Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NĂM CĂN

TỈNH CÀ MAU

 

Bản án số: 98/2024/DS-ST

Ngày: 26-9-2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Diệu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Quốc Thống;

Ông Lê Quang Đầy.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Công là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 11/2024/TLST - DS ngày 08 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST – DS ngày 21 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tuyết L, sinh năm 1960 (có mặt);
  • Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn:
    • + Anh Nguyễn Quốc D, sinh năm 1985 (tên gọi khác: Diển, có mặt);
    • Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
    • + Bà Thái Ngọc Y, sinh năm 1964 (mẹ anh D, có mặt);
    • Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • + Anh Nguyễn Trung H, sinh năm 1987 (con bà L, vắng mặt);
    • Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
    • + Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1990 (con bà L, vắng mặt);
    • Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
    • + Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1976 và bà Dương Thị Đ, sinh năm 1980 (vợ ông S; ông S và bà Đ đều vắng mặt);
    • Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
    • + Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1959 (chồng bà Y, xin vắng mặt);
    • Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
    • + Chị Ngô Thị K1, sinh năm 1991 (vợ anh D, xin vắng mặt);
    • Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết L trình bày: Năm 1989 bà Thái Thị Đ1 (mẹ chồng, chết ngày 25/02/2017) tặng cho bà phần đất ngang 08 tầm bằng 24m, dài 756m, diện tích 18.144m² đất tọa lạc ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau. Đến năm 1993 ông Nguyễn Văn T (chồng bà, ông T chết năm 2012 không để lại di chúc) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 15.150m² tại tờ bản đồ số 7, thửa 72 và 73 nhưng theo trích lục bản đồ mục kê năm 2003 có diện tích 18.182m² tại tờ bản đồ số 8, thửa 85 và 41. Đất bà không có quản lý vì cho vợ chồng ông Nguyễn Hoàng S và bà Dương Thị Đ thuê đất đã lâu nên bị lấn ranh hướng Bắc và hướng N. Hướng N tranh chấp với anh Võ Văn N1 đã được Tòa án đã giải quyết xong thì lúc này tranh chấp với giáp ranh hướng Bắc là đất của bà Thái Ngọc Y. Năm 2011 bên bà Y có cải tạo bờ đất thì bà cũng cùng cải tạo đất, cải tạo bờ ranh và đến nay bên bà không có cải tạo gì thêm. Thời điểm cải tạo bờ thì ranh giáp với đất của bà Y có 08 cây trụ đá cắm trên ½ bờ nhưng hiện nay bị thay đổi, bị di dời ra mé bờ bên hướng đất của bà vì bà không quản lý đất nên trong thời gian này anh D thuê xáng vô múc làm thay đổi hiện trạng bờ ranh, khi múc bờ anh D không cho bà hay, anh D múc bờ nhưng không kéo bờ ra, lại gom bờ bên anh D bỏ qua bờ của bà nên bờ của bà bị sụp lỡ bờ, làm bờ nhỏ lại nên trụ đá cũng bị thay đổi.

Nay bà khởi kiện đòi lại diện tích đất theo đo đạc thực tế bằng 477,4m²

- Bị đơn bà Thái Ngọc Y trình bày: Bà Y được cấp quyền sử dụng đất diện tích 32.000m². Năm 2009, chồng bà L còn sống thuê cơ giới múc đất bỏ lên bờ của bà, bà không đồng ý nên có tranh chấp, chính quyền địa phương giải quyết thì hai bên thống nhất thoả thuận cắm 04 trụ đá phân chia ranh. Từ đó cho đến nay bà Y nhiều lần cải tạo bờ đất, còn bên bà L không có cải tạo. Đến năm 2020 bà L cho thuê đất thì lúc này bà L cùng con bà là anh D cắm thêm 04 cây trụ đá.

Sau đó, cũng năm 2020 và năm 2022 anh D thuê cơ giới vào cải tạo, kéo bờ đất ra nên bờ bên bà cao rộng; bên bà L không cải tạo nên bờ thấp, nhỏ.

Đến tháng 4/2023 hết hạn hợp đồng thuê đất của bà L, thì anh D kêu bà L phải vào làm bờ lại vì bên bà L không có cải tạo. Bà L không đồng ý làm bờ, cho rằng các trụ đá bị di dời về phía đất của bà L. Nay bà xác định các cây trụ đá được giữ y hiện trạng, không thay đổi và lấy làm ranh chung của hai bên

- Bị đơn anh Nguyễn Quốc D trình bày: Anh D thống nhất với lời trình bày trên của bà Thái Ngọc Y (mẹ anh D), ngoài ra không có ý kiến khác.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Ngô Thị K1 trình bày: Do có con nhỏ nên không thể tham gia các phiên hòa giải cũng như giải quyết vụ án nên chị K1 xin vắng mặt các phiên mời họp của Tòa án, anh D đại diện chị K1 trình bày ý kiến.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn R trình bày: Do bận công việc nên ông R xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, bà Thái Ngọc Y (vợ ông R) đại diện ông trình bày ý kiến.

- Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy định mà các đương sự không có văn bản trình bày ý kiến của mình về việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị Tuyết L với ang Nguyễn Quốc D và bà Thái Ngọc Y; Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 02 lần thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không có lý do.

- Tại phiên tòa,

L trình bày: Buộc bà Y và anh D trả lại cho bà phần đất diện tích qua đo đạc thực tế 477,4m² tọa lạc tại ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau. Về chi phí tụng yêu cầu giải quyết theo quy định.

Bà Y trình bày: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L vì ranh giới đất giữa các bên đã được xác lập, bà không có di dời các mốc ranh này.

Anh D trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà Y, ngoài ra không có ý kiến khác.

Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Về phần thủ tục tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng theo quy định pháp luật nên không có kiến nghị. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ranh chung được xác định cụ thể:

Phía giáp Kênh 5 lấy vị trí M4 đo thẳng về hướng lộ xi măng lấy ranh theo toạ độ năm 2020 gọi là điểm A1, đoạn này gia đình bà Y phải giao trả diện tích 10,9m². Vị trí điểm M15M16 lấy ranh theo toạ độ năm 2020 gọi là điểm A2; từ điểm A2 lấy ranh là điểm A3; từ điểm A3 lấy ranh theo trụ đá đã cắm gọi là điểm A4; từ điểm A4 đo lấy ranh là điểm A5; từ điểm A5 đo lấy ranh theo trụ đá đã cắm gọi là điểm A6; từ điểm A6 đo về trụ đá đã cắm gọi là điểm A7; từ điểm lấy ranh theo vị trí bà L xác định gọi là điểm A8; từ điểm A8 đo về vị trí trụ đá A lấy ranh theo vị trí bà L xác định gọi là điểm A9; từ điểm A9 đo về vị trí tại điểm M29' lấy ranh, đoạn này gia đình bà Y phải giao trả diện tích 29,7m². Từ điểm M29' lấy ranh đo về vị trí tại điểm M32, M31 do ranh trùng nên không tách diện tích, Chi phí tố tụng và án phí các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng.

Anh Nguyễn Trung H, anh Nguyễn Trung K, ông Nguyễn Hoàng S và bà Dương Thị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử vụ án mà các đương sự đều vắng mặt 02 lần không lý do; Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

Ông Nguyễn Văn R và chị Ngô Thị K1 có yêu cầu vắng mặt phiên tòa với lý do bận công việc, đây là yêu cầu chính đáng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Trần Thị Tuyết L khởi kiện bà Thái Ngọc Y và anh Nguyễn Quốc D buộc trả lại phần đất bị lấn chiếm nên quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Về giá đất: Tại phiên tòa bà L, bà Y và anh D thống nhất giá đất tranh chấp 40.000 đồng/1m² nên các đương sự không yêu cầu định giá. Xét thấy việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với giá thị trường và phù hợp quy định của pháp luật nên được xem xét chấp nhận.

[2]. Về nội dung vụ án.

Trần Thị Tuyết L, bà Thái Ngọc Y và anh Nguyễn Quốc D có hai phần đất cặp ranh nhau, qua thời gian quản lý, sử dụng giữa các bên phát sinh tranh chấp, bà L cho rằng phía bà Y và anh D lấn chiếm đất của bà nên bà L khởi kiện buộc bà Y và anh D trả lại cho bà phần đất diện tích qua đo đạc thực tế 477,4m² tọa lạc tại ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

[2.1]. Xét yêu cầu của bà L.

Nguyên đơn và bị đơn tranh chấp diện tích đất qua đo đạc thực tế 477,4m² tọa lạc tại ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau theo Bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 15/5/2024 của Chi nhánh Công ty TNHH T3 tại Cà Mau. Vị trí tranh chấp là con bờ ranh phân chia hai phần đất. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn không xác định được đất của mình có chiều ngang (dài) bao nhiêu mét. Bà L cho rằng đất của bà thì mặt tiền lấy đủ ngang 23,5m đo trở ra hậu khoảng ½ đất, từ vị trí này đo ra hậu lấy đủ chiều ngang 23,3m nhưng không có chứng cứ chứng minh và đất của bà L đã được giải quyết tại Bản án phúc thẩm số 108/2021/DS-PT ngày 02/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, án có hiệu lực pháp luật nên được dùng làm chứng cứ giải quyết vụ án.

Về nguồn gốc đất: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ông Nguyễn Văn T thửa 72 và 73, tờ bản đồ số 7, diện tích 15.150m² vào ngày 26/10/1993. Qua đo đạc thực tế ngày 15/5/2024 đất bà L có diện tích 17.098,9m² (chưa tính diện tích đất tranh chấp 477,4m²) và qua đo đạc thực tế vào ngày 24/8/2020 đất của bà L quản lý có diện tích 15.819,3m² (chưa tính diện tích đất tranh chấp với ông N1 là 1980,5m²). Bản án phúc thẩm số 108/2021/DS-PT ngày 02/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau tuyên có đoạn chia đôi bờ ranh theo hiện trạng nên không xác định được ông N1 phải trả lại cho bà L diện tích bao nhiêu trong diện tích đất tranh chấp 1980,5m². Qua đo đạc thực tế đất bà Y có diện tích 32.383,9m² là dư 183,9m² so với giấy chứng nhận được cấp (chưa tính diện tích đất tranh chấp với bà L 477,4m² và diện tích tranh chấp ranh đất với bà Phạm Thị T1 2.484,7m2, với ông Phạm Văn T2 121,6m², với ông Hà Châu K2 126,4m²).

Trên bờ đất tranh chấp có nhiều cây trụ đá được cắm, phía bị đơn đồng ý với các cây trụ đá hiện hữu nhưng nguyên đơn bà L cho rằng bị di dời. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bà L và bà Y, anh D trình bày thống nhất từ năm 2011 cho đến nay bà L không cải tạo bỏ đất lên bờ ranh chung; ngược lại bị đơn bà Y thì nhiều lần cải tạo bỏ đất lên bờ ranh nên bờ ranh đất bên phía bà Y cao là có cơ sở. Khi Toà án đo đạc thực tế vào ngày 24/8/2020 thì phía mặt tiền giáp lộ xi măng bà L và ông Nguyễn Văn R (chồng bà Y) thoả thuận ranh là ½ bờ, trụ đá cũng được cắm trên ½ bờ; hướng hậu đất thoả thuận bên bà L 4 phần bờ, ông R 6 phần bờ. Nay các trụ đá cắm không hoàn toàn nằm trên ½ bờ thì bà L cho rằng bị di dời, bà Y cho rằng do bà có cải tạo nên bờ lớn, rộng ra nhưng các bên đều không có chứng cứ chứng minh.

Tại Công văn số 12/CTTC ngày 25/7/2024 của Chi nhánh Công ty TNHH T3 tại Cà Mau xác định sau khi chồng ghép bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 15/5/2024 lên tờ bản đồ địa chính số 8 thành lập năm 2003 thì vị trí thửa đất tranh chấp (thửa 3) nằm trọn bên thửa số 41; thửa 7 (diện tích 462,0m2) phần lớn thuộc thửa 85 (chiếm diện tích 453,8m2) và một phần thuộc thửa 82 (chiếm diện tích 8,2m2). Theo Bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 25/7/2024 để xác định toạ độ bà L và ông Nguyễn Văn R thoả thuận cắm ranh 03 điểm là đoạn giáp Kênh 5, lộ xi măng và hậu đất vào ngày 18/8/2020 so với toạ độ bà L tranh chấp ranh với bà Y, anh D để xác định chính xác ranh chung đã cắm ranh trước đây đoạn giáp Kênh 5, lộ xi măng và hậu đất là đúng quy định, phù hợp với thoả thuận việc hai bên tự nguyện cắm mốc phân chia ranh giới trước khi tranh chấp. Riêng đoạn giữa đất bờ không thẳng nên hai bên có cắm nhiều trụ đá không đúng theo toạ độ, nếu lấy toạ độ thẳng từ tiền tới hậu thì có nhiều điểm không đúng vị trí hai bên cùng xác định, có đoạn qua mặt nước đất bà L, bà Y. Do vậy, cần tính chính xác từng đoạn theo trụ đá, theo bờ hiện hữu là có căn cứ, ranh chung được xác định cụ thể:

Phía giáp Kênh 5 lấy vị trí M4 đo thẳng về hướng lộ xi măng lấy ranh theo toạ độ năm 2020 gọi là điểm A1, đoạn này gia đình bà Y phải giao trả diện tích 10,9m² (gồm cạnh M4A1 dài 53,22m, cạnh A1M9 dài 0,18m, cạnh A1M5 dài 53,13m, M5M4 cạnh dài 0,25m). Vị trí điểm M15M16 lấy ranh theo toạ độ năm 2020 gọi là điểm A2;

Từ điểm A2 đo về trụ đá thứ nhất lấy ranh theo toạ độ năm 2020 gọi là điểm A3;

Từ điểm A3 đo về trụ đá thứ hai (vị trí tại điểm M52M51) lấy ranh theo trụ đá đã cắm (có lợi cho bà L) gọi là điểm A4;

Từ điểm A4 đo về vị trí tại điểm M53M54 lấy ranh theo toạ độ năm 2020 gọi là điểm A5 (vị trí bà L xác định ranh là trùng khớp với toạ độ năm 2020);

Từ điểm A5 đo về vị trí tại điểm M55M56 lấy ranh theo trụ đá đã cắm (có lợi cho bà L) gọi là điểm A6;

Từ điểm A6 đo về vị trí tại điểm M57M58 lấy ranh theo trụ đá đã cắm (có lợi cho bà L) gọi là điểm A7;

Từ điểm A7 đo về vị trí tại điểm M33M34 lấy ranh theo vị trí bà L xác định (Nếu lấy toạ độ năm 2020 thì không có lợi cho bà Y) gọi là điểm A8;

Từ điểm A8 đo về vị trí trụ đá A lấy ranh theo vị trí bà L xác định (Nếu lấy toạ độ năm 2020 thì không có lợi cho bà Y) gọi là điểm A9;

Từ điểm A9 đo về vị trí tại điểm M29' lấy ranh theo toạ độ năm 2020 (vị trí bà Y xác định ranh là trùng khớp với toạ độ năm 2020); đoạn này gia đình bà Y phải giao trả diện tích 29.7m² (gồm cạnh A9M39' dài 164,24m, cạnh từ trụ đá đến M39' dài 164,32m, cạnh A9 đến trụ đá dài 0,36m); từ điểm M29' đo về vị trí tại điểm M32, M31 lấy ranh theo toạ độ năm 2020 (vị trí bà Y xác định ranh là trùng khớp với toạ độ năm 2020) không tách diện tích.

[2.2]. Về chi phí tố tụng: Bà L đã đăng nộp cho Công ty Đ2 số tiền 20.400.000 đồng và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 200.000 đồng, tổng cộng 20.600.000 đồng, do chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà L nên chi phí tố tụng được phân chia mỗi bên chịu ½. Bà Y và anh D có trách nhiệm liên đới nộp trả lại cho nguyên đơn 10.300.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Kể từ ngày bà Trần Thị Tuyết L có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà Thái Ngọc Y, anh Nguyễn Quốc D còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

[2.3]. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết L đòi lại diện tích đất 436.8m² tọa lạc ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau đối với bà Thái Ngọc Y, anh Nguyễn Quốc D.

[2.4]. Về án phí dân sự có giá ngạch: Bà Y, anh D chịu theo quy định pháp luật (40,6m² x 40.000 đồng). Bà Y là đối tượng người cao tuổi, có yêu cầu miễn án phí nên bà được miễn toàn bộ. Phần anh D chịu án phí số tiền 150.000 đồng. Bà L thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí, tạm ứng án phí nên không đặt ra xem xét.

Đối với hợp đồng thuê, mướn đất nuôi trồng thủy sản giữa bà Trần Thị Tuyết L với ông Nguyễn Hoàng S và bà Dương Thị Đ, do các đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét.

[2.5]. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp nên được chấp nhận.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 157, 158 khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự; điểm đ Điều 12, khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết L. Buộc bà Thái Ngọc Y, anh Nguyễn Quốc D (Diển), chị Ngô Thị K1 và ông Nguyễn Văn R phải có nghĩa vụ giao trả cho bà Trần Thị Tuyết L tổng diện tích đất là 40,6m², trong đó diện tích đất 10,9.m² bao gồm các điểm M4A1M9M5 và diện tích đất 29.7m² bao gồm các điểm A2A3A4A5A6A7A8A9A10(M32) M29′M33M57 M56M53M51A3M16, đất tọa lạc ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau có các hướng tiếp giáp:

Phía giáp Kênh 5 lấy vị trí M4 đo thẳng về hướng lộ xi măng lấy ranh theo toạ độ năm 2020, gọi là điểm A1, đoạn này gia đình bà Y phải giao trả diện tích 10,9m² (gồm cạnh M4A1 dài 53,22m, cạnh A1M9 dài 0,18m, cạnh A1M5 dài 53,13m, M5M4 cạnh dài 0,25m). Vị trí điểm M15M16 lấy ranh theo toạ độ năm 2020, gọi là điểm A2;

Từ điểm A2 đo về trụ đá thứ nhất lấy ranh theo toạ độ năm 2020, gọi là điểm A3;

Từ điểm A3 đo về trụ đá thứ hai (vị trí tại điểm M52M51) lấy ranh theo trụ đá đã cắm, gọi là điểm A4;

Từ điểm A4 đo về vị trí tại điểm M53M54 lấy ranh theo toạ độ năm 2020, gọi là điểm A5;

Từ điểm A5 đo về vị trí tại điểm M55M56 lấy ranh theo trụ đá đã cắm, gọi là điểm A6;

Từ điểm A6 đo về vị trí tại điểm M57M58 lấy ranh theo trụ đá đã cắm, gọi là điểm A7;

Từ điểm A7 đo về vị trí tại điểm M33M34 lấy ranh theo vị trí bà L xác định, gọi là điểm A8;

Từ điểm A8 đo về vị trí trụ đá A lấy ranh theo vị trí bà L xác định, gọi là điểm A9;

Từ điểm A9 đo về vị trí tại điểm M29' lấy ranh theo toạ độ năm 2020 (vị trí bà Y xác định ranh là trùng khớp với toạ độ năm 2020); đoạn này gia đình bà Y phải giao trả diện tích 29.7m² (gồm cạnh A9M39' dài 164,24m, cạnh từ trụ đá đến M39' dài 164,32m, cạnh A9 đến trụ đá dài 0,36m); từ điểm M29' đo về vị trí tại điểm M32, M31 lấy ranh theo toạ độ năm 2020 (vị trí bà Y xác định ranh là trùng khớp với toạ độ năm 2020) không tách diện tích.

- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết L đòi lại diện tích đất 436.8 m² tọa lạc ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau đối với bà Thái Ngọc Y, anh Nguyễn Quốc D.

- Chi phí tố tụng: Buộc bà Thái Ngọc Y, anh Nguyễn Quốc D phải có nghĩa vụ liên đới giao trả lại cho bà Trần Thị Tuyết L số tiền 10.300.000 đồng.

Kể từ ngày bà Trần Thị Tuyết L có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà Thái Ngọc Y, anh Nguyễn Quốc D còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Anh Nguyễn Quốc D phải chịu số tiền 150.000 đồng.

Miễn toàn bộ án phí cho bà Thái Ngọc Y.

Miễn toàn bộ tạm ứng án phí, án phí cho bà Trần Thị Tuyết L.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Năm Căn;
  • - CCTHADS huyện Năm Căn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Diệu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 98/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết L. Buộc bà Thái Ngọc Y, anh Nguyễn Quốc D (D), chị Ngô Thị K và ông Nguyễn Văn R phải có nghĩa vụ giao trả cho bà Trần Thị Tuyết L tổng diện tích đất là 40,6m2, trong đó diện tích đất 10,9.m2 bao gồm các điểm M4A1M9M5 và diện tích đất 29.7m2 bao gồm các điểm A2A3A4A5A6A7A8A9A10(M32) M29’M33M57 M56M53M51A3M16, đất tọa lạc ấp E, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger