TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 978/2024/DS-PT Ngày: 21-11-2024 V/v “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Minh Tâm
Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Công
Ông Đặng Văn Ý
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Hồng Quân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 375/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3158/2024/QĐPT-DS ngày 01 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm: 1961 (vắng mặt);
- Địa chỉ thường trú: 905 S, Eliot ST Denver C, USA.
- Tạm trú: A8 số 34, đường số I, Khu dân cư A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;
- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trầm Châu L, sinh năm 1981; Địa chỉ: B, ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Theo văn bản ủy quyền ngày 15/01/2018) (có mặt);
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
- Luật sư Dương Văn Ỗ (có mặt);
- Luật sư Nguyễn Thị Kim U (có mặt);
- Đều thuộc Văn phòng luật sư Dương Văn Ổ, địa chỉ: số I khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đ.
- * Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm: 1980; Địa chỉ: B, ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; (có mặt)
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
- Luật sư Lê Quang Y (vắng mặt);
- Luật sư Vũ Duy N1 (có mặt);
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1976; Địa chỉ: 2, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt, có đơn đề nghị xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1977; Địa chỉ: 2, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt, có đơn đề nghị xử vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982; Địa chỉ: 2, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1949; Địa chỉ: 2, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt, có đơn đề nghị xử vắng mặt).
- Ông Lý Bình T3, sinh năm 1959 (vắng mặt);
- Địa chỉ thường trú: 905 S, Eliot ST Denver C, USA.
- Tạm trú: A8 số 34, đường số I, Khu dân cư A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;
- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trầm Châu L, sinh năm 1981; Địa chỉ: B, ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Theo văn bản ủy quyền ngày 03/12/2018) (có mặt);
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
- Luật sư Dương Văn Ỗ (có mặt);
- Luật sư Nguyễn Thị Kim U (có mặt);
- Đều thuộc Văn phòng luật sư Dương Văn Ổ, địa chỉ: số I khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đ.
- Bà Lê Thị S, sinh năm 1937 (vắng mặt);
- Địa chỉ thường trú: 905 S, Eliot ST Denver C, USA.
- Địa chỉ: 9, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- * Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn E, sinh năm 1964 (vắng mặt);
- Địa chỉ: A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Phạm Thái H2, sinh năm 1972 (có mặt);
- Địa chỉ: 3, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Huỳnh Thế S1, sinh năm 1956 (có mặt);
- Địa chỉ: I, ấp A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Lê Thị Ú, sinh năm 1951 (có mặt);
- Địa chỉ: B, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/01/2018, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày:
Năm 2005, bà Nguyễn Thị Tuyết H nhờ người dì là bà Lê Thị Ú (sinh năm 1954, mất năm 2016) đứng tên mua giùm diện tích đất 56,1m² thuộc thửa đất số 104, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; với số tiền là 90.000.000 đồng;
Khi giao tiền nhận chuyển nhượng đất có sự làm chứng của ông Huỳnh Thế S1, sinh năm 1956, trú tại I, ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; bà Lê Thị Ú sinh năm 1951, ông Trần Kiêm Đ, sinh năm 1955, cùng trú tại B, ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1949, ông Nguyễn Quốc T1, ông Nguyễn Quốc T cùng trú tại 2, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; ông Trần Kiêm Đ, sinh năm 1955.
Sau đó, bà Nguyễn Thị Tuyết H đưa tiền cho mẹ ruột là bà Lê Thị S số tiền 80.000.000 đồng, để xây dựng một căn nhà cấp 4 trên diện tích đất trên.
Hiện nay, bà Lê Thị Ú đã mất, bà Nguyễn Thị Tuyết H yêu cầu các con bà Ú là ông Nguyễn Quốc T1, ông Nguyễn Quốc T, Nguyễn Thị Tuyết N và Nguyễn Thị H1 làm thủ tục sang tên lại diện tích đất và nhà trên đất thuộc thửa đất số 104, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, bà N không đồng ý trả lại nhà đất vì cho rằng đây là tài sản của bà Ú.
Nay, bà Nguyễn Thị Tuyết H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Tuyết N trả lại nhà, đất diện tích 56,1m² thuộc thửa đất số 104, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là buộc bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (người thừa kế của bà Ú) là ông Nguyễn Quốc T, ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị H1 thanh toán giá trị quyền sử dụng đất và giá trị quyền sở hữu nhà 70% theo chứng thư thẩm định giá số 2151/TĐG-CT ngày 17/6/2021 tương đương 1.636.810.000 đồng, còn lại 30% tương đương 701.490.000 đồng là công sức giữ gìn tài sản cho bà Ú.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N và đại diện theo ủy quyền bị đơn bà Lê Thị Tú O trình bày:
Ngày 27/01/2006, bà Lê Thị Ú, sinh năm 1954, nhận chuyển nhượng của bà Thái Thị L1, thửa đất số 104, tờ bản đồ số 14, diện tích 52,65 m², số tiền 90.000.000 đồng, tại ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Hợp đồng chuyển nhượng đất được ký tại Ủy ban nhân dân xã T, được Chủ tịch xã là bà Bùi Thị Thu T4 ký tên và đóng dấu xác nhận và có ông Huỳnh Thế S1 người làm chứng việc mua bán đất. Hợp đồng ghi rõ tứ cận: phía Đông giáp bà Thái Thị L1, phía Tây giáp ông Nguyễn Văn E, phía Nam giáp ông Nguyễn Văn E, phía Bắc giáp Đường H.
Trong năm 2006, bà Lê Thị Ú thuê ông Nguyễn Thái H3 là người đứng ra xây dựng căn nhà cấp 4, quá trình xây dựng chính ông H3 là người mua vật tư nên sau khi thanh toán tiền công và tiền vật tư bà Ú đã trả tiền trực tiếp cho ông H3 với tổng tiền là 61.000.000 đồng (sáu mươi mốt triệu đồng), ông H3 đã viết giấy xác nhận nhận tiền và bảo hành thời gian: “nhận đủ tiền, thời hạn bảo hành hai năm, từ 09/03/2006 đến 09/03/2008";
Vào năm 2008, bà Nguyễn Thị Tuyết N về sinh sống với mẹ trên căn nhà này cho đến nay, có ông Nguyễn Văn E là hàng xóm chứng kiến, ông H3 xây nhà năm 2006 và chứng kiến bà N về ở với bà Ú.
Ngày 03/02/2012, bà Lê Thị Ú được Ủy ban nhân dân Thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 899416 đứng tên bà Lê Thị Ú, sinh năm 1954.
Về nguồn tiền mua đất: Bà Ú có tiền mua đất từ khoản tài sản chung được chia sau ly hôn, cụ thể:
Năm 2004, ông T2 và bà Lê Thị Ú có tài sản chung là 02 thửa đất tại phường T, sau ly hôn họ chia tài sản chung, bà Ú được 1/2 tài sản là thửa 74, tờ bản đồ 31, diện tích 642,6m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 556616 và thửa 102, tờ bản đồ 31 diện tích 394m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 063124, còn tách ra cho con Nguyễn Thị Tuyết N thửa đất 105, diện tích 50 m² và con Nguyễn Thị H1 thửa đất 106, diện tích 50 m² cùng tờ bản đồ 31 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Bà Ú tham gia câu lạc bộ giải Cầu Lông của Sở Văn hóa thông tin tỉnh Đồng Nai, và có thêm số tiền góp chung của bà Nguyễn Thị Tuyết N, bà N có việc làm ổn định tại Công ty Cổ Phần S3, có thu nhập nên phụ với mẹ Lê Thị Ú, sinh năm 1954 để mua thửa đất trên (có chứng cứ thời gian đi làm, bảng lương, các giấy khen, giấy chứng nhận kinh doanh), việc bà Ú có tiền, có tài sản để mua đất xây căn nhà 240B, ấp1, xã T, là có căn cứ.
Năm 2016 bà Ú mất. Năm 2018, bà H là Việt kiều Mỹ về Việt Nam khởi kiện bà N để tranh chấp quyền sử dụng đất của mẹ con bà N, bà H cho rằng năm 2005 bà H ông T về Việt Nam mua đất của bà Thái Thị L1, tiền mua đất 90.000.000 đồng, đưa tiền cho bà S về Việt Nam làm nhà, thuê ông Nguyễn Thái H3 xây nhà vào năm 2005, tiền công xây nhà 80.000.000 đồng, đưa ra các nhân chứng là ông T2, ông T, ông T1, bà Lê Thị Ú sinh năm 1951 làm chứng bà Ú (1954) không có tiền mua đất xây nhà.
Do vậy, yêu cầu Tòa án giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết H.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị S trình bày:
Năm 2005, bà Lê Thị Ú, sinh năm 1954 (là người em thứ 7 của bà), sau khi ly hôn chồng, do hoàn cảnh khó khăn, nên con gái bà là Nguyễn Thị Tuyết H sau khi mua miếng đất tọa lạc tại số B, ấp A, xã T, B và bà đã cầm tiền từ Mỹ về để chính tay bà trả tiền công cho anh Phạm Thái H2 thợ xây nhà hàng tuần; sau đó giao cho bà Ú ở; số tiền trả công giữa tôi và anh H2 hai bên đều thỏa thuận cho đến khi hoàn tất. Sự việc trên có ông S1 là trưởng khu phố xã T chứng kiến (Bút lục 84).
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T trình bày:
Ông đang cư ngụ tại số B, tổ G, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, là con của ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị Ú, xin xác nhận là mẹ bà không có tiền bỏ ra để xây căn nhà 240B, ấp A, xã T, B, Đồng Nai, mà tiền mua đất và xây nhà là do vợ chồng chị Nguyễn Thị Tuyết H, từ Mỹ về bỏ ra xây căn nhà đó. Trên đây là sự việc mà ông biết tiền từ đâu mà có để xây căn nhà đó. Ông cam đoan những sự việc trên là đúng sự thật, nếu có gì man trá, ông hoàn toàn chịu trách nhiệm (Bút lục 80).
Ngày 01/8/2022, ông T có đơn rút bản tự khai với lý do: ông không chứng kiến, không thấy bà H bỏ tiền mua đất xây nhà cho bà Ú. Ông B năm 2004, cha ông là ông Nguyễn Văn T2 và mẹ là bà Lê Thị Ú có tài sản chung là 02 thửa đất tại phường T, sau khi ly hôn cha mẹ ông chia tài sản chung, bà Ú có ½ tài sản của thửa 74, tờ bản đồ số 31 diện tích 642,6 m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 556616 và thửa 102, tờ bản đồ số 31 diện tích 394 m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 063124, ngoài ra mẹ ông buôn bán có thu nhập vì vậy số tiền mua đất cất nhà là tiền riêng của mẹ ông. Ông phát hiện văn bản ông không ra Ủy ban nhân dân phường T ký xác nhận đóng dấu nhưng tại văn bản có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường là sai sự thật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T1 trình bày:
Ông đang cư ngụ tại số B, tổ G, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, là con của ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị Ú, xin xác nhận là mẹ ông không có tiền bỏ ra để xây căn nhà 240B, ấp A, xã T, B, Đồng Nai, mà tiền mua đất và xây nhà là do vợ chồng chị Nguyễn Thị Tuyết H, từ Mỹ về bỏ ra xây căn nhà đó. Trên đây là sự việc mà ông biết tiền từ đâu mà có để xây căn nhà đó. Ông cam đoan những sự việc trên là đúng sự thật, nếu có gì man trá, ông hoàn toàn chịu trách nhiệm. (Bút lục 81)
Ngày 01/8/2022, ông T1 có đơn rút bản tự khai với lý do: ông không chứng kiến, không thấy bà H bỏ tiền mua đất xây nhà cho bà Ú. Ông B năm 2004, cha ông là ông Nguyễn Văn T2 và mẹ là bà Lê Thị Ú có tài sản chung là 02 thửa đất tại phường T, sau khi ly hôn cha mẹ ông chia tài sản chung, bà Ú có ½ tài sản của thửa 74, tờ bản đồ số 31 diện tích 642,6 m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 556616 và thửa 102, tờ bản đồ số 31 diện tích 394 m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 063124, ngoài ra mẹ ông buôn bán có thu nhập vì vậy số tiền mua đất cất nhà là tiền riêng của mẹ ông. Ông phát hiện văn bản ông không ra Ủy ban nhân dân phường T ký xác nhận đóng dấu nhưng tại văn bản có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường là sai sự thật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2 trình bày:
Nay ông viết đơn trình bày với qúy tòa một sự việc mà ông áy náy trong lòng nhiều năm qua; số là vợ chồng ông bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống gia đình, nên vợ chồng ông đã ly thân, không nơi nương tựa, tiền bạc cũng không có, may sao dịp đó có cháu vợ của ông là Nguyễn Thị Tuyết H từ Mỹ về bỏ tiền ra cho vợ ông (bà Lê Thị Ú, sinh năm 1954) mua đất và xây nhà, sống ở căn nhà đó là 240B, ấp A, xã T, B, Đồng Nai; đó là sự việc mà tôi đã biết về căn nhà đó, vì chính ông nhiều lần lên thăm viếng và ăn uống nên ông biết rất rõ sự việc là như vậy. Nay ông viết ra sự việc trên là sự thật, tôi xin cam đoan trước pháp luật đó là sự thật, nếu có gì sai trái, ông xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật. (Bút lục 79)
Ngày 01/8/2022, ông T1 có đơn rút bản tự khai với lý do: Năm 2004, ông và bà Ú ly hôn, có tài sản chung là 02 thửa đất tại phường T, sau ly hôn ông bà chia tài sản chung, bà Ú có ½ tài sản của thửa 74, tờ bản đồ số 31 diện tích 642,6 m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 556616 và thửa 102, tờ bản đồ số 31 diện tích 394 m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 063124, ông bà còn tách ra con Nguyễn Thị Tuyết N thửa đất số 105 diện tích 50 m² và con Nguyễn Thị H1 thửa đất 106, diện tích 50 m² cùng tờ bản đồ 31 tại phường T nên việc bà Ú có tiền, có tài sản để mua đất xây căn nhà 240B, ấp A, xã T là đúng. Ông phát hiện văn bản do Nguyễn Thị Tuyết H viết sẵn đưa cho ông ký, ông không được biết nội dung sự việc, ông không ký trực tiếp tại Ủy ban nhân dân phường T nhưng vẫn có xác nhận, đóng dấu Ủy ban phường.
Ngày 12/8/2022, ông T2 có đơn xin rút văn bản làm chứng với lý do: Nay ông phát hiện ông làm chứng sai sự thật nên bằng văn bản này ông xin rút lại tất cả các lời làm chứng trên, nguyên do ông đang nóng giận con gái Nguyễn Thị Tuyết N nên đã ra làm chứng tại buổi hòa giải và ký bản làm chứng tại nhà do bà Nguyễn Thị Tuyết H viết sẵn nội dung, ông không đọc nội dung văn bản nên không biết sự việc làm chứng của mình. Năm 2005, ông đang đi du lịch tại Anh Q, ông không được chứng kiến, không được biết bà Nguyễn Thị Tuyết H đưa tiền cho bà Ú mua đất làm nhà. Ông đã làm chứng sai việc “bà Ú không có tiền” nhưng thực tế trong năm 2004, ông bà ly hôn chia tài sản chung 02 thửa đất tại phường T, bà Ú được ½ tài sản từ các thửa đất sau: thửa 74, tờ bản đồ số 31 diện tích 642,6 m² và thửa 102, tờ bản đồ số 31 diện tích 394 m² . Nên bà Lê Thị Ú có tài sản.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Diện tích đất 56,1m² thuộc thửa đất số 104, tờ bản đồ số 14 tại ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đất này do mẹ bà là bà Lê Thị Ú, sinh năm 1954 mua của bà Thái Thị L1, sinh năm 1937, thường trú 157B, ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Sau khi mua đất, mẹ bà đã xây dựng nhà trên đất. Về tiền mua đất và xây nhà là của mẹ bà và có sự đóng góp của chị bà là Nguyễn Thị Tuyết N, vì ba mẹ bà đã ly hôn vào năm 2004. Sau khi ly hôn, chị N về sống chung với mẹ bà cho đến khi mẹ mất. Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. (Bút lục 44)
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người làm chứng ông Phạm Thái H2 trình bày:
Năm 2005, ông đã nhận xây nhà 240B, ấp A, xã T, B, Đồng Nai. Do bà Lê Thị S trả tiền công hàng tuần. Số tiền trả hàng tuần vì đã lâu ông không nhớ rõ nhưng đúng với thỏa thuận của 02 bên giữa ông và bà S cho đến khi ông hoàn tất căn nhà. Bà S và ông không có sự gì khiếu nại. Ông cam kết những gì ông viết trên đây là sự thật. Nếu sai ông sẽ chịu hoàn toàn trước pháp luật. (Bút lục 78).
Quá trình xây dựng căn nhà trên diện tích đất tại thửa số 104. Tờ bản đồ số 14, bà Lê Thị S (chị gái bà Ú, mẹ ruột bà Nguyễn Thị Tuyết H) đứng ra xây dựng nhà và là người trả tiền công xây dựng nhà cho ông. Quá trình xây dựng nhà, bà S đã chi trả hết tiền xây dựng nhà cho ông. Nay ông H2 không còn yêu cầu gì thêm (Bút lục 102).
Tại phiên tòa, sau khi đại diện bị đơn cho ông xem giấy viết tay bảo hành căn nhà, ông xác định nét chữ ký là giống chữ ký của ông, tuy nhiên, ông khẳng định bà S là người hợp đồng cũng như trả tiền công cho ông, đối với việc bảo hành thông thường giữa ông và các chủ nhà không ký giấy cam kết mà dựa trên lẽ thông thường, uy tín của ông, hư đâu ông sửa đó, việc vì sao có tờ giấy này ông cũng rõ do thời gian cũng đã rất lâu.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người làm chứng ông Huỳnh Thế S1 trình bày:
Khoảng năm 2005, 2006 lúc đó ông là Phó ban ấp 1B, trong quan hệ làm việc có quen biết anh Nguyễn Văn T2 là con trai của bà Thái Thị L1 làm việc ở Ủy ban mặt trận tổ quốc xã T. Ông có được anh T2 cho biết muốn bán một miếng đất kế bên nhà để lấy tiền sửa nhà kế bên nên ông có giới thiệu bà Ú và 02 người cháu ở Mỹ về tên là T và H đến xem và đồng ý mua. Khi hai bên thỏa thuận mua bán và tiến hành làm giấy viết tay, thỏa thuận giá cả, ông không nhớ thỏa thuận số tiền bao nhiêu, ông không biết. Ông có ký tên xác nhận. Việc giao tiền giữa 02 bên ông có chứng kiến là do vợ chồng anh T, chị H trả tiền trực tiếp cho bà Thái Thị L1. Còn sau đó xây nhà như thế nào thì ông không biết. Đối với căn nhà trên, sau khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chỉ có bà Lê Thị Ú ở, còn con cái thình thoảng đi về thăm nom. Sau khi bà Lê Thị Ú mất thì còn của bà Ú là chị Nguyễn Thị Tuyết N và một người em về ở mới phát sinh tranh chấp (bà Ú mất khoảng năm 2016). Nay sự việc xảy ra tranh chấp, ông trình bày những gì ông biết. Việc chị Nguyễn Thị Tuyết N trình bày có hùn tiền mua đất và xây nhà cho bà Ú ở là không chính xác. Việc có hùn tiền xây nhà hay không thì ông không biết nhưng việc hùn tiền mua đất là không có, chỉ có anh T, chị H trả tiền. (Bút lục 38)
Ngày 22/01/2019, ông có tường trình: năm 2005, tôi có giới thiệu cho anh T và chị H mua một miếng đất của bà Thái Thị L1, cư ngụ tại A, ấp A, xã T, đồng ý mua bán và có làm giấy tay ký nhận để cho bà Lê Thị Ú tại 250B, ấp A, xã T, đăng ký đứng tên quyền sử dụng đất ở, số tiền chi trả do anh T và H trả trực tiếp cho bà Thái Thị L1 có người làm chứng ký nhận. Sau này bà Lê Thị Ú chết, từ đó có tranh chấp nhà đất số B, ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Qua 02 lần hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã T không thành và được chuyển qua Tòa án xử lý. (Bút lục 99B)
Tại phiên tòa, ông vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày và khẳng định anh T và chị H là người trực tiếp trả tiền mua đất cho bà Thái Thị L1.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng bà Thái Thị L1 trình bày:
Diện tích đất 52m² bà bán cho bà Ú và hai người cháu trả tiền cho bà, khi mua bán đất có bà Ú và hai người cháu là chị Nguyễn Thị Tuyết H và anh Lý Bình T3 theo bà biết là người nhà bà Ú ở Mỹ về. Ngoài việc nhận tiền từ bà Ú và hai người cháu thì bà không nhận tiền từ bất cứ người nào khác, việc chị N hùn tiền mua đất với bà Ú thì bà không biết. Trước đây chỉ có mình bà Ú ở trên diện tích đất trên, sau này chị N ly hôn, bà Ú bị bệnh thì chị N có về ở cùng và chăm sóc bà Ú (Bút lục 39).
*Trong quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng bà Lê Thị Ú (sinh năm 1951) trình bày:
Năm 2005, bà Lê Thị Ú, sinh năm 1954 (là người em thứ 7) của bà về sống chung cùng gia đình bà sau khi đã ly hôn chồng, do hoàn cảnh khó khăn không có nhà để cư trú, nên vợ chồng bà Nguyễn Thị Tuyết H là Việt Kiều định cư tại Mỹ cũng là con cháu trong gia đình đã giúp đỡ cho bà Ú (sinh năm 1954) về mọi mặt, vợ chồng bà H đã về Việt Nam cùng với số tiền để mua đất và xây dựng nhà cho bà Ú. Sự việc có ông Sáu S2 là trưởng khu phố xã T chứng kiến. Bà Lê Thị S là mẹ ruột bà H đứng ra mời người xây dựng căn nhà do anh Phạm Thái H2 (Bút lục số 77).
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
Áp dụng các Điều 5, Điều 26, Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 163, Điều 168, Điều 256 Bộ luật dân sự 2005; Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
Điều 105, Điều 106 Luật đất đai năm 2003; Điều 21, Điều 126 Luật Nhà ở năm 2005; Điều 169, Điều 186 Luật đất đai năm 2013; Điều 7, Điều 8, Điều 10 Luật Nhà ở năm 2014.
Điều 1, Điều 3 Luật Quốc tịch được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Án lệ số 02/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết H về việc tranh chấp đòi lại tài sản.
[2] Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết N, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Quốc T, Nguyễn Quốc T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán lại 70% giá trị căn nhà và quyền sử dụng đất 56,1m² thuộc thửa 104 tờ bản đồ số 14 xã T nay là phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho bà Nguyễn Thị Tuyết H và ông Lý Bình T3 theo chứng thư thẩm định giá số 2151/TĐG-CT ngày 17/6/2021 của Công ty cổ phần thẩm định giá tỉnh Đ với số tiền 1.636.810.000 đồng (Một tỷ sáu trăm ba mươi sáu triệu tám trăm mười ngàn đồng).
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm trả theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 quy định tương ứng với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[3] Tạm thời giao cho bà Nguyễn Thị Tuyết N, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Quốc T, Nguyễn Quốc T1 được quyền sở hữu, sử dụng chung nhà, đất thuộc thửa 104 tờ bản đồ số 14 xã T (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký và xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng theo quy định pháp luật sau khi đã thi hành xong nghĩa vụ.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật và quyết định của Bản án được thi hành theo quy định tại Luật Thi hành án dân sự, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Lê Thị Ú (sinh năm 1954) gồm bà Nguyễn Thị Tuyết N, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Quốc T, Nguyễn Quốc T1 không tự nguyện thi hành án thì dùng tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở thuộc thửa 104 tờ bản đồ số 14 xã T (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Đồng Nai để kê biên, bán đấu giá tài sản, đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về các chi phí tố tụng, án phí, các quy định về thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 01/02/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không thay đổi, bổ sung, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N không thay đổi, bổ sung và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bà N đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bởi vì không có chứng cứ chứng minh có việc đưa tiền cho phía bà Ú và người bán nhà. Bà Ú là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đứng tên hợp đồng mua bán, đây là chứng cứ không cần chứng minh. Phía nguyên đơn có đại diện theo ủy quyền là ông Trầm Châu L không đồng ý với các lý do kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Trong phần tranh luận, đương sự trình bày như sau:
Người bảo vệ quyền lợi của bị đơn là luật sư Vũ Duy N1 trình bày: Nguyên đơn khởi kiện nhưng không cung cấp được chứng cứ gì cho việc bỏ tiền ra mua đất. Tại phiên tòa người làm chứng ông Phạm Thái H2 là người xây nhà xác nhận xây cho bà Ú, còn ông Huỳnh Thế S1 trình bày có giấy tay mua bán đất nhưng trong hồ sơ không có. Chỉ có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Thái Thị L1 và ông S1 là người ký làm chứng. Mặc dù người nhà bà N khai bà H bỏ tiền ra mua đất cất nhà, nhưng họ không chứng kiến sự việc này và đã thay đổi lời khai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Tại phiên tòa nguyên đơn không chứng minh được là đã bỏ tiền mua đất cất nhà, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn là luật sư Nguyễn Thị Kim U trình bày: Bản án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ, đã xem xét đánh giá toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Lời khai của bà N tại phiên tòa cho rằng có bỏ ra một số tiền để cung nhau mua đất với bà Ú là không có chứng cứ và không đúng với lời khai trước đây của bà N. Bà N không có chứng cứ về việc cho rằng bà Ú có nguồn tiền để mua đất, cất nhà. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn là luật sư Dương Văn Ổ trình bày: Thống nhất với lời trình bày của luật sư U.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật: Xét thấy, Thẩm phán chủ toạ phiên toà, các thành viên Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn xét xử phúc thẩm.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã xét xử có căn cứ, phù hợp pháp luật, phù hợp Án lệ số 02/2016/AL của Hội đồng thẩm phán TANDTC. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của phía bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Tuyết N làm trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Tuyết N trả lại nhà, đất diện tích 56,1m² thuộc thửa đất số 104, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà” và thụ lý, giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định tại các Điều 26, 37, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N:
[3.1] Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận quyền sử dụng đất diện tích 56,1m² thuộc thửa đất số 104, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có nguồn gốc mua của bà Thái Thị L1, sinh năm 1937, địa chỉ: A ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đây là sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3.2] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N trả lại quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà diện tích 56,1m² thuộc thửa đất số 104, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, nhận thấy:
Bà Nguyễn Thị Tuyết H cho rằng diện tích đất 56,1m² thuộc thửa đất số 104, tờ bản đồ số 14 tại ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do bà bỏ tiền ra mua và bỏ tiền ra xây nhà để cho bà Lê Thị Ú ở, lý do bà Ú khó khăn không có nhà ở, việc bà để bà Ú đứng tên trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do bà là Việt Kiều có quốc tịch Mỹ nên không được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện bà Lê Thị Ú là người đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Thái Thị L1. Toàn bộ số tiền nhận chuyển nhượng 90.000.000 đồng là do vợ chồng bà Nguyễn Thị Tuyết H và ông Lý Bình T3 thanh toán cho bà Thái Thị L1.
Tại Biên bản làm việc ngày 22/3/2019 đối với bà Thái Thị L1 là người trực tiếp chuyển nhượng quyền sử dụng đất này thể hiện “bà bán cho bà Ú và hai người cháu trả tiền cho bà, khi mua bán đất có bà Ú và hai người cháu là chị Nguyễn Thị Tuyết H và anh Lý Bình T3 theo bà biết là người nhà bà Ú ở Mỹ về. Ngoài việc nhận tiền từ bà Ú và hai người cháu thì bà không nhận tiền từ bất cứ người nào khác, việc chị N hùn tiền mua đất với bà Ú thì bà không biết” (bút lục số 39). Biên bản làm việc chưa được chính quyền địa phương đóng dấu xác nhận nhưng có người đại diện Ủy ban nhân dân xã ký xác nhận. Đồng thời, tại các lời khai ban đầu, ông Nguyễn Văn T2 (là chồng cũ của bà Lê Thị Ú), anh Nguyễn Quốc T và anh Nguyễn Quốc T1 (là các con của bà Ú) đều xác định bà Ú khi ly thân chồng không có nơi nương tựa, tiền bạc cũng không có, lúc đó có cháu vợ là bà Nguyễn Thị Tuyết H từ Mỹ về bỏ tiền ra cho bà Lê Thị Ú mua đất và xây nhà.
Những lời khai trên phù hợp với lời khai của bà Lê Thị Ú sinh năm 1951 (Bút lục số 77), lời khai của ông Phạm Thái H2 là người trực tiếp xây dựng căn nhà (Bút lục A), cũng như lời khai của ông Huỳnh Thế S1 là phó ban ấp cũng là người giới thiệu, người làm chứng cho việc chuyển nhượng thửa đất trên (Bút lục 99B).
Những lời khai này còn phù hợp với chứng cứ khách quan khác do Tòa án cấp sơ thẩm thu thập là thời gian ông Lý Bình T3 và bà Nguyễn Thị Tuyết H nhập cảnh về Việt Nam (theo công văn số 2432/QLXNC-P5 ngày 03/8/2023 của Cục Q Bộ C).
Như vậy, có đủ căn cứ xác định quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà diện tích 56,1m² thuộc thửa đất số 104, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp A, xã T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là tài sản của bà Nguyễn Thị Tuyết H. Việc bà H không đứng tên mua nhà đất trên là do chính sách của Nhà nước không cho phép người thuộc diện như bà H mua nhà, còn thực tế bà Lê Thị Ú (sinh năm 1954) chỉ đứng tên dùm theo quy định của Điều 105, Điều 106 Luật đất đai năm 2003; Điều 21, Điều 126 Luật Nhà ở năm 2005 (Nay là các Điều 169, Điều 186 Luật đất đai năm 2013; Điều 7, Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014). Những tình tiết trong vụ án này phù hợp với Án lệ số 02/2016/AL ngày 06/4/2016.
Khái quát nội dung của án lệ:
“Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã bỏ tiền ra để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhờ người ở trong nước đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ mình, khi giải quyết tranh chấp thì Tòa án phải xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho người đứng tên hộ; trường hợp không xác định được chính xác công sức của người đó thì cần xác định người thực chất trả tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và người đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ có công sức ngang nhau để chia phần giá trị chênh lệch tăng thêm so với tiền gốc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ban đầu.”
[3.3] Về công sức giữ tài sản đứng tên dùm:
Như đã nhận định ở trên, toàn bộ số tiền mua đất và xây nhà đều do nguyên đơn bà H đứng ra chi trả.
Tuy nhiên sau khi bà H mua đất, cất nhà thì đã cho gia đình bị đơn vào ở. Phía gia đình bị đơn đã quản lý, sử dụng nhà đất, có công sức trong việc bảo quản, giữ gìn tài sản. Do các bên đương sự đều không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh chính xác công sức của phía gia đình bà N nên cần xác định các bên có công sức ngang nhau để chia phần giá trị chênh lệch tăng thêm.
Tại thời điểm mua đất và xây nhà thì bà H đã bỏ ra số tiền là 90.000.000đ + 80.000.000₫ = 170.000.000 đồng. Theo Chứng thư thẩm định giá số 2151/TĐG-CT ngày 17/6/2021 thì giá trị nhà đất tranh chấp hiện nay là 2.338.300.000 đồng. Số tiền chênh lệch mỗi bên được hưởng là (2.338.300.000₫ - 170.000.000đ) : 2 = 1.084.150.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn đã thay đổi yêu cầu, đề nghị buộc bị đơn thanh toán giá trị quyền sử dụng đất và giá trị quyền sở hữu nhà. Ngoài ra, hiện nay quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đối với diện tích 56,1m², thuộc thửa 104 tờ bản đồ số 14 xã T (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Đồng Nai vẫn do bà Lê Thị Ú (sinh năm 1954) đứng tên chủ sở hữu. Nhưng bà Ú đã mất năm 2016 (theo Biên bản xác minh ngày 22/3/2019, trích lục khai tử ngày 29/11/2016) nên cần buộc người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Lê Thị Ú là các con của bà gồm bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn Quốc T, ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị H1 (riêng ông Nguyễn Văn T2 là chồng bà Ú đã ly hôn nên không thuộc hàng thừa kế thứ nhất) có nghĩa vụ thanh toán số tiền chênh lệch và số tiền mua đất, xây nhà cho bà Nguyễn Thị Tuyết H, tổng cộng là 1.084.150.000₫ + 170.000.000₫ = 1.254.150.000 đồng.
[4] Từ các phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần sửa một phần bản án sơ thẩm về số tiền phía bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn Quốc T, ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị H1 (đều là kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Lê Thị Ú, sinh năm 1954) phải trả cho phía nguyên đơn. Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà, ý kiến trình bày của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, ý kiến trình bày của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên cần tính lại phần án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết H là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn Quốc T, ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị H1 (đều là kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Lê Thị Ú, sinh năm 1954) phải liên đới chịu số tiền 49.624.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Áp dụng các Điều 5, Điều 26, Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 163, Điều 168, Điều 256 Bộ luật dân sự 2005; Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
Điều 105, Điều 106 Luật đất đai năm 2003; Điều 21, Điều 126 Luật Nhà ở năm 2005; Điều 169, Điều 186 Luật đất đai năm 2013; Điều 7, Điều 8, Điều 10 Luật Nhà ở năm 2014.
Điều 1, Điều 3 Luật Quốc tịch được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Án lệ số 02/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết H về việc tranh chấp đòi lại tài sản.
[2] Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết N, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Quốc T, Nguyễn Quốc T1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán lại số tiền mua đất, xây nhà và 50% số tiền chênh lệch giá trị căn nhà và quyền sử dụng đất 56,1m², thuộc thửa 104 tờ bản đồ số 14 xã T nay là phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho bà Nguyễn Thị Tuyết H ông Lý Bình T3 theo chứng thư thẩm định giá số 2151/TĐG-CT ngày 17/6/2021 của Công ty cổ phần thẩm định giá tỉnh Đ với số tiền 1.254.150.000 đồng (Một tỷ hai trăm năm mươi bốn triệu một trăm năm mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm trả theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N2 quy định tương ứng với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[3] Tạm thời giao cho bà Nguyễn Thị Tuyết N, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Quốc T, Nguyễn Quốc T1 được quyền sở hữu, sử dụng chung nhà, đất thuộc thửa 104 tờ bản đồ số 14 xã T (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký và xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng theo quy định pháp luật sau khi đã thi hành xong nghĩa vụ.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật và quyết định của Bản án được thi hành theo quy định tại Luật Thi hành án dân sự, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Lê Thị Ú (sinh năm 1954) gồm bà Nguyễn Thị Tuyết N, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Quốc T, Nguyễn Quốc T1 không tự nguyện thi hành án thì dùng tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở thuộc thửa 104 tờ bản đồ số 14 xã T (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Đồng Nai để kê biên, bán đấu giá tài sản, đảm bảo thi hành án.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết H. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết H số tiền 7.500.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu số 001286 ngày 12/02/2018 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Nguyễn Quốc T, ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị H1 (đều là kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Lê Thị Ú, sinh năm 1954) phải liên đới chịu số tiền 49.624.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N không phải chịu. Hoàn trả cho bà N số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 178 ngày 29/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định.
[7] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Phạm Văn Công | Đặng Văn Ý | Vương Minh Tâm |
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vương Minh Tâm |
Bản án số 978/2024/DS-PT ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà
- Số bản án: 978/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Tuyết Hương
