|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI Bản án số: 976/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26/12/2025 V/v: Tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quang;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Trồi và bà Nguyễn Thị Bích Liên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Cù Ngô Ngọc Thịnh – Kiểm sát viên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Hà Nội.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 -Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 499/2025/TLST- HNGĐ ngày 10/10/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2025/QÐST – HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1975; SỐ CCCD: [...]
- Bị đơn: Chị Lê Thị O, sinh năm 1975; Số CCCD: [...]
Cùng nơi cư trú: P, phường C, thành phố Hà Nội. Anh D1 và chị O đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn anh Nguyễn Văn D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Thị O đăng ký kết hôn khoảng cuối năm 1994 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, thành phố Hà Nội (nay là phường C, thành phố Hà Nội) trên cơ sở tự nguyện. Nhưng do bảo quản không cẩn thận nên đã làm mất giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, suy nghĩ không hợp nhau. Hai bên đã tìm nhiều cách hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả nên đã sống ly thân nhau đến nay được 8 năm, không quan tâm đến nhau. Nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn đối với chị O.
Về con chung: Anh và chị O có 03 con chung, gồm các cháu: Nguyễn Thị A, sinh ngày 21/8/1995, Nguyễn Thị Q, sinh ngày 23/2/1998 và Nguyễn Thị Q1, sinh ngày 08/2/2006; 03 cháu đều đã trưởng thành, khỏe mạnh, có khả năng tự lao động và không thuộc trường hợp phải cấp dưỡng theo quy định của pháp luật nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn chị Lê Thị O trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị đồng ý các ý kiến trình bày của anh D về thời gian, địa điểm, điều kiện kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng. Mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, đã sống ly thân nhau đến nay được 8 năm không còn tình cảm gì với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, anh D khởi kiện xin ly hôn chị đề nghị anh D phân chia tài sản cho các con thì chị mới đồng ý ly hôn. Trường hợp anh D không phân chia tài sản cho các con thì chị không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chị và anh D có 03 con chung như anh D trình bày là đúng, 03 cháu đều đã trưởng thành, khỏe mạnh, có khả năng tự lao động và không thuộc trường hợp phải cấp dưỡng theo quy định của pháp luật nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ xác định: Anh Nguyễn Văn D và chị Lê Thị O là vợ chồng, có đăng ký kết hôn khoảng năm 1994 tại UBND xã P, huyện C (nay là phường C), thành phố Hà Nội và có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống tại địa phương. Do UBND phường C không lưu giữ được sổ đăng ký kết hôn năm 1994 tại UBND xã P nên không có thông tin về việc anh chị đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, anh chị thường xuyên cãi vã, có đánh nhau làm cho mỗi người sống một nơi và đã sống ly thân nhau đến nay gần 10 năm.
4. Ý kiến của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn; bị đơn không đồng ý ly hôn; về con chung đều không đề nghị Tòa án giải quyết; về tài sản chung, nợ chung anh chị tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Hà Nội phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào ý kiến của các đương sự và các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xử cho anh Nguyễn Văn D được ly hôn với chị Lê Thị O. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét. Anh Dũng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn D khởi kiện ly hôn đối với chị Lê Thị O, chị O có nơi cư trú tại: phường C, thành phố Hà Nội. Vì vậy Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn D và chị Lê Thị O kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 1994. Do bảo quản nên không lưu giữ được giấy chứng nhận ký kết hôn cũng như sổ sách lưu trữ thông tin đăng ký kết hôn của anh chị, còn thực tế anh chị là vợ chồng. Như vậy có căn cứ xác định hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn D và chị Lê Thị O là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình anh chị chung sống, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau và đã sống ly thân nhau đến nay được khoảng 8 năm, không còn chung sống cùng nhau và đều xác định tình cảm vợ chồng không còn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh D và chị O đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh D đối với chị O là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
2.2. Về con chung: Anh D1 và chị O có 03 con chung, gồm các cháu: Nguyễn Thị A, sinh ngày 21/8/1995, Nguyễn Thị Q, sinh ngày 23/2/1998 và Nguyễn Thị Q1, sinh ngày 08/2/2006; 03 cháu đều đã trưởng thành, khỏe mạnh, có khả năng tự lao động và không thuộc trường hợp phải cấp dưỡng theo quy định của pháp luật, các đương sự đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh D1 và chị O tự thỏa thuận, đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2.4. Về án phí: Anh Dũng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của anh Nguyễn Văn D đối với chị Lê Thị O. Anh Nguyễn Văn D ly hôn đối với chị Lê Thị O.
- Về con chung: Anh Nguyễn Văn D và chị Lê Thị O có 03 con chung, gồm các cháu: Nguyễn Thị A, sinh ngày 21/8/1995, Nguyễn Thị Q, sinh ngày 23/2/1998 và Nguyễn Thị Q1, sinh ngày 08/2/2006; 03 cháu đều đã trưởng thành, khỏe mạnh, có khả năng tự lao động và không thuộc trường hợp phải cấp dưỡng theo quy định của pháp luật, các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được đối trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí anh D đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí ký hiệu: BLTU/25E số 0011008 ngày 10/10/2025 của Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6 - Hà Nội được chuyển thành án phí. Xác nhận anh D đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Văn Quang |
Bản án số 976/2025/HNGĐ-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 976/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mâu thuẫn vợ chồng
