác định do kiềm chế không được nên có chửi mắng bà P nhiều lần. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà P với ông K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử cho bà P và ông K ly hôn với nhau.

Về con chung: Xét thấy người con tên Tống Thị Ngọc H có nguyện vọng sống chung với bà P và người con tên Tống Duy K1 có nguyện vọng sống chung với ông K. Do đó, để đảm bảo cho con chung phát triển ổn định tâm sinh lý, nên Hội đồng xét xử giao người con chung tên Tống Thị Ngọc H cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng; giao người con chung tên Tống Duy K1 cho oong K trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà P và ông K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà P với ông K xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà P phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 53, 56, 57, 58 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5, Điều 27 Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị P với ông Tống Văn K.
  2. Về con chung: Giao người con chung tên Tống Thị Ngọc H, sinh ngày 31/8/2011 cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi dưỡng; Giao người con chung tên Tống Duy K1, sinh ngày 22/01/2008 cho ông Tống Văn K tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng. Bà P và ông K có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình bà Nguyễn Thị P phải nộp 300.000 đồng, ngày 22 tháng 7 năm 2024 bà P đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006627 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau chuyển thu án phí.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Án xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị P và ông Tống Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoài H1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 98/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Phương yêu cầu ly hôn với ông Khánh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger