|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 98/2024/DS-ST Ngày 25-9-2024 V/v “Tranh chấp chia tài sản chung của hộ gia đình, chia thừa kế và tranh chấp hợp đồng đặt cọc” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Hải Âu.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Thưởng.
- Bà Trần Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Kiều Thị Mỹ Tiên – Kiểm sát viên.
Vào các ngày 18 và 25 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 196/2022/TLST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp chia tài sản chung của hộ gia đình, chia thừa kế và tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Trọng N, sinh năm 1992.
- Bị đơn: Ông Trần Văn H (T), sinh năm 1970.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thanh T1, sinh năm 2001.
- Anh Lý Phước T2, sinh năm 1983;
- Chị Trương Thị Thanh T3, sinh năm 1982.
- Bà Trần Thị Ú, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: 4 L, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: 9 N, Phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Ấp Q, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
(Anh N, ông H, anh T2 và chị T3 có mặt; chị T1 và bà Ú đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 16/11/2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Trọng N trình bày:
Hộ bà Nguyễn Thị Thu T4 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất:
- + Thửa số 450, tờ bản đồ C6, diện tích 2.776m², mục đích sử dụng 2L.
- + Thửa số 445, tờ bản đồ C6, diện tích 2.863m², mục đích sử dụng 2L.
- + Thửa số 352, tờ bản đồ C6, diện tích 4.670m², mục đích sử dụng 2L.
- + Thửa số 353, tờ bản đồ C6, diện tích 1.309m², mục đích sử dụng 2L.
- + Thửa số 354, tờ bản đồ C6, diện tích 605m², mục đích sử dụng ĐM+T.
Các thửa đất trên tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ bà NGUYỄN THỊ THU T4, sinh năm 1971, địa chỉ: ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang vào ngày 10/4/1999, số vào sổ 02352QSDD/126/QĐUB.
Năm 2022, bà T4 chết không để lại di chúc. Thời điểm cấp GCN.QSDĐ hộ gia đình gồm có: Nguyễn Thị Thu T4, Trần Văn H và Trần Trọng N.
Anh N khởi kiện yêu cầu xác định quyền sử dụng đất các thửa đất nói trên thuộc quyền sử dụng của 03 người: Trần Văn H, Nguyễn Thị Thu T4 và Trần Trọng N.
- Yêu cầu chia di sản thừa kế do bà T4 chết để lại (di sản của bà T4 là 1/3 quyền sử dụng các thửa đất nêu trên) theo pháp luật, chia làm 03 phần bằng nhau cho Trần Văn H, Trần Trọng N và Trần Thanh T1. Anh N yêu cầu được nhận quyền sử dụng đất.
- Đối với căn nhà được xây dựng trên thửa đất số 354 là tài sản chung của ông H và bà T4. Anh N yêu cầu chia thừa kế của bà T4 đối với ½ giá trị căn nhà làm 03 phần bằng nhau cho Trần Văn H, Trần Trọng N và Trần Thanh T1. Đồng ý giao căn nhà cho ông H, chị T1 sở hữu, yêu cầu ông H, chị T1 hoàn trả lại cho cho anh N giá trị bằng tiền.
* Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên hòa giải ngày 12/7/2023, bị đơn ông Trần Văn H trình bày:
Không thống nhất theo trình bày và yêu cầu khởi kiện của anh N. Toàn bộ tài sản này đều là tài sản chung của ông H và bà T4. N và T1 là con cái trong nhà nhưng không có đóng góp gì trong việc xây dựng tài sản chung. Nay đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định đối với việc chia di sản thừa kế của bà T4 theo pháp luật.
Đối với yêu cầu độc lập của anh T2, chị T3, thừa nhận có thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng đất như anh T2, chị T3 trình bày. Do sau khi bà T4 chết, anh N không chịu hợp tác nên không thể làm thủ tục chuyển nhượng cho anh T2 như thỏa thuận. Nay tôi đồng ý tiếp tục chuyển nhượng cho anh T2, số tiền chuyển nhượng đất thì nộp cho thi hành án để đảm bảo các khoản nợ hụi mà ông H, bà T4 có nghĩa vụ trả cho hụi viên.
* Tại Đơn khởi kiện yêu cầu độc lập ngày 06/4/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Phước T2 và chị Trương Thị Thanh T3 trình bày:
Vào ngày 16/12/2021, vợ chồng anh T2, chị T3 có thỏa thuận nhận chuyển nhượng diện tích đất khoảng 9.000m² từ gia đình ông H gồm: ông H, bà T4, anh N và chị T1 với số tiền là 180.000 đồng/m². Hai bên có lập hợp đồng đặt cọc, theo đó anh, chị đã giao tiền cọc cho gia đình ông H số tiền là 150.000.000 đồng, số tiền còn lại sau khi đo đạc xong thì sẽ trả đủ, các chi phí phát sinh cho việc sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ do bên nhận chuyển nhượng chịu.
Sau khi đã tiến hành đo đạc diện tích chuyển nhượng xong thì bà T4 chết, ông H, anh N và chị T1 phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất và không tiếp tục thực hiện việc sang tên chuyển nhượng cho anh, chị.
Anh T2 và chị T3 khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn H, anh Trần Trọng N và chị Trần Thanh T1 tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông anh T2 và chị T3 đối với các thửa đất sau: thửa đất số 450, diện tích 2.776m² (diện tích thực tế 2.499,5m²); thửa đất số 445, diện tích 2.863m² (diện tích thực tế 3.521,1m²); thửa đất số 352, diện tích 4.670m² (đo đạc thực tế tách thành 02 thửa: Thửa 1834 diện tích 1.574,7m² và thửa 1835 diện tích 3.095,3m²), thửa đất số 353, diện tích 1.309m² (đo đạc thực tế tách thành 02 thửa: Thửa 1836 diện tích 808,7m² và thửa 1837 diện tích 500,3m²), thuộc tờ bản đồ C6, tọa lạc ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02352, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ bà Nguyễn Thị Thu T4 ngày 10/4/1999. Anh T2 và chị T3 sẽ đưa đủ số tiền còn lại trong hợp đồng đặt cọc ngày 16/12/2021.
Trường hợp ông H, anh N và chị T1 không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng thì yêu cầu ông H, anh N và chị T1 phải liên đới hoàn trả lại số tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng và số tiền phạt cọc là 150.000.000 đồng, đồng thời phải hoàn trả tiền chi phí đo đạc cho anh T2, chị T3 là 11.900.000 đồng.
* Tại Biên bản ghi lời khai ngày 11/4/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Ú trình bày:
Bà là em ruột của ông Trần Văn H, vào năm 2000, bà có nhập hộ khẩu vào hộ ông Trần Văn H, đến năm 2003 thì tách hộ chuyển về quê ở T, thị xã C sinh sống. Thời điểm nhập hộ khẩu, bà Ú có con nhỏ nên không có canh tác, sử dụng gì đối với các thửa đất có tranh chấp, đất đai do vợ chồng ông H, bà T4 tạo lập, nhận chuyển nhượng mà có. Đối với nội dung tranh chấp, bà không có ý kiến gì.
* Tại đơn xin vắng mặt ngày 10/7/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thanh T1 trình bày:
Chị thống nhất và đồng ý theo ý kiến của ông Trần Văn H, không thắc mắc hay khiếu nại gì về sau.
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn anh Trần Trọng N yêu cầu: xác định quyền sử dụng đất các thửa đất 354, 445, 352, 353, 450 thuộc quyền sử dụng của 03 người: Trần Văn H, Nguyễn Thị Thu T4 và Trần Trọng N.
Yêu cầu chia di sản thừa kế do bà T4 chết để lại theo pháp luật, chia làm 02 phần bằng nhau cho Trần Trọng N và Trần Thanh T1, yêu cầu được nhận quyền sử dụng đất.
Đối với căn nhà được xây dựng trên thửa đất số 354 là tài sản chung của ông H và bà T4. Anh N yêu cầu chia thừa kế của bà T4 đối với ½ giá trị căn nhà làm 02 phần bằng nhau cho Trần Trọng N và Trần Thanh T1. Yêu cầu được nhận căn nhà và đồng ý hoàn giá trị bằng tiền cho ông N, chị T1.
Đối với yêu cầu của anh T2, chị T3 anh N đồng ý hủy hợp đồng đặt cọc như yêu cầu của anh T2, chị T3. Do không nhận tiền cọc nên không đồng ý liên đới trả lại tiền cọc, đồng ý bồi thường tiền phạt cọc và chi phí đo đạc cho anh T2 và chị T3.
- Bị đơn ông Trần Văn H không thống nhất với yêu cầu khởi kiện của anh Trần Trọng N, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết không chia tài sản chung, không chia thừa kế. Sau khi thanh toán xong các khoản nợ thì ông sẽ chia đất, không đồng ý hoàn chi phí tố tụng cho anh N.
Đối với yêu cầu độc lập của anh T2, chị T3, ông đồng ý liên đới cùng anh N, chị T1 hoàn trả 150.000.000 đồng tiền cọc, đồng ý bồi hoàn tiền đo đạc là 11.900.000 đồng, thống nhất số tiền pạt cọc là 150.000.000 đồng, nhưng xin anh T2, chị T3 xem xét do điều kiện khó khăn nên xin không tính tiền phạt cọc.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Phước T2 và chị Trương Thị Thanh T3 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông H, anh N và chị T1 phải liên đới hoàn trả lại số tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng và số tiền phạt cọc là 150.000.000 đồng, đồng thời phải hoàn trả tiền chi phí đo đạc cho anh T2, chị T3 với số tiền là 11.900.000 đồng.
* Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Các đương sự tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết, cụ thể:
- + Không chấp nhận yêu cầu xác định quyền sử dụng đất thuộc về ông H, bà T4 và anh N như yêu cầu khởi kiện của anh N. Đề nghị xác định đây là tài sản chung của ông H và bà T4.
- + Về chia thừa kế: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của anh N, chia thừa kế là ½ quyền sử dụng của bà T4 chết để lại cho anh N và chị T1. Giao toàn bộ thửa đất số 354 (thực đo 572,3m²) và căn nhà trên đất cho ang N, buộc anh N phải hoàn giá trị lại cho ông H và chị T1. Các thửa đất còn lại đề nghị giải quyết theo quy định.
- + Về yêu cầu độc lập: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của anh Lý Phước T2 và chị Trương Thị Thanh T3. Buộc ông H, anh N và chị T1 phải liên đới hoàn trả lại số tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng và số tiền phạt cọc là 150.000.000 đồng, đồng thời phải hoàn trả tiền chi phí đo đạc cho anh T2, chị T3 với số tiền là 11.900.000 đồng.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc các đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, phần tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn anh N yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của hộ và chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản bà Nguyễn Thị Thu T4 chết để lại; phần đất có phát sinh tranh chấp tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang, đồng thời người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh T2, chị T3 có yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án buộc ông H, anh N và chị T1 liên đới trả tiền cọc nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp chia tài sản chung của hộ gia đình, chia thừa kế và tranh chấp hợp đồng đặt cọc” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại Khoản 3, Khoản 5 và Khoản 9 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thanh T1 và bà Trần Thị Ú vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[3]. Về nội dung:
[3.1]. Về các thành viên trong hộ gia đình có quyền sử dụng đất:
Theo nguyên đơn trình bày thành viên hộ ông Trần Văn H thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm có 03 người: Trần Văn H, Nguyễn Thị Thu T4 và Trần Trọng N, hiện nay có thêm chị Trần Thanh T1 nên các thành viên trong hộ có quyền sử dụng đất là Trần Văn H, Nguyễn Thị Thu T4 và Trần Trọng N.
Theo nội dung Công văn số 823/CAH-QLHC ngày 05/6/2023 của Công an huyện T xác định được: Thời điểm ngày 10/4/1999 hộ bà Nguyễn Thị T4 không có thông tin. Thời điểm ngày 20/5/2001 hộ ông Trần Văn H gồm có: Trần Văn H, Nguyễn Thị Thu T4, Trần Trọng N, Trần Thanh T1 và Trần Thị Út .
Quá trình giải quyết vụ án, bà Ú trình bày vào năm 2000, bà có nhập hộ khẩu vào hộ ông Trần Văn H, đến năm 2003 thì tách hộ chuyển về quê ở T, thị xã C sinh sống. Thời điểm nhập hộ khẩu, bà Ú có con nhỏ nên không có canh tác, sử dụng gì đối với các thửa đất có tranh chấp. Ngoài ra, tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh N sinh năm 1992 và chị T1 sinh năm 2000, còn nhỏ, không có quyền sử dụng đất.
Đồng thời, tại Đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/11/1997 (BL số 97) của bà T4 có thông tin người đăng ký cấp giấy đất là Nguyễn Thị Thu T4, họ tên chồng Trần Văn H, nguồn gốc đất là từ nhận chuyển nhượng năm 86. Tuy nhiên, bà Thủy sinh năm 1971, năm 1986 bà T4 chỉ mới 15 tuổi nên thông tin năm chuyển nhượng là chưa chính xác. Tại phiên tòa, ông H khai nhận, nguồn gốc thửa đất ông và bà T4 nhận chuyển nhượng vào khoảng năm 1992, mua bán bằng giấy tay, thời điểm này các chủ đất cũ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lời khai này phù hợp với lời khai của những người làm chứng Huỳnh Thị T5, Nguyễn Văn M.
Ông H và bà T4 cưới nhau năm 1991, đến năm 2001 tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P. Tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.”
Như vậy, căn cứ vào quy định tại Khoản 29 Điều 3, Điều 5 Luật Đất đai, Mục 4 Phần III Giải đáp 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017, Điều 212 Bộ luật Dân sự và Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định người có quyền sử dụng đất gồm có: ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị Thu T4, đối với các thửa đất:
- + Thửa số 450, tờ bản đồ C6, diện tích 2.776m² ( thực đo 2.506,7m²), mục đích sử dụng 2L.
- + Thửa số 445, tờ bản đồ C6, diện tích 2.863m² (thực đo 3.498,2m²), mục đích sử dụng 2L.
- + Thửa số 352, tờ bản đồ C6, diện tích 4.670m² (thực đo 4.206,7m²), mục đích sử dụng 2L.
- + Thửa số 353, tờ bản đồ C6, diện tích 1.309m², mục đích sử dụng 2L.
- + Thửa số 354, tờ bản đồ C6, diện tích 605m² (thực đo 572,3m²), mục đích sử dụng ĐM+T.
Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu khởi kiện xác định tài sản chung của hộ là quyền sử dụng đất của 03 người: Trần Văn H, Nguyễn Thị Thu T4 và Trần Trọng Nghĩa 1 không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2]. Về yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật:
Vào ngày 13/01/2022, bà T4 và ông H đã ly hôn theo quyết định số 09/2022/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước. Đến ngày 16/01/2022, bà T4 chết. Căn cứ quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự xác định hàng thừa kế của bà T4 gồm có anh Trần Trọng N và chị Trần Thanh T1.
Tại phiên tòa, anh N yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của bà T4 chết để lại là ½ quyền sử dụng các thửa đất đã nêu trên và chia thừa kế đối với quyền sở hữu ½ căn nhà được xây dựng trên thửa đất số 354 cho anh Trần Trọng N và chị Trần Thanh T1. Anh N yêu cầu được nhận căn nhà và đồng ý hoàn giá trị bằng tiền lại cho ông H và chị T1. Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.2.1]. Trên thửa đất số 354, diện tích thực đo 572,3m², có các công trình sau:
- + Nhà chính: xây dựng năm 2013. Diện tích xây dựng 196,17m². Kết cấu móng cột bê tông cốt tép, đòn tay gỗ quy các, vách tường xây gạch chưa tô, mái fibro xi măng, nền xi măng, không trần, có khu phụ.
- + Mái che 1: xây dựng năm 2014, diện tích xây dựng (14,6 x 5,8) là 84,68m², kết cấu cột bê tông cốt thép, kèo, đòn tay gỗ quy cách, mái tole, nền xi măng.
- + Mái che 2: Diện tích xây dựng (5,85 x 3,1) là 18,14m². Kết cấu bê tông cốt thép, kèo, đòn tay gỗ tạp, mái che, nền xi măng.
- + Sân đal: Diện tích: 13,7 x 2 = 27,4m². Kết cấu nền bê tông đá 1x2.
- + Hồ nước: Kết cấu bê tông đúc sẵn, số lượng 02, thể tích 2m³ mỗi hồ. Hồ nước kết cấu tường xây gạch, đan đáy, nắp bê tông cốt thép, thể tích 3m³.
- + Hàng rào:
- + Cây trồng trên đất: Mận loại A 01 cây; Sầu riêng lại C 01 cây, Bưởi loại B2 04 cây, Tắc loại B2 01 cây; Bơ loại B2 01 cây; M1 đường kính 2 – 5cm 15 cây; M1 đường kính từ 05 – 10cm 07 cây.
Đoạn 1: diện tích 23,3 x 2,5 = 58,25m², kết cấu móng cột bê tông, tường xây gạch cao 0,5m, có ốp gạch, phía trên khung thép hình.
Cổng rào: Diện tích 3,3 x 3 = 9,9m². Kết cấu trụ bê tông cốt thép 400 x 400, ốp gạch Ceramic, cửa cổng bằng khung thép hình.
Đoạn 2: Diện tích 49,15 x 2,5 = 122,88m², kết cấu móng cột bê tông, tường xây gạch cao 0,5m, có ốp gạch, phía trên có lưới B40.
Tại phiên tòa, anh N và ông H thống nhất hàng rào, cổng rào do anh N xây dựng, các cây trồng không tranh chấp. Hội đồng xét xử xét thấy, căn nhà và các công trình khác được xây dụng gần như toàn bộ trên thửa đất số 354, mặt khác căn nhà hiện anh N đang sinh sống, ông H không sinh sống trên căn nhà này. Việc phân chia thửa đất bằng quyền sử dụng đất là không thể thực hiện được, nên cần thiết giao toàn bộ thửa đất số 354, căn nhà và toàn bộ công trình, cây trồng trên đất cho anh N quản lý, sử dụng, sở hữu, anh N phải có nghĩa vụ hoàn trả giá trị bằng tiền cho ông H và chị T1 là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 219 và Khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự.
Theo giá thị trường, giá đất tại khu vực đất có tranh chấp rơi vào khoảng 200.000.000 đồng – 250.000.000 đồng/1000m². Tại phiên tòa, ông H và anh N thống nhất giá trị đất là 225.000.000 đồng/1000m² tức bằng 225.000 đồng/m², nên Hội đồng xét xử ghi nhận giá đất theo thống nhất của các đương sự.
Tại Biên bản định giá ngày 01/12/2023, xác định giá trị tài sản như sau:
- + Giá đất: 572,3m² x 225.000 đồng = 128.767.500 đồng.
- + Nhà chính: 196,17m² x 3.990.000 đồng x 70% = 547.902.810 đồng.
- + Mái che 1: 84,68m² x 575.000 đồng x 65% = 33.109.880 đồng.
- + Mái che 2: 18,14m² x 463.000 đồng x 65% = 5.423.860 đồng.
- + Sân đal: 27,4m² x 173.000 đồng x 70% = 3.318.140 đồng.
- + Hồ nước: 2 cái x (536.000 đồng/m³ x 2m³ x 70%) = 1.500.800 đồng.
- + Hồ nước: 1.515.000 đồng/m³ x 6m³ x 70% = + 6.363.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bao gồm giá trị đất và nhà cửa, công trình trên đất là:
(225.000 đồng/m2 x 572,3m²) + 547.902.810 đồng + 33.109.880 đồng + 5.423.860 đồng + 3.318.140 đồng + 1.500.800 đồng + 6.363.000 đồng) = 726.3385.990 đồng.
Anh N phải hoàn giá trị bằng tiền cho ông H là: 726.3385.990 đồng : 2 = 363.192.995 đồng.
Anh N phải hoàn trả giá trị bằng tiền cho chị T1 là: 363.192.995 đồng : 2 = 181.596.497,5 đồng.
Đối với các thửa đất còn lại gồm: Thửa đất số 445, 352, 353, 450, chia cho ông H được quyền sử dụng ½, chia thừa kế cho anh N và chị T1 mỗi người được quyền sử dụng ¼ các thửa đất. Tại phiên tòa, anh N yêu cầu được nhận quyền sử dụng đất ở hướng Đông các thửa đất, chia cho chị T1 quyền sử dụng đất liền kề, còn lại của ông H. Để đảm bảo việc ổn định và thuận tiện trong việc sử dụng đất, Hội đồng xét xử xác định:
[3.2]. Thửa đất số 352, diện tích theo giấy 4.670m², thực đo 4.206,7m², loại đất 2L, chia như sau:
- Chia cho ông H được quyền sử dụng là 1.968,1m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần diện tích 981,2m² chia cho chị Trần Thanh T1.
- - Phía tây giáp với đất của ông Nguyễn Văn N1.
- - Phía nam giáp với phần diện tích 1.49,1m² của thửa đất số 445 mà ông H được chia.
- - Phía bắc giáp với đường tây kênh Ngang đá 04.
- (Có sơ đồ kèm theo)
- Chia cho chị T1 được quyền sử dụng là 981,2m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần diện tích 993,8m² chia cho anh Trần Trọng N.
- - Phía tây giáp với phần diện tích 1.968,1m² chia cho ông Trần Văn H.
- - Phía nam giáp với phần diện tích 1.749,1m² của thửa đất số 445 chia cho ông Trần Văn H.
- - Phía bắc giáp với đường tây kênh Ngang đá 04.
- (Có sơ đồ kèm theo)
- Chia cho anh N được quyền sử dụng là 993,8m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với thửa đất số 354 và thửa 353.
- - Phái tây giáp với phần diện tích 981,2m² chia cho chị Trần Thanh T1.
- - Phía nam giáp với phần diện tích 874,6m² của thửa đất số 445 mà chị T1 được chia.
- - Phía bắc giáp với đường tây kênh Ngang đá 04.
- (Có sơ đồ kèm theo)
Phần giá trị tài sản của thửa số 352 ông H được chia là: 1.968,1m² x 225.000 đồng = 442.822.500 đồng.
Phần giá trị tài sản của thửa số 352 anh N và chị T1 mỗi người được chia là: 981,2m² x 225.000 đồng = 220.770.000 đồng.
+ Thửa đất số 353, diện tích 1.309m², loại đất 2L, do thửa đất số 353 nằm liền kề vưới thửa đất số 354, một phần căn nhà cũng được xây dụng trên thửa đất số 353, nên cần thiết chia cho anh N được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất 353. Anh N phải hoàn lại ½ giá trị đất cho ông H và hoàn ¼ giá trị đất cho chị T1, cụ thể:
Số tiền anh N phải hoàn trả cho ông H là: (1.309m² x 225.000 đồng/m²) : 2 = 147.262.500 đồng.
Số tiền anh N phải hoàn trả cho chị T1 là: 147.262.500 đồng : 2 = 73.631.250 đồng.
[3.3]. Thửa đất số 445, diện tích theo giấy 2.863m², thực đo 3.498,2m², loại đất 2L, chia như sau:
- Chia cho ông H được quyền sử dụng là 1.749,1m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần diện tích 874,6m² chia cho chị Trần Thanh T1.
- - Phía tây giáp với đất của Huỳnh Việt Q.
- - Phía nam giáp với phần diện tích 627,7m² của thửa số 450 chia cho anh Trần Trọng N.
- - Phía bắc giáp với thửa số 352.
- (Có sơ đồ kèm theo)
- Chia cho chị T1 được quyền sử dụng là 874,6m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần diện tích 874,5m² chia cho anh Trần Trọng N.
- - Phía tây giáp với phần diện tích 1.749,1m² chia cho ông Trần Văn H.
- - Phía nam giáp phần diện tích 627,7m² của thửa số 450 chia cho anh Trần Trọng N.
- - Phía bắc giáp với phần diện tích 993,8m² của thửa 352 chia cho anh Trần Trọng N và thửa số 353.
- (Có sơ đồ kèm theo)
- Chia cho anh N được quyền sử dụng là 874,5m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần đất của bà Nguyễn Thị T6.
- - Phía tây giáp với phần diện tích 874,6m² chia cho chị Trần Thanh T1.
- - Phía nam giáp với phần diện tích 627,7m² của thửa số 450 chia cho anh Trần Trọng N.
- - Phía bắc giáp với thửa đất số 353.
- (Có sơ đồ kèm theo)
Phần giá trị tài sản của thửa số 445 ông H được chia là: 1.749,1m² x 225.000 đồng = 339.547.500 đồng.
Phần giá trị tài sản của thửa số 445 chị T1 được chia là: 874,6m² x 225.000 đồng = 196.785.000 đồng.
Phần giá trị tài sản của thửa số 445 anh N được chia là: 874,5m² x 225.000 đồng = 196.762.500 đồng.
[3.4]. Thửa đất số 450, diện tích theo giấy 2.776m², thực đo 2506,7m², loại đất 2L, chia như sau:
- Chia cho ông H được quyền sử dụng là 1.253,3m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần diện tích 626,7m² chia cho chị Trần Thanh T1.
- - Phía tây giáp với đất của Nguyễn Thị Thanh T7.
- - Phía nam giáp với đường đi công cộng đal.
- - Phía bắc giáp với đất của ông Huỳnh Việt Q.
- (Có sơ đồ kèm theo)
- Chia cho chị T1 được quyền sử dụng là 626,7m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần diện tích 626,7m² chia cho anh Trần Trọng N.
- - Phía tây giáp với phần diện tích 1.253,3m² chia cho ông Trần Văn H.
- - Phía nam giáp với đường đi công cộng đal.
- - Phía bắc giáp với đất của ông Huỳnh Việt Q.
- (Có sơ đồ kèm theo)
- Chia cho anh N được quyền sử dụng là 626,7m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần đất của bà Nguyễn Thị T6.
- - Phía tây giáp với phần diện tích 626,7m² chia cho chị Trần Thanh T1.
- - Phía nam giáp với đường đi công cộng đal.
- - Phía bắc giáp với và phần diện tích đất chia cho chị Trần Thanh T1 và anh Trần Trọng N của thửa số 445.
- (Có sơ đồ kèm theo)
Phần giá trị tài sản của thửa số 450 ông H được chia là: 1.253,3m² x 225.000 đồng = 281.992.500 đồng.
Phần giá trị tài sản của thửa số 450 anh N và chị T1 mỗi người được chia là: 626,7m² x 225.000 đồng = 140.850.000 đồng.
[3.5]. Như vậy tổng giá trị phần tài sản ông H, anh N và chị T1 được chia là:
Tổng giá trị phần tài sản ông H được chia: 363.192.995 đồng + 442.822.500 đồng + 147.262.500 đồng + 339.547.500 đồng + 281.922.500 đồng = 1.574.747.995 đồng (trong đó, anh N có nghĩa vụ hoàn trả cho ông H là 363.192.995 đồng + 147.262.500 đồng = 510.455.495 đồng).
Tổng giá trị phần tài sản chị T1 được chia: 181.596.497,5 đồng + 220.770.000 đồng + 73.631.250 đồng + 196.785.000 đồng + 140.850.000 đồng = 813.632.747,5 đồng (trong đó, anh N có nghĩa vụ hoàn trả cho chị T1 là 181.596.497,5 đồng + 73.631.250 đồng = 255.227.747,5 đồng).
Tổng giá trị phần tài sản anh N được chia là: 181.596.497,5 đồng + 223.605.000 đồng + 73.631.250 đồng + 196.762.500 đồng + 140.850.000 đồng = 816.445.247,5 đồng.
[4]. Về yêu cầu độc lập:
Anh T2, chị T3 khởi kiện yêu cầu độc lập về việc buộc ông H, anh N và chị T1 liên đới hoàn trả số tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng và số tiền phạt cọc là 150.000.000 đồng, đồng thời phải hoàn trả tiền chi phí đo đạc cho anh T2, chị T3 là 11.900.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu độc lập là có căn cứ được chấp nhận, bởi lẽ:
Tại hợp đồng đặt cọc ngày 16/12/2021, các thành viên trong gia đình ông H gồm: Ông H, bà T4, anh N và chị T1 đã cùng ký tên đồng ý sẽ chuyển nhượng phần diện tích 9.000m² cho anh T2 và chị T3 với giá chuyển nhượng là 180.000 đồng/m². Kể từ thời điểm ký kết, quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng đã phát sinh hiệu lực theo Điều 401 Bộ luật Dân sự. Anh T2, chị T3 đã đưa số tiền cọc cho gia đình ông H là 150.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản của chị T1. Việc này được các bên đương sự thừa nhận tại phiên tòa.
Sau khi thanh toán số tiền cọc, các bên đã tiến hành đo đạc xong phần diện tích chuyển nhượng, anh T2, chị T3 đã thanh toán chi phí đo đạc là 11.900.000 đồng. Tại phiên tòa, các đương sự thống nhất số tiền chi phí đo đạc là 11.900.000 đồng như anh T2, chị T3 đã trình bày. Tuy nhiên, sau khi đo đạc xong, ngày 16/01/2022, bà T4 chết, anh T2 và chị T3 đã nhiều lần yêu cầu ông H, anh N và chị T1 hoàn tất các thủ tục khai thừa kế và hoàn tất thủ tục sang tên giấy đất cho anh chị nhưng ông H, anh N phát sinh mâu thuẫn và không thực hiện việc sang tên cho anh T2, chị T3. Việc làm này của ông H, anh N và chị T1 đã vi phạm thỏa thuận tại Điều 4 của Hợp đồng đặt cọc và lỗi của việc hợp đồng không thực hiện được là do lỗi hoàn toàn của ông H, anh N và chị T1 theo quy định tại Điều 413 Bộ luật Dân sự. Do đó, ông H, anh N và chị T1 phải trả lại tiền cọc, bồi thường tiền cọc và bồi hoàn các chi phí như yêu cầu của anh T2, chị T3 là phù hợp quy định tại Điều 418, 419 Bộ luật Dân sự.
Tại phiên tòa, anh N cho rằng anh không có nhận tiền cọc nên không đồng ý hoàn cọc, nhưng lại đồng ý cùng liên đới bồi thường số tiền phạt cọc và tiền chi phí đo đạc là không phù hợp. Thời điểm giao kết hợp đồng đặt cọc, tất cả các thành viên trong gia đình đều thống nhất cùng ký tên vào hợp đồng nên nghĩa vụ hoàn cọc, bồi thường cọc và bồi thường chi phí phát sinh là nghĩa vụ liên đới của tất cả thành viên trong gia đình theo quy định tại Điều 288 Bộ luật Dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của anh T2 và chị T3 và cần thiết buộc ông H, anh N và chị T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
[5]. Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Anh N phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.
Ông H, anh N và chị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối phần tài sản mà mình được chia.
Ngoài ra ông H, anh N, chị T1 còn phải liên đới chịu án phí do yêu cầu độc lập được chấp nhận.
H1 lại tạm ứng án phí cho anh T2 và chị T3.
[6]. Về chi phí tố tụng: Tại phiên tòa, anh N yêu cầu chia số tiền chi phí tố tụng 21.000.000 đồng theo tỉ lệ phần tài sản được hưởng, anh N đã tạm ứng chi phí nên ông H và chị T1 phải hoàn lại cho anh N theo tỉ lệ tài sản được hưởng. Như đã nhận định ở trên, ông H được hưởng ½ tài sản còn anh N và chị T1 mỗi người được hưởng ½ đối với di sản của bà T4 để lại nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 157 và Điều 165 Bộ luật Dân sự buộc ông H phải hoàn lại cho anh N ½ chi phí thẩm định, định giá tài sản tranh chấp với số tiền là 10.500.000 đồng; Chị T1 phải hoàn lại cho anh N ¼ chi phí thẩm định, định giá tài sản tranh chấp với số tiền là 5.250.000 đồng.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[8]. Xét ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Các Điều 219, 288, 357, 401, 418, 419, 468, 609, 611, 613, 616, 620, 621, 624, 635, 643, 649, 650 và Điều 651 Bộ luật Dân sự;
- - Khoản 5, Khoản 9 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, các Điều 147, 157, 165, 227, 266, 267, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 29 Điều 3, Điều 5, các Điều 166, 169, 170 và Điều 203 Luật Đất đai;
- - Áp dụng Điều 26, Khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Trọng N về việc xác định ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị Thu T4 và anh Trần Trọng N có quyền sử dụng đất của hộ đối với các thửa đất:
- + Thửa số 450, tờ bản đồ C6, diện tích 2.776m² ( thực đo 2.506,7m²), mục đích sử dụng 2L.
- + Thửa số 445, tờ bản đồ C6, diện tích 2.863m² (thực đo 3.498,2m²), mục đích sử dụng 2L.
- + Thửa số 352, tờ bản đồ C6, diện tích 4.670m² (thực đo 4.206,7m²), mục đích sử dụng 2L.
- + Thửa số 353, tờ bản đồ C6, diện tích 1.309m², mục đích sử dụng 2L.
- + Thửa số 354, tờ bản đồ C6, diện tích 605m² (thực đo 572,3m²), mục đích sử dụng ĐM+T.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 02352QSDĐ/126/QĐUB do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ bà Nguyễn Thị Thu T4 ngày 10/4/1999.
2. Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của anh Trần Trọng N.
2.1. Chia cho anh Trần Trọng N được quyền sử dụng toàn bộ thửa số 354, tờ bản đồ C6, diện tích 605m² (thực đo 572,3m²), mục đích sử dụng ĐM+T, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 02352QSDĐ/126/QĐUB do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ bà Nguyễn Thị Thu T4 ngày 10/4/1999 và anh N được quyền sở hữu các công trình, vật, cây trồng trên đất như sau:
- + Nhà chính: xây dựng năm 2013. Diện tích xây dựng 196,17m². Kết cấu móng cột bê tông cốt tép, đòn tay gỗ quy các, vách tường xây gạch chưa tô, mái fibro xi măng, nền xi măng, không trần, có khu phụ.
- + Mái che 1: xây dựng năm 2014, diện tích xây dựng (14,6 x 5,8) là 84,68m², kết cấu cột bê tông cốt thép, kèo, đòn tay gỗ quy cách, mái tole, nền xi măng.
- + Mái che 2: Diện tích xây dựng (5,85 x 3,1) là 18,14m². Kết cấu bê tông cốt thép, kèo, đòn tay gỗ tạp, mái che, nền xi măng.
- + Sân đal: Diện tích: 13,7 x 2 = 27,4m². Kết cấu nền bê tông đá 1x2.
- + Hồ nước: Kết cấu bê tông đúc sãn, số lượng 02, thể tích 2m³ mỗi hồ. Hồ nước kết cấu tường xây gạch, đan đáy, nắp bê tông cốt thép, thể tích 3m³.
- + Hàng rào:
- + Cây trồng trên đất: Mận loại A 01 cây; Sầu riêng lại C 01 cây, Bưởi loại B2 04 cây, Tắc loaị B2 01 cây; Bơ loại B2 01 cây; M1 đường kính 2 – 5cm 15 cây; M1 đường kính từ 05 – 10cm 07 cây.
Đoạn 1: diện tích 23,3 x 2,5 = 58,25m², kết cấu móng cột bê tông, tường xây gạch cao 0,5m, có ốp gạch, phía trên khung thép hình. Cổng rào: Diện tích 3,3 x 3 = 9,9m². Kết cấu trụ bê tông cốt thép 400 x 400, ốp gạch Ceramic, cửa cổng bằng khung thép hình.
Đoạn 2: Diện tích 49,15 x 2,5 = 122,88m², kết cấu móng cột bê tông, tường xây gạch cao 0,5m, có ốp gạch, phía trên có lưới B40.
2.2. Chia cho anh Trần T8 N được sử dụng toàn bộ thửa số 353, tờ bản đồ C6, diện tích 1.309m², mục đích sử dụng 2L, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 02352QSDĐ/126/QĐUB do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ bà Nguyễn Thị Thu T4 ngày 10/4/1999.
2.3. Thửa đất số 352, diện tích theo giấy 4.670m², thực đo 4.206,7m², loại đất 2L, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 02352QSDĐ/126/QĐUB do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ bà Nguyễn Thị Thu T4 ngày 10/4/1999, chia như sau:
- Chia cho ông H được quyền sử dụng là 1.968,1m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần diện tích 981,2m² chia cho chị Trần Thanh T1.
- - Phía tây giáp với đất của ông Nguyễn Văn N1.
- - Phía nam giáp với phần diện tích 1.49,1m² của thửa đất số 445 mà ông H được chia.
- - Phía bắc giáp với đường tây kênh Ngang đá 04.
- (Có sơ đồ kèm theo)
- Chia cho chị T1 được quyền sử dụng là 981,2m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần diện tích 993,8m² chia cho anh Trần Trọng N.
- - Phía tây giáp với phần diện tích 1.968,1m² chia cho ông Trần Văn H.
- - Phía nam giáp với phần diện tích 1.749,1m² của thửa đất số 445 chia cho ông Trần Văn H.
- - Phía bắc giáp với đường tây kênh Ngang đá 04.
- (Có sơ đồ kèm theo)
- Chia cho anh N được quyền sử dụng là 993,8m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với thửa đất số 354 và thửa 353.
- - Phái tây giáp với phần diện tích 981,2m² chia cho chị Trần Thanh T1.
- - Phía nam giáp với phần diện tích 874,6m² của thửa đất số 445 mà chị T1 được chia.
- - Phía bắc giáp với đường tây kênh Ngang đá 04.
- (Có sơ đồ kèm theo)
2.4. Thửa đất số 445, diện tích theo giấy 2.863m², thực đo 3.498,2m², loại đất 2L, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 02352QSDĐ/126/QĐUB do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho hộ bà Nguyễn Thị Thu T4 ngày 10/4/1999, chia như sau:
- Chia cho ông H được quyền sử dụng là 1.749,1m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần diện tích 874,6m² chia cho chị Trần Thanh T1.
- - Phía tây giáp với đất của Huỳnh Việt Q.
- - Phía nam giáp với phần diện tích 627,7m² của thửa số 450 chia cho anh Trần Trọng N.
- - Phía bắc giáp với thửa số 352.
- (Có sơ đồ kèm theo)
- Chia cho chị T1 được quyền sử dụng là 874,6m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần diện tích 874,5m² chia cho anh Trần Trọng N.
- - Phía tây giáp với phần diện tích 1.749,1m² chia cho ông Trần Văn H.
- - Phía nam giáp phần diện tích 627,7m² của thửa số 450 chia cho anh Trần Trọng N.
- - Phía bắc giáp với phần diện tích 993,8m² của thửa 352 chia cho anh Trần Trọng N và thửa số 353.
- (Có sơ đồ kèm theo)
- Chia cho anh N được quyền sử dụng là 874,5m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần đất của bà Nguyễn Thị T6.
- - Phía tây giáp với phần diện tích 874,6m² chia cho chị Trần Thanh T1.
- - Phía nam giáp với phần diện tích 627,7m² của thửa số 450 chia cho anh Trần Trọng N.
- - Phía bắc giáp với thửa đất số 353.
- (Có sơ đồ kèm theo)
2.5. Thửa đất số 450, diện tích theo giấy 2.776m², thực đo 2506,7m², loại đất 2L, chia như sau:
- Chia cho ông H được quyền sử dụng là 1.253,3m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần diện tích 626,7m² chia cho chị Trần Thanh T1.
- - Phía tây giáp với đất của Nguyễn Thị Thanh T7.
- - Phía nam giáp với đường đi công cộng đal.
- - Phía bắc giáp với đất của ông Huỳnh Việt Q.
- (Có sơ đồ kèm theo)
- Chia cho chị T1 được quyền sử dụng là 626,7m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần diện tích 626,7m² chia cho anh Trần Trọng N.
- - Phía tây giáp với phần diện tích 1.253,3m² chia cho ông Trần Văn H.
- - Phía nam giáp với đường đi công cộng đal.
- - Phía bắc giáp với đất của ông Huỳnh Việt Q.
- (Có sơ đồ kèm theo)
- Chia cho anh N được quyền sử dụng là 626,7m², có tứ cận:
- - Phía đông giáp với phần đất của bà Nguyễn Thị T6.
- - Phía tây giáp với phần diện tích 626,7m² chia cho chị Trần Thanh T1.
- - Phía nam giáp với đường đi công cộng đal.
- - Phía bắc giáp với và phần diện tích đất chia cho chị Trần Thanh T1 và anh Trần Trọng N của thửa số 445.
- (Có sơ đồ kèm theo)
3. Buộc anh Trần Trọng N phải hoàn trả cho ông Trần Văn H số tiền là 510.455.495 đồng (Năm trăm mười triệu, bốn trăm năm mươi lăm nghìn, bốn trăm chín mươi lăm đồng), thực hiện sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
4. Buộc anh Trần Trọng N2 phải hoàn trả cho chị Trần Thanh T1 số tiền là 255.227.747,5 đồng (Hai trăm năm mươi lăm triệu, hai trăm hai mươi bảy nghìn, bảy trăm bốn mươi bảy phẩy năm đồng), thực hiện sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
5. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của anh Lý Phước T2 và chị Trương Thị Thanh T3.
Buộc ông Trần Văn H, anh Trần Trọng N và chị Trần Thanh T1 phải liên đới trả cho anh Lý Phước T2 và chị Trương Thị Thanh T3 tổng số tiền là 311.900.000 đồng (Ba trăm mười một triệu, chín trăm nghìn đồng), thực hiện sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
6. Về án phí:
6.1. Anh Trần Trọng N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản được chia là 36.493.357 đồng (Ba mươi sáu triệu, bốn trăm chín mươi ba nghìn, ba trăm năm mươi bảy đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh N đã nộp là 6.790.000 đồng theo Biên lai thu số 0003352 ngày 12/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Buộc anh Trần Trọng N phải nộp thêm số tiền án phí là 30.003.357 đồng (Ba mươi triệu, không trăm lẻ ba nghìn, ba trăm năm mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6.2. Buộc ông Trần Văn H phải chịu 59.242.440 đồng (Năm mươi chín triệu, hai trăm bốn mươi hai nghìn, bốn trăm bốn mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6.3. Buộc chị Trần Thanh T1 phải chịu 36.408.982 đồng (Ba mươi sáu triệu, bốn trăm lẻ tám nghìn, chín trăm tám mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6.4. Buộc ông Trần Văn H, anh Trần Trọng N và chị Trần Thanh T1 phải liên đới chịu 15.595.000 đồng (Mười lăm triệu, năm trăm chín mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu độc lập được chấp nhận.
6.5. H1 lại cho anh Lý Phước T2 và chị Trương Thị Thanh T3 số tiền 8.097.000 đồng (Tám triệu, không trăm chín mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0020009 ngày 06/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
7. Về chi phí tố tụng:
7.1. Buộc ông Trần Văn H phải hoàn trả cho anh Trần Trọng N số tiền là 10.500.000 đồng (Mười triệu, năm trăm nghìn đồng) chi phí tố tụng, thực hiện sau khi bản án có hiệu luật pháp luật.
7.2. Buộc chị Trần Thanh T1 phải hoàn trả cho anh Trần Trọng N số tiền là 5.250.000 đồng (Năm triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) chi phí tố tụng, thực hiện sau khi bản án có hiệu luật pháp luật
8. Về quyền kháng cáo: Anh N, ông H, anh T2 và chị T3 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án; Chị T1 và bà Ú có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ Tòa án tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
9. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Án tuyên vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 9 năm 2024, có mặt anh N, ông H, ông T2, bà T3, vắng mặt chị T1 và bà Ú)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Hải Âu |
Bản án số 98/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp chia tài sản chung của hộ gia đình, chia thừa kế và tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 98/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung của hộ gia đình, chia thừa kế và tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh N yêu cầu chia tài sản chung của hộ và chia thừa kế theo pháp luật
