Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/DS-PT

Ngày: 16-8-2024

V/v tranh chấp về thừa kế tài sản.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Bảo.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Thịnh;

Bà Võ Thị Minh Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam: Ông Nguyễn Quang Minh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2023/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 182/2023/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 107A/2023/QĐ-PT ngày 20 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    • Bà Lưu Thị Hồng T, sinh năm 1973;
    • Bà Lưu Thị Thanh T1, sinh năm 1965.

    Cùng địa chỉ: Số D đường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

    • Bà Lưu Thị Thanh T2, sinh năm 1967.

    Địa chỉ: Số A đường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

    • Ông Lưu Văn H, sinh năm 1971.

    Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Đào Duy K, sinh năm 1971; địa chỉ: thôn N, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

  2. Bị đơn: ông Lưu Văn H1, sinh năm 1968.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: bà Trần Thị Bích L, sinh năm 1973.

Cùng địa chỉ: Số F đường D, Khối phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Bà L có mặt.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị Bích L, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Số F đường D, Khối phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

  1. Người kháng cáo: bị đơn ông Lưu Văn H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các văn bản có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đào Duy K trình bày:

Cha mẹ đẻ của nguyên đơn là ông Lưu Văn L1 (chết năm 1995) và bà Nguyễn Thị L2 (chết năm 2017). Ông L1, bà L2 sinh được 07 người con, gồm các ông, bà: Lưu Thị Hồng T, Lưu Thị Thanh T1, Lưu Thị Thanh T2, Lưu Văn H1, Lưu Văn H, Lưu Văn B (chết năm 2002, chưa có vợ, con) và 01 người chết khi vừa mới sinh ra. Ông Lưu Văn L1 và bà Nguyễn Thị L2 không có con nuôi, con ngoài giá thú.

Di sản thừa kế của ông Lưu Văn L1 và bà Nguyễn Thị L2 để lại là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 21, diện tích 70,5m² tại địa chỉ số F D, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, được Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở vào ngày 27/7/2004.

Ông Lưu Văn L1 chết không để lại di chúc, bà Nguyễn Thị L2 chết để lại di chúc lập vào ngày 21/3/2010, có nội dung chỉ định những người được hưởng phần tài sản của bà trong khối tài sản chung với ông L1, cụ thể: Lưu Thị Hồng T được hưởng 60% giá trị di sản và giao cho con gái Lưu Thị Thanh T3 quản lý, sử dụng để chăm sóc Lưu Thị Hồng T, phần 40% tài sản còn lại chia đều cho 04 người con còn lại.

Di sản của ông L1, bà L2 hiện nay ông H1 và bà L đang ở, khối tài sản trên vẫn giữ nguyên hiện trạng từ khi hai ông bà chết cho đến nay; tuy nhiên, bị đơn có xây dựng thêm vách ngăn tường lửng, khung nhôm kính, lattis và sơn tường toàn bộ ngôi nhà, chi phí hết khoảng 65.939.200 đồng. Do di sản của ông Lưu Văn L1 và bà Nguyễn Thị L2 để lại chưa chia nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Lưu Văn L1 và bà Nguyễn Thị L2 để lại là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 25, tờ bản đồ số 21, diện tích 70,5m² tại địa chỉ số F D, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, được Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở vào ngày 27/7/2004 (cấp cho ông Lưu Văn L1 và bà Nguyễn Thị L2); cụ

thể: sau khi trừ đi chi phí sửa chữa của vợ chồng ông Lưu Văn H1, bà Trần Thị Bích L, phần di sản thừa kế của ông L1 là ½ giá trị khối di sản, yêu cầu chia đều cho 06 người con và bà Nguyễn Thị L2 theo quy định của pháp luật; phần di sản của bà Nguyền Thị L3 gồm: ½ giá trị khối di sản và kỷ phần thừa kế bà L3 được hưởng của ông L1 và ông B, yêu cầu chia theo nội dung di chúc, cụ thể: chia cho bà Lưu Thị Hồng T được hưởng 60% giá trị di sản, 40% còn lại chia đều cho 04 người con là: Lưu Thị Thanh T1, Lưu Thị Thanh T2, Lưu Văn H1, Lưu Văn H. Theo di nguyện của bà L3 khi còn sống thì phần của bà T giao cho bà T1 quản lý, sử dụng để chăm sóc bà T đến cuối đời. Hiện nay, nguyên đơn khó khăn về kinh tế nên yêu cầu nhận kỷ phần thừa kế bằng giá trị.

Đối với yêu cầu của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn về nội dung yêu cầu trích trả chi phí ma chay ông Lưu Văn B, bà Nguyễn Thị L2; chi phí thờ cúng ông Lưu Văn L1, ông Lưu Văn B, bà Nguyễn Thị L2, nguyên đơn không đồng ý, vì mọi chi phí ma chay ông L1, ông B, bà L2 khi chết đều lấy từ tiền phúng điếu và các con của ông L1 và bà L2 góp vào. Tiền thờ cúng, giỗ chạp cũng do các con của ông L1, bà L2 góp vào, và trước đây khi bà T còn ở chung với vợ chồng ông H1, bà T1, bà T2 đưa tiền cho bà T lo liệu việc thờ cúng, thắp hương cho ông L1, bà L2, ông B.

Nguyên đơn không có ý kiến gì về Chứng thư thẩm định giá số 82/CTTĐG-VFC ngày 15/3/2023 của Công ty Cổ phần T9. Đề nghị Hội đồng xét xử lấy giá trị tài sản trong Chứng thư thẩm định giá để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Bị đơn thống nhất với trình bày của ông Đào Duy K về quan hệ gia đình, hàng thừa kế, di sản thừa kế của ông Lưu Văn L1 và bà Nguyễn Thị L2 để lại. Bị đơn đồng ý chia di sản thừa kế của ông L1 theo quy định pháp luật, còn khi chết bà L2 có để lại di chúc không thì bị đơn không rõ, bị đơn không yêu cầu giám định di chúc. Đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật, sau khi trừ chi phí sửa chữa nhà hết khoảng 500.000.000 đồng. Về hạng mục sửa chữa cũng như tổng giá trị sửa chữa đến nay bị đơn không cung cấp được thông tin cụ thể nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn yêu cầu Tòa giải quyết trích trả lại chi phí cho vợ chồng ông Lưu Văn H1 và bà Trần Thị Bích L đã bỏ ra để lo mai táng cho ông Lưu Văn B số tiền 30.000.000 đồng, bà L2 số tiền 50.000.000 đồng và chi phí thờ cúng cho ông L1, ông B từ năm 2002 đến nay, mỗi năm 10.000.000 đồng/người; bà Nguyễn Thị L2 từ năm 2017 đến nay, mỗi năm 10.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, do chưa có nhà ở nên bị đơn xin nhận giá trị di sản bằng hiện vật và thanh toán phần chênh lệch bằng giá trị cho các đồng thừa kế khác. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, do bị đơn đã mua được nhà, đã có nơi sinh sống nên bị đơn xin nhận kỷ phần thừa kế của mình bằng giá trị.

Về Chứng thư thẩm định giá số 82/CTTĐG-VFC ngày 15/3/2023 của Công ty Cổ phần T9, bị đơn không có ý kiến gì và không yêu cầu định giá lại.

Tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Bích L trình bày:

Bà thống nhất với trình bày của nguyên đơn về quan hệ gia đình, hàng thừa kế, di sản của ông Lưu Văn L1 và bà Nguyễn Thị L2 để lại. Năm 1994, bà kết hôn với ông Lưu Văn H1 và cùng chung sống với cha mẹ chồng tại căn nhà số F D, thành phố T, tỉnh Quảng Nam từ đó đến nay. Khi cha chồng chết, vợ chồng bà cùng nhau lo mai táng và thờ cúng, khi mẹ chồng đau ốm cũng do bà chăm sóc. Năm 2009, khi thấy căn nhà cha mẹ xây từ lâu đã xuống cấp, vợ chồng bà đã sửa chữa lại toàn bộ căn nhà này. Việc mẹ chồng bà để lại di chúc như thế nào thì vợ chồng bà không hề hay biết, nay nguyên đơn khởi kiện chia di sản thừa kế, bà đề nghị trừ chi phí vợ chồng bà đã bỏ ra sửa chữa nhà trước khi chia thừa kế để đảm bảo quyền lợi cho vợ chồng bà.

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 182/2023/DS-ST ngày 25-8-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1, 2 Điều 228, khoản 2 Điều 229 và Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 609, 612, 623, 624, 630, 634, 649, 650, 651, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lưu Thị Hồng T, bà Lưu Thị Thanh T1, bà Lưu Thị Thanh T2, ông Lưu Văn H đối với ông Lưu Văn H1 về việc chia di sản thừa kế của ông Lưu Văn L1 và bà Nguyễn Thị L2 để lại là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số 21, diện tích 70,5m², địa chỉ F D, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1148, được Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp ngày 27/7/2004 cho bà Nguyễn Thị L2, ông Lưu Văn L1 (chết).

Kỷ phần thừa kế các ông (bà): Lưu Thị Thanh T1, ông Lưu Văn H, Lưu Thị Thanh T2, ông Lưu Văn H1, mỗi người được hưởng là: 384.704.372 (Ba trăm tám mươi bốn triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn ba trăm bảy mươi hai) đồng; bà Lưu Thị Hồng T được hưởng kỷ phần thừa kế: 1.295.846.307 (Một tỷ hai trăm chín mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm lẻ bảy) đồng.

Giao toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: Số F D, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1148, được Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp ngày 27/7/2004 cho bà Nguyễn Thị L2, ông Lưu Văn L1 (chết) cho bà Lưu Thị Hồng T được nhận, sử dụng, sở hữu. Tổng giá trị tài sản bà Lưu Thị Hồng T được nhận là 2.900.603.000 (Hai tỷ chín trăm triệu sáu trăm lẻ ba nghìn) đồng.

Ông Lưu Văn H1, bà Trần Thị Bích L có nghĩa vụ bàn giao toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: Số F D, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1148, được Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp ngày 27/7/2004 cho bà Nguyễn Thị L2, ông Lưu Văn L1 (chết) cho bà Lưu Thị Hồng T. Bà Lưu Thị Hồng T được nhận toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: Số F D, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1148, được Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp ngày 27/7/2004 cho bà Nguyễn Thị L2, ông Lưu Văn L1 (chết) do ông Lưu Văn H1 và bà Trần Thị Bích L bàn giao.

Bà Lưu Thị Hồng T có nghĩa vụ thối trả kỷ phần chênh lệch thừa kế được nhận cho các ông (bà): Lưu Văn H1, Lưu Thị Thanh T1, Lưu Thị Thanh T2, Lưu Văn H, mỗi người 384.704.372 (Ba trăm tám mươi bốn triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn ba trăm bảy mươi hai) đồng. Thối trả chi phí sửa chữa di sản thừa kế cho ông Lưu Văn H1 và bà Trần Thị Bích L là 65.939.200 (Sáu mươi lăm triệu chín trăm ba mươi chín nghìn hai trăm) đồng.

Các ông (bà): Lưu Văn H1, Lưu Thị Thanh T1, Lưu Thị Thanh T2, Lưu Văn H, mỗi người được nhận kỷ phần thừa kế là 384.704.372 (Ba trăm tám mươi bốn triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn ba trăm bảy mươi hai) đồng do bà Lưu Thị Hồng T thối trả. Ông Lưu Văn H1 và bà Trần Thị Bích L được nhận chi phí sửa chữa di sản thừa kế là 65.939.200 (Sáu mươi lăm triệu chín trăm ba mươi chín nghìn hai trăm) đồng do bà Lưu Thị Hồng T thối trả.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Lưu Thị Hồng T có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản theo quy định.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/9/2023, bị đơn ông Lưu Văn H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án, về việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: đối với nội dung kháng cáo mà ông Lưu Văn H1, bà Trần Thị Bích L đã rút một phần tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử

căn cứ Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo đã rút. Đối với nội dung kháng cáo còn lại, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lưu Văn H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút một phần kháng cáo đối với nội dung yêu cầu trích trả tiền công sức nuôi dưỡng, tiền chi phí mai táng cho người để lại di sản trước khi chia thừa kế, chỉ yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét buộc những người thừa kế thanh toán lại số tiền chi phí mà vợ chồng ông Lưu Văn H1, bà Trần Thị Bích L đã sửa chữa nhà, đất (là di sản thừa kế), với số tiền 500.000.000 đồng; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Do người kháng cáo rút một phần kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 3 Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo mà người kháng cáo đã rút.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Lưu Văn H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích L thì thấy:

[2.1] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Lưu Văn H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích L cho rằng: trong quá trình chung sống với bà Nguyễn Thị L2, được sự đồng ý của bà L2, vợ chồng ông H1, bà L đã thực hiện việc sửa chữa nhà, làm các hạng mục như: mái tôn chống thấm; gạch men ốp tường (phòng bếp tầng 1); gạch men ốp tường (phòng vệ sinh tầng 1); gạch men ốp tường (phòng ngủ tầng 2); gạch men ốp tường (phòng vệ sinh tầng 2); alu ốp tường phòng ngủ tầng 2; ốp đá đen cầu thang; lan can cầu thang (lan can khung inox, cao 0,7m); lan can ban công trước (lan can khung inox, cao 0,7m); lan can ban công sau (lan can khung sắt, cao 0,75m); vách ngăn phòng khách (khung nhôm kính + xây gạch lửng, diện tích 14,01m²); gạch thẻ ốp tường; laphong nhựa phòng ngủ tầng 2; gạch thẻ ốp tường mặt trước; mái hiên trước nhà; sân lát gạch T4; matic + sơn tường trong và đập toàn bộ tường nhà hai tầng xây dựng lại tường nhà mới, nâng nền; tổng chi phí sửa chữa khoảng 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chỉ thống nhất một phần lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và của bà L là trong quá trình ở tại ngôi nhà số F đường D, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, vợ chồng ông H1, bà L có sửa chữa một số hạng mục như: làm thêm vách ngăn tường lửng, khung nhôm kính, lattis và sơn tường toàn bộ ngôi nhà... với chi phí 65.939.200 đồng.

[2.2] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng ông H1, bà L khai số tiền chi phí sửa chữa nhà khoảng 500.000.000 đồng, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh; chỉ có xác nhận của những người làm chứng như: ông Lưu Văn T5 (là người được ông Lưu Văn H1 thuê sơn tường nhà), bà Trịnh Thị Mộng T6 (là người bán thiết bị điện cho ông H1), ông Lưu Văn K1 (là người được ông H1 thuê làm mới, sửa chữa nhôm kính đối với cửa toilet, tủ bếp, tủ trên, tủ dưới, tủ cầu thang, vách ngăn giữa nhà), bà Nguyễn Thị Bích T7 (là người bán gạch men, sơn, thiết bị vệ sinh cho ông H1), bà Thái Thị C và ông Nguyễn T8 (là hàng xóm của vợ chồng ông H1, bà L) thể hiện ông H1, bà L có sửa chữa nhà, nhưng không chứng minh được thời gian sửa chữa, hạng mục sửa chữa, số tiền sửa chữa cụ thể là bao nhiêu và ai là người bỏ tiền ra để sửa chữa. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận lời khai của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chỉ chấp nhận số tiền chi phí vợ chồng ông H1, bà L bỏ ra để sửa chữa nhà theo sự tự nguyện của nguyên đơn với số tiền là 65.939.200 đồng là có cơ sở, phù hợp với Chứng thư thẩm định giá số: 82/CTTĐG-VFC ngày 15/3/2023 của Công ty Cổ phần T9.

[2.3] Tại cấp phúc thẩm, bị đơn ông Lưu Văn H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích L có yêu cầu định giá bổ sung các hạng mục mà vợ chồng ông, bà cho rằng đã sửa chữa. Tòa án cấp phúc thẩm đã thành lập Hội đồng xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo yêu cầu của ông H1, bà L. Tuy nhiên, Hội đồng định giá tài sản từ chối định giá, do không thể tiến hành định giá theo yêu cầu của ông H1, bà L. Hơn nữa, nguyên đơn cũng không thừa nhận các hạng mục mà ông H1, bà L yêu cầu định giá là do vợ chồng ông H1, bà L sửa chữa. Do đó, không có cơ sở xác định các hạng mục mà ông H1, bà L yêu cầu định giá bổ sung là do vợ chồng ông H1, bà L sửa chữa.

[2.4] Đối với nội dung phân chia di sản thừa kế của ông Lưu Văn L1 theo pháp luật và phân chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị L2 theo di chúc, các đương sự không có kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

[2.4] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lưu Văn H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích L, giữ nguyên bản án sơ thẩm theo như đề nghị của Kiểm sát viên.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: do Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm nên ông Lưu Văn H1 và bà Trần Thị Bích L mỗi người phải chịu số tiền 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

[4] Về chi phí tố tụng khác (tại cấp phúc thẩm): ông Lưu Văn H1 và bà Trần Thị Bích L phải chịu số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 (Ba triệu) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng ông H1, bà L đã nộp (đã nộp xong).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 289 và khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo mà bị đơn ông Lưu Văn H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích L đã rút về nội dung yêu cầu trích trả tiền công sức nuôi dưỡng, tiền chi phí mai táng cho người để lại di sản trước khi chia thừa kế.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lưu Văn H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích L, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 182/2023/DS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 38, 39, 92, 147, 148, 157, 158, 165 và 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 609, 612, 623, 624, 630, 634, 649, 650 và 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 26, 27 và 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lưu Thị Hồng T, bà Lưu Thị Thanh T1, bà Lưu Thị Thanh T2, ông Lưu Văn H đối với ông Lưu Văn H1 về việc chia di sản thừa kế của ông Lưu Văn L1 và bà Nguyễn Thị L2 để lại là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số 21, diện tích 70,5m², địa chỉ: Số F đường D, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp ngày 27/7/2004 cho bà Nguyễn Thị L2, ông Lưu Văn L1 (chết).

Các ông, bà: Lưu Thị Thanh T1, Lưu Văn H, Lưu Thị Thanh T2, Lưu Văn H1, mỗi người được hưởng kỷ phần thừa kế trị giá là 384.704.372 (Ba trăm tám mươi bốn triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn ba trăm bảy mươi hai) đồng; bà Lưu Thị Hồng T được hưởng kỷ phần thừa kế trị giá là 1.295.846.307 (Một tỷ hai trăm chín mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm lẻ bảy) đồng.

Giao cho bà Lưu Thị Hồng T được nhận, sử dụng, sở hữu toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: Số F đường D, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp ngày 27/7/2004 cho bà Nguyễn Thị L2, ông Lưu Văn L1 (chết).

Buộc ông Lưu Văn H1, bà Trần Thị Bích L có nghĩa vụ bàn giao cho bà Lưu Thị Hồng T toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: Số F đường D, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp ngày 27/7/2004 cho bà Nguyễn Thị L2, ông Lưu Văn L1 (chết).

Buộc bà Lưu Thị Hồng T có nghĩa vụ thanh toán giá trị chênh lệch kỷ phần thừa kế được nhận cho các ông, bà: Lưu Văn H1, Lưu Thị Thanh T1, Lưu Thị Thanh T2, Lưu Văn H, mỗi người số tiền 384.704.372 (Ba trăm tám mươi bốn triệu bảy trăm lẻ bốn nghìn ba trăm bảy mươi hai) đồng.

Buộc bà Lưu Thị Hồng T có nghĩa vụ thanh toán chi phí sửa chữa di sản thừa kế cho ông Lưu Văn H1 và bà Trần Thị Bích L số tiền là 65.939.200 (Sáu mươi lăm triệu chín trăm ba mươi chín nghìn hai trăm) đồng.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Lưu Thị Hồng T có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản theo quy định.

Chi phí tố tụng khác (tại cấp sơ thẩm): chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 14.265.000 đồng; các ông, bà: Lưu Thị Hồng T, Lưu Thị Thanh T1, Lưu Thị Thanh T2, Lưu Văn H1, Lưu Văn H mỗi người phải chịu 1/5 số tiền nêu trên, tương ứng với số tiền 2.853.000 đồng; nguyên đơn đã nộp số tiền 14.265.000 đồng nên ông Lưu Văn H1 phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho các ông, bà: Lưu Thị Hồng T, Lưu Thị Thanh T1, Lưu Thị Thanh T2, Lưu Văn H số tiền 2.853.000 (Hai triệu tám trăm năm mươi ba nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lưu Thị Hồng T phải chịu số tiền 50.875.000 (Năm mươi triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà Lưu Thị Hồng T đã nộp 18.861.000 (Mười tám triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001243 ngày 06/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (do Trần Khánh V nộp thay). Bà Lưu Thị Hồng T phải nộp tiếp số tiền 32.014.000 (Ba mươi hai triệu không trăm mười bốn nghìn) đồng.

Ông Lưu Văn H phải chịu số tiền 19.235.000 (Mười chín triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm ông Lưu Văn H đã nộp 7.147.000 (Bảy triệu một trăm bốn mươi bảy nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001244 ngày 06/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (do Trần Khánh V nộp thay). Ông Lưu Văn H phải nộp tiếp số tiền 12.088.000 (Mười hai triệu không trăm tám mươi tám nghìn) đồng.

Bà Lưu Thị Thanh T1 phải chịu số tiền 19.235.000 (Mười chín triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà Lưu Thị Thanh T1 đã nộp 7.147.000 (Bảy triệu một trăm bốn mươi bảy nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001241 ngày 06/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (do Trần

Khánh V nộp thay). Bà Lưu Thị Thanh T1 phải nộp tiếp số tiền 12.088.000 (Mười hai triệu không trăm tám mươi tám nghìn) đồng.

Bà Lưu Thị Thanh T2 phải chịu số tiền 19.235.000 (Mười chín triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà Lưu Thị Thanh T2 đã nộp 7.147.000 (Bảy triệu một trăm bốn mươi bảy nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001242 ngày 06/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (do Trần Khánh V nộp thay). Bà Lưu Thị Thanh T2 phải nộp tiếp số tiền 12.088.000 (Mười hai triệu không trăm tám mươi tám nghìn) đồng.

Ông Lưu Văn H1 phải chịu số tiền 19.235.000 (Mười chín triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn) đồng.

Ông Lưu Văn H1 và bà Trần Thị Bích L phải chịu số tiền 3.297.000 (Ba triệu hai trăm chín mươi bảy nghìn) đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm: ông Lưu Văn H1 và bà Trần Thị Bích L mỗi người phải chịu số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông H1, bà L mỗi người đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012105 và số 0012106 ngày 14/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Chi phí tố tụng khác (tại cấp phúc thẩm): ông Lưu Văn H1 và bà Trần Thị Bích L phải chịu số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 (Ba triệu) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng ông H1, bà L đã nộp (đã nộp xong).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (16/8/2024).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - TAND thành phố Tam Kỳ;
  • - VKSND thành phố Tam Kỳ;
  • - Chi cục THADS thành phố Tam Kỳ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Quốc Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/DS-PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 98/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Hồng T đối với ông Lưu Văn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger