TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 975/2024/DS-PT
Ngày 20-11-2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu
cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại
về tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Minh |
| Các Thẩm phán: | Ông Đặng Văn Ý |
| Ông Vương Minh Tâm |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Nơi - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án thụ lý số: 592/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2023/DS-ST ngày 08 tháng 08 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2985/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hà Thị T, sinh năm 1934 (đã chết ngày 04/3/2015).
Địa chỉ: Số B P, Edison New J, USA.
Người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Hà Thị T gồm:
- Bà Lý Kim L, sinh năm 1976; (vắng mặt).
- Bà Lý Kim H, sinh năm 1965; (vắng mặt).
- Bà Trần Kim H1, sinh năm 1971; (vắng mặt).
- Ông Lý Minh C, sinh năm 1967; (vắng mặt).
- Ông Lý Minh Đ, sinh năm 1973; (vắng mặt).
- Ông Lý Minh K, sinh năm 1962; (vắng mặt).
- Ông Lý Minh P, sinh năm 1969; (vắng mặt).
- Ông Lý Minh H2, sinh năm 1964; (vắng mặt).
- Ông Tcheng H3 (tên tiếng Việt là Lý Minh H4), sinh năm 1950. Số Vi sa: M 0991655 ký hiệu DL cấp ngày 15/6/2017 tại W, USA; (vắng mặt).
- Ông Lý Minh C1, sinh năm 1957. Địa chỉ: Số B P. Edison, N, USA; (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B P. Edison, N, USA.
Địa chỉ: Số B Sylvan Dell A. Edison, N, USA.
Địa chỉ: Số E B. Edison, N, USA.
Địa chỉ: Số B P. Edison, N, USA.
Địa chỉ: Số D E. East Brunswick, N, USA.
Địa chỉ: Số B P. Edison, N, USA.
Địa chỉ: Số H A. Edison, N, USA.
Địa chỉ: Số A Soouthwood Drive O, N, USA.
Người đại diện theo ủy quyền cho Lý Kim L, Lý Kim H, Trần Kim H1, Lý Minh C, Lý Minh Đ, Lý Minh K, Lý Minh P, Lý Minh H2, Tcheng H: Ông Hà Văn T1, sinh năm 1960; (có mặt).
Địa chỉ: Số C, khu V, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 15/11/2016, ngày 25/9/2017)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn H5 – Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn H5 – thuộc Đoàn luật sư tỉnh L; (có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Hà Trọng H6, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số B, Khu V, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; (có mặt).
- Ông Lâm Thế Q, sinh năm 1941 (đã chết ngày 03/01/2022).
- Bà Giang Kim L1, sinh năm 1951; (xin vắng mặt).
- Ông Lâm Quảng Đ1, sinh năm 1972; (xin vắng mặt).
- Ông Lâm Triều C2, sinh năm 1973 (xin vắng mặt).
- Bà Lâm Khả A1, sinh năm 1974; (xin vắng mặt).
- Ông Lâm Triều D, sinh năm 1976; (xin vắng mặt).
- Ông Lâm Hòa B, sinh năm 1978; (xin vắng mặt).
- Bà Lâm Khả N, sinh năm 1985; (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Hà Trọng H6: Luật sư Nguyễn Duy A – Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn A+ thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Địa chỉ liên hệ: D.39, Số D B, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lâm Thế Q gồm:
Địa chỉ: B, khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: B, khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: E H, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: B, khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: C đường T, Tổ E, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: B, khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: B, khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hà Ngọc D1, sinh năm 1936 (đã chết ngày 26/5/2021).
- Ông Hà Mạnh H7, sinh năm 1971; (vắng mặt).
- Bà Hà Cẩm T2, sinh năm 1973; (vắng mặt).
- Bà Hà Cẩm G, sinh năm 1974; (vắng mặt).
- Ông Hà Mạnh V, sinh năm 1980; (vắng mặt).
- Bà Hà Thị Cẩm H8, sinh năm 1983; (vắng mặt).
- Ông Hà Văn T1, sinh năm 1960; (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1957; (xin vắng mặt).
- Ông Hà Trọng N1, sinh năm 1991; (có mặt).
- Ông Hà Mạnh H7, sinh năm 1971; (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Hoàng Tú A2, sinh năm 1972; (vắng mặt).
- Cháu Hà Khánh A3, sinh năm 2005 (con ông H7).
- Bà Giang Kim L1, sinh năm 1951 (vợ ông Q); (xin vắng mặt).
- Bà Lê Thị Bích T3, sinh năm 1981; (xin vắng mặt).
- Cháu Hà Minh K1, sinh năm 2018.
- Bà Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1991; (xin vắng mặt).
- Cháu Hà Nguyên K2, sinh năm 2017.
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
- Ủy ban nhân dân tỉnh L; (vắng mặt).
- Văn phòng C5 (được chuyển đổi từ Văn phòng C6).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông D1 gồm:
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: C, khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: A ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: C, khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số E, Khu V, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số B, Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số B, Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Mạnh H7 và bà Nguyễn Hoàng Tú A2.
Cùng địa chỉ: Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số B, Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật của cháu K1: Bà Lê Thị Bích T3 và ông Hà Trọng Hữu .
Cùng địa chỉ: Số B, khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật của cháu K2: Bà Nguyễn Thị Kim Y và ông Hà Trọng N1.
Cùng địa chỉ: Số B, khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thành P1 – Chức vụ: Chủ tịch; (vắng mặt).
Địa chỉ trụ sở: Số F, đường N, Phường A, thành phố T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn C3 – Trưởng Văn phòng; (xin vắng mặt).
- Người kháng cáo: ông Hà Văn T1 là người đại diện theo ủy quyền của những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/8/2014, đơn khởi kiện bổ sung ngày 06/7/2014 của nguyên đơn bà Hà Thị T, trong quá trình giải quyết vụ án người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Lý Kim L, bà Lý Kim H, bà Trần Kim H1, ông Lý Minh C, ông Lý Minh Đ, ông Lý Minh K, ông Lý Minh P, ông Lý Minh H2, ông Tcheng H3, ông Lý Minh C1 do ông Hà Văn T1 đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn bà Lý Kim L, bà Lý Kim H, bà Trần Kim H1, ông Lý Minh C, ông Lý Minh Đ, ông Lý Minh K, ông Lý Minh P, ông Lý Minh H2, ông Tcheng H3 trình bày:
Về hàng thừa kế: Ông T1 là em ruột của bà Hà Thị T. Nguyên đơn bà Hà Thị T đã chết năm 2015. Chồng bà T đã chết, bà T có tổng cộng 10 người con gồm: Bà Lý Thị L2, bà Lý Kim H, bà Trần Kim H1, ông Lý Minh C, ông Lý Minh Đ, ông Lý Minh K, ông Lý Minh P, ông Lý Minh H2, ông Tcheng H3 (L), ông Lý Minh C1. Ngoài ra, bà T không còn chồng, con nào khác.
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Trước đây, bà Hà Thị T khởi kiện tranh chấp các thửa 174, 38, 101, 102 nhưng qua đo đạc xác định thực tế phần đất của bà T chỉ bao gồm các thửa 174, 38 nên xác định nguyên đơn chỉ khởi kiện tranh chấp thửa 174 và thửa 38. Đề nghị Tòa án giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã được xác định lại là thửa 174 và 38, không tranh chấp gì đối với thửa 101, 102.
Năm 1992, bà T đi định cư tại Hoa Kỳ, trước khi đi bà T có mua phần đất có diện tích đo đạc thực tế 1914,4m², thuộc thửa đất số 174 và thửa 38, đất tọa lạc tại thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (có làm giấy tay). Trong đó, thửa 38 mua của bà Nguyễn Thị T4 (bà T4 đã chết) giấy tay đề ngày 16/10/1961. Thửa 174 thì mua của nhiều người nên lập nhiều giấy tay, bao gồm “Tờ bán nhà và nhượng chỗ ở” ngày 25/6/1959 mua của ông Phạm Văn B1 và bà Lê Thị Â, “Tờ bán nhà” ngày 25/9/1961 mua của ông Đoàn Văn S và bà Diệp Thị T5, “Giấy nhường huê lợi trên đất quốc gia” ngày 15/12/1961 mua của ông Nguyễn Thiện Tiểu .1 Những người bán đất hiện nay đều đã chết. Việc mua bán đã thực hiện xong, bà T đã giao đủ tiền cho bên chuyển nhượng và đã nhận đất.
Phần đất này sau khi mua xong thì bà T để lại cho mẹ bà là cụ Lư Thị P2 quản lý, canh tác và giữ gìn làm đất hương quả cho việc mai táng. Trước khi đi nước ngoài, bà T có cho gia đình ông Hà Văn N2 về sinh sống và có xây dựng 01 căn nhà trên thửa đất số 174 (sự việc chỉ thỏa thuận miệng). Ngoài ra, trên phần đất này có 03 ngôi mộ là phần mộ của mẹ bà là bà P2 (ký hiệu 3) và chồng bà T là ông Lý Nghi N3 (ký hiệu 5), em của bà T là ông Hà Văn N4 (ký hiệu 4). Ngoài ra, không còn mồ mả nào trên đất và không tranh chấp gì đối với phần mồ mả trên đất.
Ngày 28/3/1998, ông Hà Văn N2 khi đi kê khai đất đã tự ý kê khai luôn phần đất của bà T, theo đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất “khai là cha mẹ để lại” mà không có tường trình về nguồn gốc đất cha mẹ do đâu mà có. Thực tế, phần đất này là của bà T mua chứ không phải của cụ P2. Ngày 16/12/1998, cá nhân ông N2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với thửa 174, loại đất thổ.
Tháng 3/2011, ông Hà Mạnh H7 xin bà T cất nhà trên một phần đất để ở, nhưng sau đó giữa ông H7 và ông N2 phát sinh mâu thuẫn nên việc tranh chấp xảy ra. Ngày 07/11/2011, bà T có khiếu nại ra Ủy ban nhân dân thị trấn Đ và Ủy ban nhân dân có tiến hành hòa giải. Tại biên bản hòa giải ông N2 đồng ý trả lại đất với điều kiện bà T phải trả lại cho ông N2 số tiền 600.000.000 đồng hoặc 60.000 USD. Do phía bà T không đồng ý nên hòa giải không thành.
Ông Lâm Thế Q là người sinh sống cạnh thửa đất số 174. Trong quá trình kê khai đăng ký thì cá nhân ông Q đã kê khai nhầm phần thửa đất số 38, diện tích 120,4m², tờ bản đồ số 11-3-2, loại đất TSN, đất tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy ngày 08/5/2006. Ngày 04/4/2014, ông Lâm Thế Q và vợ là bà Giang Kim L1 đã làm thủ tục trả lại cho ông Hà Trọng N1 và ông Hà Trọng H6 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 38. Quá trình chuyển nhượng không có sự thay đổi loại đất. Ngày 04/7/2014, ông Hà Trọng N1 và ông Hà Trọng H6 đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 38, diện tích đo đạc thực tế là 120,4m², loại đất TSN tờ bản đồ số 11-3-2, đất tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Trước đây, nguyên đơn bà Hà Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 629646 do Ủy ban nhân dân tỉnh L cấp cho ông Hà Văn N2 vào ngày 16/12/1998 đối với thửa đất số 174, diện tích theo giấy 1.794m², loại đất thổ, tờ bản đồ số 11, đất tọa lạc tại thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và công nhận quyền sử dụng đất này cho bà Hà Thị T.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 863147 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho ông Lâm Thế Q vào ngày 08/5/2006 đối với thửa đất số 38, diện tích theo giấy 120,4m², tờ bản đồ số 11-3-2, đất tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và buộc ông Lâm Thế Q phải giao lại phần đất này cho bà Hà Thị T.
Ngày 28/4/2022, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Lý Kim L khởi kiện bổ sung và xác định lại yêu cầu khởi kiện và tại phiên tòa ông Hà Văn T1 xác định yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 629646 do Ủy ban nhân dân tỉnh L cấp cho ông Hà Văn N2 vào ngày 16/12/1998 đối với thửa đất số 174, diện tích theo giấy 1.794m² (diện tích đo đạc thực tế 1.758,3m²) loại đất thổ, tờ bản đồ số 11, đất tọa lạc tại thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 863147 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho ông Lâm Thế Q vào ngày 08/5/2006 đối với thửa đất số 38, diện tích 120,4m² (diện tích đo đạc thực tế 148,8m²), tờ bản đồ số 11-3-2, loại đất TSN, đất tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lâm Thế Q và vợ là bà Giang Kim L1 cho ông Hà Trọng H6 và ông Hà Trọng N1 đối với thửa 38, diện tích là 120,4m² (diện tích đo đạc thực tế 148,8m²), tờ bản đồ số 11-3-2, đất tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An được Văn phòng C6 (nay là Văn phòng C5) chứng ngày 04/4/2014.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 635360, số BU 635361 đối với thửa 38, diện tích 120,4m² (diện tích đo đạc thực tế 148,8m²), tờ bản đồ số 11-3-2, đất tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Hà Trọng N1 và ông Hà Trọng H6 ngày 04/7/2014.
- Buộc ông Hà Trọng N1, ông Hà Trọng H6, bà Nguyễn Thị M là những người đang quản lý đất phải tháo dỡ nhà ở và trả cho những người thừa kế của bà Hà Thị T phần đất thửa đất số 174 có diện tích đo đạc thực tế 1.758,3m² (khu A), loại đất thổ, tờ bản đồ số 11 và thửa đất số 38 có diện tích đo đạc thực tế 148,8m² (khu B), tờ bản đồ số 11-3-2, đất tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Phía nguyên đơn xác định chỉ có những yêu cầu khởi kiện này, ngoài ra không còn yêu cầu khởi kiện nào khác. Cây trồng trên đất các đương sự không tranh chấp nên không yêu cầu xem xét. Đề nghị Tòa án giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hiện trạng đất hiện nay không có gì thay đổi so với biên bản thẩm định đã có trong hồ sơ. Hiện nay, trên thửa đất số 174 có nhà của gia đình ông Hà Trọng H6 và nhà của gia đình ông Hà Mạnh H7 đang sinh sống. Đồng thời, thửa 38 tại khu B và thửa 174 tại khu A hiện nay do ông Hà Trọng N1, ông Hà Trọng H6, bà Nguyễn Thị M đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Cụ thể, ông Hà Trọng N1, ông Hà Trọng H6, bà Nguyễn Thị M đã cất nhà ở số A, 02 trên phần đất tranh chấp tại thửa 174. Đối với căn nhà số F của vợ chồng ông Hà Mạnh H7 và bà Nguyễn Hoàng Tú A2 cất nhà ở từ năm 2011, do bà Hà Thị T cho cất nhà ở tạm trên đất. Nguyên đơn không tranh chấp hay yêu cầu gì đối với phần nhà của vợ chồng ông H7, vẫn đồng ý để vợ chồng ông H7 tiếp tục ở trên đất. Thửa 38 là đất trống, không ai sử dụng nhưng bị đơn đang quản lý.
Bị đơn ông Hà Trọng H6 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Trọng N1 trình bày:
Ông thống nhất với trình bày của ông T1 về người thừa kế của bà T. Cha của ông là ông Hà Văn N2 (đã chết năm 2013), có vợ là bà Nguyễn Thị M và hai người con là Hà Trọng N1 và Hà Trọng Hữu .
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Thửa đất số 174 và thửa đất số 38 có nguồn gốc trước năm 1975 bà nội của ông là cụ Lư Thị P2 canh tác, sử dụng và bà T cũng không có ý kiến gì. Năm 1986, cha ông là ông Hà Văn N2 được cụ P2 cho ra riêng sử dụng cất nhà ở (việc tặng cho chỉ nói miệng, không có giấy tờ gì). Năm 1992, cụ P2 chết thì gia đình ông vẫn canh tác, quản lý, sử dụng ổn định cho đến nay, bà T không có ý kiến gì. Tuy nhiên, sự việc này có xác nhận của người trong gia tộc, trừ cha của ông Hà Mạnh H7, người đang ở nhờ trên phần đất tranh chấp do có quyền lợi liên quan đến vụ án.
Năm 1992, UBND thông báo kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông N2 là người trực tiếp sử dụng đất đã kê khai, đăng ký. Đến ngày 16/12/1998, ông Hà Văn N2 được Ủy ban nhân dân tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho số M 629646 đối với thửa đất số 174, diện tích 1.794m², loại đất thổ, tờ bản đồ số 11, đất tọa lạc tại thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Bà T và cụ P2 không không đi đăng ký phần đất này. Còn nguồn gốc ở đâu cụ P2 có để cho ông N2 thì các ông không biết.
Riêng thửa đất số 38, diện tích 120,4m², tờ bản đồ số 11-3-2, đất tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An do gia đình ông là người trực tiếp quản lý, sử dụng cùng với thửa 174 liền ranh với nhau, có ranh giới rõ ràng nhưng ngày 08/5/2006 Ủy ban nhân dân huyện Đ đã cấp nhầm thửa đất số 38, cho ông Lâm Thế Q. Ngày 04/4/2014, ông Lâm Thế Q và vợ là bà Giang Kim L1 chuyển trả thửa đất này lại cho gia đình ông do ông N1 và ông H6 nhận theo làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 38. Việc chuyển nhượng thực tế là trả lại đất, ông Q không nhận bất kỳ khoản tiền nào của ông N1, ông H6. Ngày 04/7/2014, ông N1 và ông H6 đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 38, diện tích 120,4m², tờ bản đồ số 11-3-2, đất tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Do giao dịch chuyển trả đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa ông Q và ông H6, ông N1 là giao dịch không có điều kiện nên trong vụ án này, bị đơn không có yêu cầu khởi kiện nào đối với giao dịch trên. Trường hợp Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q và ông H6, ông N1 thì ông H6, ông N1 cũng không yêu cầu giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu.
Vào năm 2011 gia đình ông có cho ông Hà Mạnh H7 cất nhà ở nhờ trên một phần thửa đất số 174. Năm 2013, ông Hà Văn N2 chết để lại phần đất thửa 174 và 38 cho ông quản lý sử dụng, nhưng ông N2 vẫn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 174. Hiện tại trên phần đất này có mẹ ông là bà Nguyễn Thị M, vợ con ông và vợ chồng em trai ông là ông Hà Trọng N1 đang sinh sống.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị T thì ông không đồng ý vì phần đất này gia đình ông sử dụng ổn định và hợp pháp thừa kế từ cha ông để lại.
Đối với nhà của ông Hà Mạnh H7 trên đất (nhà vị trí số 6), giữa ông H6 và ông H7 thống nhất: ông H7 trả lại đất cho ông H6 và ông H6 được sở hữu, sử dụng nhà này. Ông Hà Trọng H6 đồng ý thanh toán cho ông H7 số tiền 150.000.000 đồng.
Về 03 ngôi mộ trên đất như ông T1 trình bày. Do đất đang tranh chấp nên khi ông N2 chết, gia đình không chôn ông N2 trên phần đất này. Đất tranh chấp không phải là đất hương quả, mộ bà nội là mộ cuối cùng được chôn tại đất nhà các ông. Ông không tranh chấp mồ mả trên đất. Không tranh chấp cây trồng trên đất, ai được công nhận quyền sử dụng đất thì được sở hữu cây trồng trên đất.
Về hiện trạng đất hiện nay không có gì thay đổi so với biên bản thẩm định đã có trong hồ sơ. Riêng ngôi nhà ông H7 có lót gạch thêm nhưng giữa ông và ông H7 đã thỏa thuận nhà của ông H7, nên ông cũng không yêu cầu gì đối với phần lót gạch này nên đề nghị Tòa án không tiến hành định giá lại tài sản tranh chấp. Đề nghị sử dụng kết quả định giá đã có để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Trong trường hợp Tòa án xác định quyền sử dụng đất là của nguyên đơn bà Hà Thị T thì ông đề nghị trích cho những người thừa kế của ông N2 gồm ông H6, bà M và ông N1 2/3 giá trị quyền sử dụng đất thửa 174, 38 là công sức gìn giữ, quản lý đất từ năm 1986 đến nay.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M: Bà M có văn bản trình bày ý kiến yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lâm Thế Q là bà Giang Kim L1, ông Lâm Quảng Đ1, ông Lâm Triều C2, bà Lâm Khả A1, ông Lâm Hòa B, bà Lâm Khả N có ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Ông Lâm Thế Q, sinh năm 194 (chết ngày 03/01/2022). Cha mẹ ông Q đã chết. Bà Giang Kim L1 là vợ ông Q. Các con của ông Q và bà L1 gồm: Ông Lâm Quảng Đ1, ông Lâm Triều C2, bà Lâm Khả A1, ông Lâm Triều D, ông Lâm Hòa B, bà Lâm Khả N. Ngoài ra, bà L1 và ông Q không có vợ, chồng, con riêng hay con nuôi nào khác.
Hiện phần đất tranh chấp nêu trên có liên quan đến phần đất ông Q đứng tên do cấp nhầm là thửa 38. Gia đình ông Q đã làm thủ tục chuyển trả lại cho bên gia đình ông H6 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện tại gia đình ông Q không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng không quản lý đất. Gia đình chúng ông Q không còn quyền lợi gì trong vụ án này. Đề nghị Tòa án không triệu tập ông bà tham gia tố tụng.
Nay các ông, bà xin được vắng mặt trong các buổi làm việc đối chất, cũng như trong các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử tại Tòa án các cấp; đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vụ án vắng mặt ông bà. Kể cả nếu các đương sự có khởi kiện bổ sung ông bà cũng đề nghị được vắng mặt.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Ngọc D1 là bà Hà Cẩm T2, bà Hà Cẩm G, bà Hà Thị Cẩm H8, ông Hà Mạnh H7 có ý kiến trình bày như sau:
Cha ông bà là ông Hà Ngọc D1 sinh năm 1936 (chết ngày 26/5/2021). Cha mẹ ông D1 đã chết trước ông D1. Vợ ông D1 là bà Nguyễn Thị P3 đã chết năm 2016. Những người con của ông D1 gồm: Ông Hà Mạnh H7, bà Hà Cẩm T2, bà Hà Cẩm G, ông Hà Mạnh T6 đã chết không có vợ con, ông Hà Mạnh V, bà Hà Thị Cẩm Huỳnh .2
Trong vụ án này, ông D1 và các ông bà không có liên quan gì. Ông bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Nay các ông, bà yêu cầu được vắng mặt trong các buổi làm việc sau này, cũng như trong các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử tại Tòa án các cấp; đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vụ án vắng mặt ông, bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Mạnh H7 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa như sau:
Ông thống nhất toàn bộ phần trình bày của đương sự về hàng thừa kế của bà Hà Thị T, ông Lâm Thế Q, ông Hà Văn N2 và ông Hà Ngọc D1. Vợ ông H7 là bà Nguyễn Hoàng Tú A2.
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Trước đây, do hoàn cảnh khó khăn nên vào tháng 3 năm 2011 bà Hà Thị T có cho vợ chồng ông cất nhà ở trên phần đất tranh chấp (thể hiện nhà 6). Từ khi xây nhà, gia đình ông N2 cũng ở trên phần đất này nhưng không ai tranh chấp hay khiếu nại gì. Trong quá trình sử dụng đất thì ông H7 có sửa chữa nhà, cụ thể là lót gạch men nền nhà nhưng ông H7 xác định không tranh chấp phần lót gạch thêm này nên không yêu cầu Tòa án tiến hành định giá lại tài sản tranh chấp. Tuy nhiên, khi ông N2 chết thì bà Nguyễn Thị M, ông Hà Trọng H6 và ông Hà Trọng N1 khởi kiện buộc ông tháo dỡ nhà đất. Ông không đồng ý yêu cầu này vì khi ông xây dựng nhà có sự chứng kiến của gia đình ông N2.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông H7 có khởi kiện yêu cầu công nhận cho ông phần diện tích đất thuộc một phần thửa 174, tờ bản đồ số 11, diện tích nhà 6 và con đường đi ra chiều ngang khoảng 01 mét, chiều dài khoảng 27 mét tọa lạc tại khu vực 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thì ông xác định rút yêu cầu khởi kiện. Nay ông H7 xác định ông yêu cầu ông Hữu thanh T7 cho ông 150.000.000 đồng, ông sẽ trả lại đất cho ông H6 và ông H6 được sở hữu nhà trên đất. Tại phiên tòa, giữa ông và ông H6 cũng đã thỏa thuận được vấn đề này nên đề nghị Tòa án công nhận.
Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T thì giữa ông H7 và phía gia đình bà T sẽ thương lượng phần đất cũng như tài sản trên đất. Không tranh chấp trong vụ án này.
Hiện trên ngôi nhà ông H7 đang ở thì có những người đang sinh sống gồm: Ông Hà Mạnh H7, vợ là bà Nguyễn Hoàng Tú A2 và con là cháu Hà Khánh A3. Ngoài ra, trên phần đất tranh chấp không còn ai khác sinh sống.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Hoàng Tú A2 trình bày: Bà là vợ của ông H7, bà thống nhất với trình bày và yêu cầu của ông H7. Khi vợ chồng bà khó khăn thì vợ chồng bà trực tiếp gặp bà T để xin bà T cho cất nhà ở trên đất. Thời gian cất nhà khoảng 02 tháng nhưng phía ông N2 cũng không có ý kiến phản đối gì. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông H7.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Y, bà Lê Thị Bích T3 thống nhất trình bày:
Bà T3 là vợ của ông H6, bà Y là vợ của ông N1. Bà T3 và bà Y thống nhất toàn bộ phần trình bày của ông H6, ông N1.
Bà T3 và bà Y có biết sự việc tranh chấp giữa các bên. Đây là tài sản phía bên gia đình ông H6, ông N1 nên phía gia đình ông H6 có toàn quyền quyết định. Sự việc tranh chấp giữa các bên thì ông H6 không liên quan. Bà Y và bà T3 chỉ là người đang sinh sống tại vị trí đất tranh chấp. Hiện trên phần đất tranh chấp có mẹ chồng bà T3 là bà Nguyễn Thị M; vợ chồng ông Hà Trọng H6, Lê Thị Bích T3, con là Hà Minh K1 sinh năm 2018; vợ chồng ông Hà Trọng N1, bà Nguyễn Thị Kim Y, con ông N1 là cháu Hà Nguyên K2 đang sinh sống. Ngoài ra, không còn ai khác sinh sống tại vị trí đất tranh chấp.
Trong vụ án này, bà T3 và bà Y không có yêu cầu khởi kiện gì. Mọi ý kiến trình bày của ông H6 (kể cả có thay đổi, bổ sung) cũng là ý kiến trình bày của các bà.
Do bận công việc nên bà T3, bà Y đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt tại Tòa án các cấp. Đề nghị Tòa án sớm đưa vụ án ra xét xử, không quay lại thủ tục hòa giải, công khai chứng cứ nữa vì sự việc tranh chấp đã lâu, nhà hiện đã hư hỏng nặng nên cần sớm giải quyết vụ án để sửa chữa lại chỗ ở.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C5 có ý kiến trình bày như sau:
Văn phòng công chứng Trần Văn C3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Do bận công việc nên Văn phòng C5 xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án tại các cấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện Đ có ý kiến trình bày như sau:
Ông Trần Văn Đ2 là người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Đ. Do bận công việc nên ông Đ2 xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án tại các cấp.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2023/DS-ST ngày 08/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thị T đã chết (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Hà Thị T gồm bà Lý Thị L2, bà Lý Kim H, bà Trân Kim H1, ông Lý Minh C, ông Lý Minh Đ, ông Lý Minh K, ông Lý Minh P, ông Lý Minh H2, ông Tcheng H3 (L), ông Lý Minh C1) với bị đơn ông Hà Trọng H6 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất".
1.1. Buộc ông Hà Trọng H6, bà Nguyễn Thị M, ông Hà Trọng N1 có nghĩa vụ liên đới trả cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Hà Thị T gồm bà Lý Thị L2, bà Lý Kim H, bà Trần Kim H1, ông Lý Minh C, ông Lý Minh Đ, ông Lý Minh K, ông Lý Minh P, ông Lý Minh H2, ông Tcheng H3 (Lý Minh H4), ông Lý Minh C1 số tiền là 694.535.250 đồng (sáu trăm chín mươi bốn triệu năm trăm ba mươi lăm nghìn hai trăm năm mươi đồng).
1.2. Ông Hà Trọng H6, bà Nguyễn Thị M, ông Hà Trọng N1 được quyền sử dụng và được quyền kê khai đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất thuộc thửa đất số 174, diện tích đo đạc thực tế 1.758,3m² (diện tích theo giấy chứng nhận 1.794m²) loại đất ODT, tờ bản đồ số 11 và thửa đất số 38, diện tích đo đạc thực tế 148,8m² (diện tích theo giấy chứng nhận 120,4m²) loại đất TSN, tờ bản đồ số 11-3-2, đất cùng tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Các đương sự không được ngăn cản các bên thực hiện quyền của người được xác lập quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Toà án. Trường hợp các bên vi phạm việc sử dụng đất đã được xác định theo bản án, quyết định của Tòa án thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành án.
Bên có nghĩa vụ nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thu hồi, điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản án và quy định của pháp luật. Trường hợp không nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền, Cơ quan Tài nguyên môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thu hồi, chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng cho các bên đương sự theo kết quả giải quyết của bản án.
1.3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hà Thị T đã chết (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Hà Thị T gồm bà Lý Thị L2, bà Lý Kim H, bà Trần Kim H1, ông Lý Minh C, ông Lý Minh Đ, ông Lý Minh K, ông Lý Minh P, ông Lý Minh H2, ông Tcheng H3 (L), ông Lý Minh C1) với bị đơn ông Hà Trọng H6 đối với các yêu cầu sau:
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 629646 do Ủy ban nhân dân tỉnh L cấp cho ông Hà Văn N2 vào ngày 16/12/1998 đối với thửa đất số 174, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.794m², loại đất thổ, tờ bản đồ số 11, đất tọa lạc tại: thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 863147 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho ông Lâm Thế Q vào ngày 08/5/2006 đối với thửa đất số 38, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 120,4m², tờ bản đồ số 11-3-2, đất tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/4/2014 được xác lập giữa ông Lâm Thế Q và vợ là bà Giang Kim L1 cho ông Hà Trọng H6 và ông Hà Trọng N1 đối với thửa 38, diện tích diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 120,4m², tờ bản đồ số 11-3-2, đất tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An tại Văn phòng C6 (nay là Văn phòng C5).
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 635360, số BU 635361 đối với thửa đất số 38, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 120,4m², tờ bản đồ số 11-3-2, đất tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Hà Trọng N1 và ông Hà Trọng H6 ngày 04/7/2014.
- Buộc ông Hà Trọng N1, ông Hà Trọng H6, bà Nguyễn Thị M phải tháo dỡ nhà ở và trả cho những người thừa kế của bà Hà Thị T phần đất thửa đất số 174, diện tích đo đạc thực tế 1.758,3m² được thể hiện tại khu A (diện tích theo giấy là 1794m²), loại đất thổ, tờ bản đồ số 11 và thửa đất số 38, diện tích đo đạc thực tế là 148,8m² được thể hiện tại khu B (diện tích theo giấy là 120,4m²), tờ bản đồ số 11-3-2, đất cùng tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Mạnh H7 đối với ông Hà Trọng H6 về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của đương sự về việc:
- Ông Hà Trọng H6 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Hà Mạnh H7 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) là giá trị căn nhà tại vị trí nhà số F, diện tích 59,9m² thuộc một phần thửa 174, tờ bản đồ số 11, đất tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Ông Hà Trọng H6 được quyền sở hữu căn nhà tại vị trí nhà số F diện tích nhà 59,9m² thuộc một phần thửa 174, tờ bản đồ số 11, đất tọa lạc tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Buộc ông Hà Mạnh H7, bà Nguyễn Hoàng Tú A2, cháu Hà Khánh A3 có nghĩa vụ giao căn nhà tại vị trí nhà số F, diện tích nhà 59,9m² thuộc một phần thửa 174, tờ bản đồ số 11, đất tọa lạc tại: khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An cho ông Hà Trọng Hữu .
3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Hà Mạnh H7 về việc công nhận cho ông H7 phần diện tích đất thuộc một phần thửa 174, tờ bản đồ số 11, diện tích thực tế khuôn viên nhà tại vị trí nhà số F của ông H7 và con đường đi ra chiều ngang khoảng 01 mét, chiều dài khoảng 27 mét tọa lạc tại khu vực 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Vị trí, diện tích, loại đất, tài sản nêu trên theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 2015 của công ty trách nhiệm hữu hạn Đ3 vẽ ngày 16/10/2015).
2/. Về án phí dân sự phúc thẩm: Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Lý Kim L, bà Lý Kim H, ông Lý Minh H2, ông Lý Minh K, ông Lý Minh Đ, ông Lý Minh C, bà Trần Kim H1, ông Lý Minh P, ông Tcheng H3 (Lý Minh H4) mỗi người phải nộp án phí dân sự phúc thẩm: 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai thu lần lượt số 0000011, 0000012, 0000013, 0000014, 0000015, 0000016, 0000017, 0000018, 0000019 cùng ngày 22/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An là đủ.
3/. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Minh |
Bản án số 975/2024/DS-PT ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản
- Số bản án: 975/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Thị Th kiện Hà Trọng H "Tranh chấp quyền sử dụng đất....". Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
