Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 975/2023/HC-PT

Ngày: 14 - 11 - 2023

V/v: “Kiện quyết định hành chính trong

lĩnh vực thu hồi và bồi thường đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Cầu

Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Toàn

Ông Hoàng Minh Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đảm - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 550/2023/TLPT-HC ngày 11-8-2023 về “Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thu hồi và bồi thường đất”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 51/2023/HC-ST ngày 17-5-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1384/2023/QĐ-PT ngày 05 - 10 -2023, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Thành C và bà Phạm Thị T.

    Địa chỉ: Số C tổ A, Đường C tháng B, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (đều vắng mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Lê Văn K, sinh năm 1962. Địa chỉ: 1 Đường C tháng B, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

  2. Người bị kiện:
    1. Ủy ban nhân dân tỉnh B;
    2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B;

      Địa chỉ: Số A đường P, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin vắng mặt).

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phan Văn M - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B (có mặt).

    3. Ủy ban nhân dân thành phố V.

      Địa chỉ: Số H L, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin vắng mặt).

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phạm Huy L - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố V (có mặt).

* Người kháng cáo: Người bị kiện Ủy ban nhân dân tỉnh B và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Người khởi kiện và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:

Nguồn gốc tổng diện tích 31.891m² do gia đình ông C khai phá năm 1980 và nhận chuyển nhượng của ông Phạm Tiến bà Nguyễn Thị R, thực hiện nộp thuế đất nông nghiệp từ năm 1992-2011; thuế nhà đất (vị trí D, đường loại 3) từ ngày 05-11-1993 đến năm 2022. Diện tích đăng ký, được xét công nhận quyền sử dụng là 13.591m², diện tích xin đăng ký nhưng chưa được công nhận quyền sử dụng đất, vì cho rằng có liên quan đến Dự án 327 là: 18.300m². Toàn bộ diện tích 31.891m² đất ông C sử dụng bị Nhà nước thu hồi. Việc đền bù được thực hiện làm nhiều đợt với tổng diện tích được chấp nhận: 14.085m² còn lại diện tích không đền bù là: 17.806m² trong đó có 1.390m² thuộc thửa 274 tờ bản đồ số 47 và diện tích 288,3m² cho là đất đường đi. Ông C không đồng ý việc phê duyệt đền bù đợt 6.

Quá trình thu hồi và bồi thường, hỗ trợ đất đợt 6, như sau:

Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành các quyết định thu hồi đất: Quyết định số: 36/QĐ.UBT ngày 04-1-1997; Quyết định số: 37/QĐ.UBT ngày 04-01-1997; Quyết định số: 39/QĐ.UBT ngày 04-01-1997 và Quyết định số 456/QĐ.UBT ngày 08-3-1997 trong đó thu hồi đất của hộ ông C với tổng diện 7.751m².

Tại Quyết định số 903/QĐ-UB, đồng ý đền bù diện tích 7.462,7m² (có đền D 1.390m² thửa 274) số tiền 243.607.775 đồng. Diện tích 288,3m² không đền bù. Các cơ quan Nhà nước tạm giữ tiền không chi trả, chờ xác định diện tích đất đã được đền bù làm đường 51C. Sau khi xác minh lại cho là nằm trong đất tranh chấp.

Trước đây gia đình ông C xin công nhận quyền sử dụng đất (QSD đất) và đền bù đối với diện tích 1.390m²; 288,3m²; 9.446m². Vì các diện tích đất này đều có đủ điều kiện được đền bù, đồng thời yêu cầu chi trả số tiền còn giữ lại là 10% số tiền đền bù diện tích 4.300m² của thửa 132, số tiền đã được phê duyệt 243.607.775đ nhưng chưa chi trả. UBND tỉnh B có Văn bản 3448/UB-VP ngày 10-9-1999 cho phép chi trả số tiền 204.340.275đ là tiền đền bù của diện tích 6.072,7m² không liên quan đất Lâm nghiệp, không tranh chấp, nhưng các cơ quan Nhà nước không chỉ trả cho ông C.

Trên cơ sở xác minh của các cơ quan chức năng đã xác định số tiền 204.340.275đ đền bù diện tích đất 6.072,7m² cho ông C là hợp pháp, không có tranh chấp, không liên quan đến đất Lâm nghiệp. Do đó, ngày 27-12-2013 UBND tỉnh B ban hành Quyết định số: 2985/QĐ-UBND về việc hủy bỏ một phần Quyết định 903/1998/QĐ-UB. Với lý do: Ông C chưa nhận tiền đền bù. Như vậy trước khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực UBND tỉnh B-Tàu chưa có phương án phê duyệt kinh phí đền bù cho ông C.

Ngày 09-02-2017 Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 240/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của ông C với nội dung:

  • + Thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 2985/QĐ-UBND ngày 27-12-2013 của UBND tỉnh B về việc hủy bỏ một phần nội dung Quyết định số 903/1998/QĐ-UB.
  • + Công nhận yêu cầu bồi thường theo Quyết định số 903/1998/QĐ-UB, đã được phê duyệt kinh phí bồi thường nhưng chưa chi trả. Đồng ý bồi thường, hỗ trợ diện tích 6.072,7m² đất nông nghiệp do Nhà nước chưa thực hiện chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ 100% nhà và vật kiến trúc theo biên bản kiểm kê ngày 28/2/1997 và đồng ý giao 01 lô đất ở mới cho hộ ông Nguyễn Thành C.
  • + Bác các nội dung khiếu nại: Ông Nguyễn Thành C yêu cầu bồi thường diện tích 9.279 m² đất nhận khoán theo Chương trình 327, giao 04 lô đất tái định cư và các nội dung khiếu nại khác.

Gia đình ông C không đồng ý với Quyết định này vì:

  • + Quyết định số 240 giải quyết thiếu nhiều khoản hỗ trợ: Ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, di chuyển...mà gia đình ông C được hưởng theo quy định của pháp luật.
  • + Căn cứ Quyết định số 240, Chủ tịch UBND thành phố V ban hành Quyết định số 2541/QĐ-UBND; UBND thành phố V ban hành Quyết định số 2542/QĐ-UBND nên hai quyết định này cũng trái pháp luật, áp dụng giá không đúng pháp luật, không đền bù hoa màu tài sản; không đền diện tích 1.390m², 288,3m² không giao đất tái định cư, không xác định thực địa nên vị trí đất không chính xác. Tính toán thiếu các khoản hỗ trợ như: Trợ cấp di chuyển, ổn định đời sống, chuyển đổi ngành nghề. Riêng Quyết định số 2541/QĐ-UBND được ban hành không đúng thẩm quyền theo Điều 66, điểm a khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai 2013.

Từ những trình bày trên cho thấy các cơ quan Nhà nước có lỗi toàn bộ trong việc thu hồi, giao đất, phê duyệt, chi trả tiền đền bù. Do đó phải xác định tính toán bồi thường theo quy định hiện nay cho ông C. Về giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định hiện nay là giá đất cụ thể, tức là giá đất khảo sát trên thị trường.

Quá trình giải quyết vụ án ông C bà T có đơn xác nhận yêu cầu khởi kiện, thay đổi, bổ sung yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết như sau:

  1. Hủy nội dung thu hồi đất của ông C trong Danh sách thu hồi đất kèm theo các Quyết định thu hồi đất số 36/QĐ.UBT ngày 04-01-1997; Quyết định số 37/QĐ.UBT ngày 04-01-1997; Quyết định số 39/QĐ.UBT ngày 04-01-1997 và Quyết định số 456/QĐ.UBT ngày 08-3-1997 của UBND tỉnh B; Buộc UBND tỉnh ban hành các quyết định thu hồi đất mới.
  2. Hủy một phần Quyết định 240/QĐ-UBND ngày 09-02-2017 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Cụ thể: Hủy nội dung bồi thường, hỗ trợ diện tích 6.072,7m² tại khoản 1 Điều 2; hủy nội dung đồng ý giao 01 lô đất ở mới tại khoản 2 Điều 2; hủy nội dung bác khiếu nại bồi thường diện tích 1.390m², nội dung bác yêu cầu giao 05 lô đất tái định cư tại khoản 3 Điều 2; hủy Điều 3 của quyết định.
  3. Hủy một phần Quyết định 903/1998/QĐ-UB ngày 21-4-1998 của UBND tỉnh B cụ thể hủy nội dung đền bù tại mục STT 5 trong Bảng Tổng hợp kinh phí, và mục STT 5 trong Bảng chiết tính chi tiết đền bù kèm theo Quyết định 903/1998/QĐ-UB.
  4. Hủy 1 phần Văn bản 3448/UB-VP ngày 10-9-1999 của UBND tỉnh B-VT, cụ thể hủy nội dung tại STT 11 trong Bảng Tổng hợp chi trả kèm theo Văn bản 3448/UB-VP
  5. Hủy Quyết định 2541/QĐ-UBND ngày 22-5-2017 của Chủ tịch UBND thành phố V.
  6. Hủy Quyết định 2542/QĐ-UBND ngày 22-5-2017 của Ủy ban nhân dân thành phố V.
  7. Buộc cơ quan thẩm quyền thực hiện bồi thường và chính sách hỗ trợ đúng quy định pháp luật cho ông C và bà T đối với:
    • Diện tích 7.751,m² gồm: 6.072,7m² đất nông nghiệp được UBND tỉnh B chấp nhận đền bù nhưng áp dụng quy định bồi thường, hỗ trợ không đúng quy định; diện tích 288,3m² đất nông nghiệp chưa bồi thường thuộc các thửa 142 tờ bản đồ địa chính số 47, thửa 154, 158, tờ bản đồ địa chính số 45 Phường A, 1.390m² (gồm 230m² đất ở, 1.160m² đất nông nghiệp) chưa bồi thường thuộc thửa 274 tờ bản đồ địa chính số 47 Phường A;
    • Giá tính bồi thường là giá đất cụ thể ; vị trí đất theo vị trí thực tế;
    • Tính toán hỗ trợ cho ông C bà T theo quy định pháp luật.
    • Bố trí tái định cư: 1 suất; giao đất ở mới: 4 suất.

Tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện rút một phần yêu cầu khởi kiện, gồm:

  • Hủy nội dung thu hồi đất của ông Nguyễn Thành C trong Danh sách thu hồi đất kèm theo các Quyết định thu hồi đất số 36/QĐ.UBT ngày 04-1-1997; Quyết định thu hồi đất số 37/QĐ.UBT ngày 04-01-1997; Quyết định thu hồi đất số 39/QĐ.UBT ngày 04-01-1997 và Quyết định thu hồi đất số 456/QĐ.UBT ngày 08-3-1997 của UBND tỉnh B. Buộc Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành các quyết định thu hồi đất mới.
  • Buộc Ủy ban nhân dân tỉnh B bồi thường, hỗ trợ đối với: Diện tích 7.789m² đất nông nghiệp thuộc 1 phần thửa số 12, tờ bản đồ địa chính số D, Phường A, thành phố V. Diện tích đất của 10% tiền bồi thường tạm giữ theo biên bản chi trả ngày 19-02-1998. Bồi thường các khoản còn thiếu như: Hoa màu, tài sản.

Những vấn đề giữ nguyên yêu cầu khởi kiện:

  1. Hủy một phần Quyết định 240/QĐ-UBND ngày 09-02-2017 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Cụ thể: Tại khoản 1 Điều 2: hủy nội dung bồi thường hỗ trợ diện tích 6.072,7m²; hủy khoản 2: đồng ý giao 01 lô dát ở mới; Khoản 3: hủy nội dung bác khiếu nại bồi thường diện tích 1.390 m², nội dung bác yêu cầu giao 05 lô đất tái định cư; hủy Điều 3; Không giải quyết yêu cầu đền bù 288,3m² khi phê duyệt kinh phí tại Quyết định 903/1998/QĐ-UB;
  2. Hủy một phần Quyết định 903/1998/QĐ-UB ngày 21-4-1998 của UBND tỉnh B cụ thể: Hủy nội dung đền bù tại mục STT 5 trong Bảng Tổng hợp kinh phí, và mục STT 5 trong Bảng Chiết tính kèm theo Quyết định 903/1998/QĐ-UB.
  3. Hủy một phần Văn bản 3448/UB-VP của UBND tỉnh B-VT, cụ thể hủy nội dung tại STT 11 trong Bảng Tổng hợp chi trả kèm theo Văn bản 3448/UB-VP.
  4. Hủy Quyết định 2541/QĐ-UBND ngày 22-5-2017 của Chủ tịch UBND thành phố V.
  5. Hủy Quyết định 2542/QĐ-UBND ngày 22-5-2017 của Ủy ban nhân dân thành phố V.
  6. Buộc cơ quan thẩm quyền thực hiện bồi thường và chính sách hỗ trợ đúng quy định pháp luật cho ông C và bà T đối với:
    • Diện tích 7.751m² gồm: 6.072,7m² đất nông nghiệp UBND Tỉnh chấp thuận đền bù nhưng áp dụng giá không đúng pháp luật; diện tích 288,3m² đất nông nghiệp thuộc các thửa 142, tờ bản đồ địa chính số 47, thửa 154, 158 tờ bản đồ địa chính số 45 phường A; Diện tích 1.390m² thuộc thửa 274 (trong đó có 230m² đất ở, 1.160m² đất nông nghiệp) do chưa đền bù.
    • Giá tính bồi thường là giá đất cụ thể; Vị trí đất theo vị trí thực tế;
    • Tính toán các khoản hỗ trợ cho ông C bà T theo quy định pháp luật. Bố trí tái định cư: 01 suất; giao đất ở mới: 4 suất.

* Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người bị kiện là Ủy ban nhân dân tỉnh B và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B trình bày:

Qua xem xét nội dung khởi kiện của ông C và bà T, nhận thấy không có căn cứ pháp luật để chấp nhận, bởi những lý do như sau:

* Nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và quá trình thu hồi đất:

Diện tích đất ông C đăng ký sử dụng là: 13.591m², gồm:

  • - Thửa 154 (diện tích: 3.784m²), thửa 158 (diện tích: 3.055m²), tờ bản đồ số 45, Phường A, TP V do gia đình ông C khai phá từ năm 1980.
  • - Thửa 132 (diện tích: 4.300m²); thửa 142 (diện tích: 2.452m²), tờ bản đồ số 47, Phường A, thành phố V do nhận chuyển nhượng của ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị R từ năm 1984.
  • - Diện tích đất nhận khoán theo Chương trình 327: 18.300m² đất, lô bl lb khoảnh n bản đồ trồng rừng (trong đó có diện tích: 1.390m², thửa 274, tờ bản đồ số 47 không đăng ký sử dụng), với các loại giấy tờ sau:
    • + Hợp đồng khoán bảo vệ rừng, gây trồng rừng phòng hộ Bãi cát ven biển số 201/HĐK ký ngày 08-6-1995.
    • + Sơ đồ vị trí nhận khoán.
    • + Biên lai thuế sử dụng đất hàng năm từ năm 1993.
  • - Tổng diện tích đất thu hồi: 15.763,3m² gồm:
    • + Diện tích đất được bồi thường: 14.085m².
    • + Diện tích đất không bồi thường: 1.678,3m² gồm: (1.390m² đất do Lâm nghiệp quản lý và 288,3m² đất là đường đi công cộng hiện hữu).

* Việc thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ cho ông Nguyễn Thành C:

Lần thứ 1: Thu hồi 2.484m² đất (gồm: 684m² đất thuộc thửa 132, tờ bản đồ số 47 và 1.800m² đất thuộc thửa 154, tờ bản đồ số 45) để thi công đường 51C. Hộ ông C đã được đền bù và đã nhận đủ tiền đền bù theo Quyết định số 1001/QĐ-UB ngày 10-7-1993 của UBND Tỉnh.

Lần thứ 2: Thu hồi 3.604,3m², thửa 132, tờ bản đồ số 47 (diện tích này đang tranh chấp với hộ bà Nguyễn Thị R) để giao cho Công ty M1 sử dụng theo quy hoạch. Hộ ông C đã được đền bù và đã nhận 90% tiền đền bù (Tiểu ban chỉ đạo thu hồi đất thành phố V tạm giữ lại 10% tiền đền bù để thực hiện thủ tục truy thu thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế trước bạ và các khoản thu khác) theo Quyết định số: 173/QĐ-UB ngày 20-01-1998 của UBND tỉnh B.

Lần thứ 3: Thu hồi 1.924m² (thửa 154, tờ bản đồ số 45) để giao cho Công ty TNHH T2 sử dụng theo quy hoạch. Hộ ông C đã được bồi thường và đã nhận đủ tiền bồi thường theo Quyết định số: 784/QĐ-UB ngày 07-4-1998 của UBND tỉnh B.

Lần thứ 4: Thu hồi 7.751m² đất (gồm: 354m² đất thuộc thửa 154, tờ bản đồ số 45; 3.055m² đất thuộc thửa 158, tờ bản đồ số 45; 2.663,7m² đất thuộc thửa 142, tờ bản đồ số 47; 1.390m² đất thuộc thửa 274, tờ bản đồ số 47 và diện tích 288,3m² đất làm đường đi công cộng hiện hữu) đã được phê duyệt kinh phí bồi thường theo Quyết định số: 903/QĐ-UB ngày 21-4-1998 của UBND tỉnh B. Theo Tờ trình số: 07/TT-BCĐTHĐ ngày 11-01-2000 của Ban chỉ đạo thu hồi đất thì thửa 274, tờ bản đồ số 47, diện tích 1.390m² là đất không đăng ký sử dụng do ngành Lâm nghiệp quản lý và diện tích 288,3m² đất đường đi công cộng hiện hữu không được bồi thường.

Do đó, tại Công văn số: 3448/UB-VP ngày 10-9-1999 của UBND tỉnh B cho phép chi trả tiền bồi thường với diện tích 6.072,7m² đất (gồm thửa 154, 158, 142) với số tiền bồi thường, hỗ trợ là 204.340.275 đồng. Tại biên bản ngày 16-9-1999 về việc thực hiện chi trả tiền bồi thường cho các hộ thuộc công trình thu hồi giao đất cho Công ty M1 tại Phường A, TP V (theo chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số: 3448/UB-VP ngày 10-9-1999), trong đó có hộ Nguyễn Thành C nhưng các ban ngành thống nhất: “Đối với hộ Nguyễn Thành C, ngụ C Tổ A P, Phường A chưa tổ chức chi trả đền bù do có tranh chấp cá nhân về QSD đất với bà R (chồng là ông Phạm T1) số tiền là 204.340.275 đồng”.

Tuy nhiên, qua rà soát bản đồ địa chính thì phần đất trên không có tranh chấp mà phần đất tranh chấp là diện tích 3.604,3m², thuộc thửa 132, tờ bản đồ số 47 đã được UBND tỉnh B ban hành Quyết định phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ số 173/QĐ-UB ngày 20-01-1998 và ông Nguyễn Thành C đã nhận tiền bồi thường theo quyết định này.

Nhà và vật kiến trúc bị thu hồi nằm trên phần diện tích 1.678,3m² đất do ngành Lâm nghiệp quản lý theo biên bản kiểm kê ngày 28-02-1997 chưa nhận tiền bồi thường.

Hoa màu cây trái: Chủ hộ đã nhận tiền bồi thường.

* Kết quả xác minh cho thấy:

Ngày 29-9-2016, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B có Tờ trình số: 3915/TTr-STNMT báo cáo, đề xuất với UBND tỉnh:

  • - Về diện tích 9.279m² đất nhận khoán bảo vệ rừng, gây trồng rừng phòng hộ theo dự án 327 (trong đó có diện tích: 1.390m² thửa 274, tờ bản đồ số 47):
  • Đây là phần đất nhận khoán theo chương trình 327, do ngành Lâm nghiệp quản lý, ông C không đăng ký sử dụng và nằm ngoài các quyết định thu hồi đất của hộ ông C. Do đó, căn cứ Điều 6 và Điều 7 của Quyết định số 970/QĐ-UBT ngày 17-8-1995 của UBND tỉnh B quy định: “không bồi thường diện tích đất không đăng ký sử dụng” thì nội dung yêu cầu nêu trên của ông C là không có cơ sở để chấp nhận.
  • Việc ông C đề nghị bồi thường diện tích đất của 10% tiền bồi thường (đã được phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ tại Quyết định số 173/QĐ-UB ngày 20-01-1998 của UBND tỉnh B) mà Tiểu ban chỉ đạo thu hồi đất TP V tạm giữ theo biên bản chi trả ngày 19-02-1998 theo giá hiện hành: Hiện nay, U đang giải quyết tranh chấp phần diện tích đất này giữa Ông C với bà Nguyễn Thị R. Vì vậy, đề nghị ông C chờ kết quả giải quyết để chi trả đúng người được thụ hưởng.
  • Việc ông C đề nghị bồi thường tại Quyết định số 903/1998/QĐ-UB ngày 21-4-1998 của UBND tỉnh B.
  • Không có căn cứ để bồi thường diện tích 230m² đất ở thuộc thửa 274, tờ bản đồ số 47 vì nhà xây dựng trên thửa đất không đăng ký sử dụng do Lâm nghiệp quản lý.
  • Về nhà và vật kiến trúc do công trình xây dựng trên phần diện tích 1.390m² đất không đủ điều kiện bồi thường đất do Lâm nghiệp quản lý, theo quy định tại khoản d Điều 15 Quyết định số: 970/QĐ-UBT ngày 17-8-1995 của UBND tỉnh B thì không được bồi thường.
  • Tuy nhiên, để tạo điều kiện có nơi ở cho hộ ông C, chấp nhận hỗ trợ 100% nhà và vật kiến trúc theo biên bản kiểm kê ngày 28-02-1997; không bồi thường, hỗ trợ nhà vật kiến trúc phát sinh sau thời gian kiểm kê ngày 28-02-1997.
  • Như vậy, việc ông C đề nghị bồi thường diện tích: 6.072,7m² đất nông nghiệp là không có cơ sở chấp nhận.

- Về đề nghị giao 01 lô đất tái định cư và 04 lô đất ở mới (04 con đã lập gia đình):

  • + Không chấp nhận giao đất ở tái định cư vì nhà ở xây dựng trên đất do ngành Lâm nghiệp quản lý nên không đủ điều kiện giao đất tái định cư theo quy định tại Quyết định số 970/QĐ-UBT ngày 17-8-1995 của UBND tỉnh B.
  • + Chấp nhận giao đất ở mới cho gia đình ông Nguyễn Thành C do có khó khăn về chỗ ở và có nhu cầu về đất ở. U căn cứ vào quỹ đất ở và tình hình thực tế tại địa phương, quyết định số lượng lô đất ở được giao khoản 2, Điều 22 Quyết định 52/2014/QĐ-UBND ngày 31-10-2014 của UBND tỉnh B.

- Việc lập phương án hồi thường, hỗ trợ, tái định cư:

  • + Việc huỷ bỏ Quyết định 2985/QĐ-UBND ngày 27-12-2013 của UBND tỉnh B về việc huỷ bỏ một phần nội dung Quyết định 903/1998/QĐ-UB ngày 21-4-1998 của UBND tỉnh B (huỷ tên ông Nguyễn Thành C và các mục bồi thường, hỗ trợ trong Quyết định 903/1998/QĐ-UB) là đúng quy định.
  • + UBND tỉnh B đã áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại thời điểm ban hành Quyết định số 903/1998/QĐ-UB ngày 21-4-1998 của UBND tỉnh B về việc phê duyệt kinh phí đền bù và trợ cấp cho 60 hộ, thuộc khu vực Phường A, Phường A thành phố V phải giải tỏa, giao đất cho Công ty M1 sử dụng để thanh toán số tiền mà Công ty đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (đợt 6).
  • + Đơn giá bồi thường đất: chính sách bồi thường tại thời điểm phê duyệt kinh phí bồi thường quy định tại Quyết định số: 970/QĐ-UBT ngày 17-8-1995 của UBND tỉnh B, khoản 1 Điều 12 quy định “Đất nông nghiệp sử dụng hợp pháp nếu bị Nhà nước thu hồi để xây dựng các dự án quy hoạch, khi đền bù ngoài việc áp dụng theo bảng giá các loại đất tại quyết định 01/QĐ-UBT ngày 17-01-1995 còn được xét để trợ cấp thêm cho việc di chuyển và thay đổi ngành nghề của hộ có đất bị thu hồi một khoản tiền bằng 40% tiền chuyển mục đích sử dụng đất tỉnh trên diện tích đất thu hồi”. Nên UBND tỉnh B tính giá đất bồi thường theo bảng giá do UBND tỉnh quy định hiện hành và hỗ trợ 40% tiền chuyển mục đích sử dụng đất ở tính trên diện tích đất thu hồi.

Nội dung vụ việc đã được UBND tỉnh tổ chức họp và có kết luận tại Thông báo số: 598/TB-UBND ngày 04-11-2016.

Ông Nguyễn Thành C thống nhất với các nội dung giải quyết tại mục số 2 và 4 của Tờ trình nêu trên; đối với nội dung 1 và 3, hộ ông Nguyễn Thành C không đồng ý, tuy nhiên ông C không đưa ra được tình tiết nào mới làm thay đổi nội dung vụ việc.

Như vậy, việc ông C yêu cầu thu hồi hủy bỏ các Quyết định nêu trên của UBND tỉnh B là không có cơ sở để chấp nhận.

Đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C và bà Phạm Thị T.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 51/2023/HC-ST ngày 17-5-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định:

Áp dụng Khoản 1 Điều 75 Luật Đất Đai; Khoản 1, khoản 2 Điều 6, Điều 13, khoản 4 Điều 34 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ; Điều 4 Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ban hành kèm theo Quyết định số 19/2022/QĐ-UBND ngày 23-9-2022 của UBND tỉnh B. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C và bà Phạm Thị T:
    • Hủy một phần Quyết định số 240/QĐ-UBND ngày 09-02-2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B. Cụ thể: Hủy nội dung bồi thường, hỗ trợ diện tích 6.072,7m² tại khoản 1 Điều 2; hủy nội dung đồng ý giao 01 lô đất ở mới tại khoản 2 Điều 2; hủy nội dung bác khiếu nại bồi thường diện tích 1.390m², nội dung bác yêu cầu giao 05 lô đất tái định cư tại khoản 3 Điều 2; hủy Điều 3 của quyết định này.
    • Hủy Quyết định số 2541/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V, về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Thành C.
    • Quyết định số 2542/QĐ-UBND ngày 22-5-2017 của Ủy ban nhân dân thành phố V, về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung giải quyết khiếu nại của ông (bà) Nguyễn Thành C.
    • Hủy một phần Quyết định số 903/1998/QĐ-UB ngày 21-4-1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh B; cụ thể hủy nội dung STT 5 trong “Bảng tổng hợp kinh phí đền bù công trình thu hồi, giao đất cho công ty TNHH M1 (Đ) tại khu vực Phường A, Phường A thành phố V và nội dung STT 5 trong “Bảng chiết tính chi tiết công trình thu hồi, giao đất cho công ty TNHH M1 tại khu vực Phường A, Phường A thành phố V (Đợt 6) ký ngày 16 tháng 4 năm 1988 (kèm theo Tờ trình số 372/TT-UB ngày 17-4-1998 của UBND thành phố V) kèm theo quyết định số 903/1998/QĐ-UB ngày 21-4-1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh B”.
    • Hủy một phần Văn bản số 3448/UB-VP ngày 10-9-1999 của Ủy ban nhân dân tỉnh B “Vv giải quyết chi trả tiền đền bù đối với đất không thuộc ngành lâm nghiệp quản lý tại Phường A, Phường A thành phố V”, cụ thể hủy nội dung STT 11 trong “Bảng tổng hợp chi trả tiền đền bù cho số hộ sử dụng đất tại khu vực P 11 được xác định không liên quan đến đất do lâm nghiệp quản lý” kèm theo Công văn này.
    • Buộc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền bồi thường diện tích 7.751m² đất thu hồi của hộ ông Nguyễn Thành C, gồm đất nông nghiệp và đất ở tại Phường A thành phố V; xác định giá đất cụ thể để bồi thường; xác định vị trí đất thu hồi; bố trí tái định cư, các khoản hỗ trợ khi thu hồi đất và xem xét giao đất ở mới cho hộ ông Nguyễn Thành C theo đúng quy định pháp luật.
  2. Đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu của ông Nguyễn Thành C, bà Phạm Thị T sau đây:
    • Hủy nội dung thu hồi đất của ông Nguyễn Thành C trong Danh sách thu hồi đất kèm theo các Quyết định thu hồi đất số 36/QĐ.UBT ngày 04-1-1997; Quyết định thu hồi đất số 37/QĐ.UBT ngày 04-01-1997; Quyết định thu hồi đất số 39/QĐ.UBT ngày 04-01-1997; Quyết định thu hồi đất số 456/QĐ.UBT ngày 08-3-1997 của UBND tỉnh B. Buộc Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành các quyết định thu hồi đất mới.
    • Buộc Ủy ban nhân dân tỉnh B bồi thường, hỗ trợ đối với: Diện tích 7.789m² đất nông nghiệp thuộc 1 phần thửa số 12, tờ bản đồ địa chính số D, Phường A, thành phố V. Diện tích đất của 10% tiền bồi thường tạm giữ theo biên bản chi trả ngày 19-02-1998. Bồi thường các khoản còn thiếu như: Hoa màu, tài sản.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm xong, người bị kiện Chủ tịch và Ủy ban nhân dân tỉnh B kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện cho rằng người bị kiện không xuất trình được chứng cứ gì mới nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo người bị kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thành C, bà Phạm Thị T với lý do: Bản án sơ thẩm chưa nhận định đúng với những tình tiết khách quan của vụ án, nội dung tuyên xử của bản án gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần Bản án hành chính sơ thẩm số 51/2023/HC-ST ngày 17-5-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ, lời trình bày của đương sự, thấy rằng Bản án hành chính sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu của người khởi kiện ông Nguyễn Thành C, bà Phạm Thị T để hủy một phần Quyết định số 240/QĐ-UBND ngày 09-02-2017 của Chủ tịch UBND tỉnh B; hủy một phần Quyết định 903/1998/QĐ-UB ngày 21-4-1998 của UBND tỉnh B; hủy một phần Văn bản 3448/UB-VP và hủy một số quyết định hành chính khác là đúng pháp luật. Việc Chủ tịch và Ủy ban nhân dân tỉnh B kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người bị kiện Chủ tịch và Ủy ban nhân dân tỉnh B. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên “Buộc UBND cấp có thẩm quyền bồi thường đủ diện tích 7.751m² đất thu hồi của ông C, bà T (gồm đất nông nghiệp và đất ở) theo đúng quy định pháp luật” là không đúng. Cần chỉnh sửa lại - tuyên “UBND cấp có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ, công vụ đối với việc bồi thường cho ông Nguyễn Thành C, bà Phạm Thị T theo quy định pháp luật mới chính xác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; thẩm tra công khai tại phiên tòa; nghe ý kiến trình bày của đương sự; quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, xét thấy:

[1] Quá trình tố tụng: Ông Nguyễn Thành C, bà Phạm Thị T rút yêu cầu hủy nội dung thu hồi đất trong Danh sách thu hồi đất kèm theo các Quyết định thu hồi đất số 36/QĐ.UBT ngày 04-01-1997; số 37/QĐ.UBT ngày 04-01-1997; số 39/QĐ.UBT ngày 04-01-1997 và số 456/QĐ.UBT ngày 08-3-1997 của UBND tỉnh B; ban hành quyết định thu hồi đất mới đối với ông C, bà T. Đồng thời, rút yêu cầu buộc UBND tỉnh B bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích 7.789m² đất nông nghiệp thuộc 1 phần thửa số 12, tờ bản đồ địa chính số D, Phường A, thành phố V; diện tích đất của 10% tiền bồi thường tạm giữ theo Biên bản chi trả ngày 19-02-1998; bồi thường các khoản còn thiếu như: Hoa màu, tài sản. Đây là sự tự nguyện của ông C, bà T không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội nên Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đình chỉ giải quyết là đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của Chủ tịch UBND và UBND tỉnh B: Nguồn gốc đất tranh chấp nằm trong diện tích 31.891m² đất của ông Nguyễn Thành C, bà Phạm Thị T do khai phá và nhận chuyển nhượng từ ông Phạm T1, bà Nguyễn Thị R, đất liên quan đến Dự án 327 (trong đó, 13.591m² được công nhận quyền sử dụng đất, còn lại chưa được công nhận quyền sử dụng đất-18.300m²). Hộ ông C bị Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên và Nhà nước thực hiện bồi thường làm nhiều đợt nhưng ông C không được bồi thường đủ diện tích đất bị thu hồi nên đã khởi kiện. Sau khi phân tích, xem xét khách quan Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông C, bà T là đúng, bởi lẽ:

[2.1] Việc bồi thường, hỗ trợ cho ông C, bà T: Ủy ban nhân dân tỉnh B đã ban hành các Quyết định ( số 36/QĐ.UBT, số 37/QĐ.UBT, số 39/QĐ.UBT, số 456/QĐ.UBT ngày 08-3-1997) thu hồi 40.000m² đất tại khu vực C, Phường A, thành phố V và giao diện tích đất trên cho Công ty M1 (1997). Ngày 21-4-1998, UBND tỉnh B ban hành Quyết định 903/1998/QĐ-UB về việc phê duyệt kinh phí đền bù và trợ cấp cho 60 hộ, thuộc khu vực Phường A, 11 thành phố V. Tổng diện tích đất mà ông C, bà Trừ bị thu hồi là 15.763,3m², trong đó: Diện tích đất được bồi thường: 14.085m²; diện tích đất không được bồi thường là 1.678,3m² (gồm 1.390m² và 288,3m² đất (đường đi công cộng). Sau khi đơn có khiếu nại của ông C, bà T, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 2985/QĐ-UBND ngày 27-12-2013 về hủy bỏ một phần nội dung Quyết định số 903/1998/QĐ-UB, đó là hủy bỏ phần số thứ tự 5 trong “ Bảng tổng hợp kinh phí đền bù công trình thu hồi, giao đất cho Công ty M1 (đợt 6) tại khu vực Phường A, 11 thành phố V” và nội dung số thứ tự 5 trong “Bảng chiết tính công trình thu hồi giao đất cho Công ty M1 tại Phường A, Phường A Tp V (đợt 6)” cùng năm 1998 với lý do: Ông Nguyễn Thành C chưa nhận tiền bồi thường và các cơ quan chức năng chưa tổ chức chi trả cho ông Nguyễn Thành C; đã nộp vào Kho bạc Nhà nước từ ngày 25-5-2001; không giữ lại để sử dụng cho mục đích nào khác. Ngày 09-02-2017, Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định 240/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Thành C chấp nhận một phần đơn khiếu nại (Quyết định số 2541/QĐ-UBND và Quyết định 2542/QĐ-UBND về phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung giải quyết khiếu nại của ông C). Theo đó, hộ ông C, bà T được phê duyệt, bồi thường 6.072,7m² đất nông nghiệp (thuộc các thửa 142; 154; 158) trong tổng số 7.751m² đất thu hồi theo Quyết định 903/1998/QĐ-UB đã được bồi thường, còn lại là diện tích không được bồi thường. Như vậy, UBND các cấp của tỉnh đã phải điều chỉnh, bổ sung các quyết định hành chính nêu trên nhưng hộ ông C vẫn chưa được bồi thường, hỗ trợ toàn bộ diện tích đất bị thu hồi trong khi ông C có nhiều tài sản gắn liền với đất là không đúng theo quy định pháp luật.

[2.2] Đối với đất không được bồi thường có diện tích 1.390m² thuộc thửa 274, tờ bản đồ số 47: Như phân tích ở phần [2], hộ gia đình ông C sử dụng đất ổn định từ năm 1980 và xây dựng nhà ở thuộc một phần của thửa 274, diện tích 1.390m² cho đến nay (Phiếu kiểm tra ngày 03-01-2007, Biên bản kiểm kê ngày 28-02-1997; Quyết định số 903/1998/QĐ-UB). Theo sổ hộ khẩu gia đình thì hộ ông C nhập khẩu ngày 30-9-1991 tại địa chỉ 33, tổ A, ấp P, Phường A, thành phố V. Ông C đã đóng thuế từ năm 1993 và có 300m² đất ở đô thị (Văn bản 557). Ngày 08-6-1995, ông C ký Hợp đồng khoán trồng rừng, bảo vệ rừng phòng hộ bãi cát ven biển số 201/HĐK với Dự án 732 có tổng diện tích 1,83 ha. Mặc khác, Biên bản thanh lý Hợp đồng số 01/BBTL ngày 20-3-1998 thì ông C có trồng mới rừng phi lao năm 1995: 1,56 ha và chăm sóc 2 năm rừng phi lao năm 1996: 1,56 ha. Phần đất 0,27 ha là nhà và đất trước đây gia đình ông C đã khai phá, sử dụng (trước khi có dự án 327). Đồng thời, UBND thành phố V có Công văn số 1910/UBND-TNMT ngày 06-10-2008 về việc giao đất cho chủ dự án theo chương trình 327 để triển khai thực hiện việc giao khoán lại cho hộ gia đình, cá nhân trồng rừng mới nhằm phủ xanh đất trống, đồi núi trọc theo chính sách của Nhà nước. Điều đó thể hiện phần diện tích đất 1.390m² đủ điều kiện để được bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nhưng UBND thành phố V không chấp nhận bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông C là trái quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Đất Đai và Điều 13 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ.

[2.3] Đối với diện tích đất 288,3m²: Căn cứ bản đồ thu hồi đất kèm theo các Quyết định số 36/QĐ.UBT ngày 04-01-1997 (A62), số 37/QĐ.UBT ngày 04-01-1997 (A61), số 39/QĐ.UBT ngày 04-01-1997 (A63), số 456/QĐ.UBT ngày 08/03/1997 (A105) của UBND tỉnh B thì tổng diện tích đất của ông C bị thu hồi là 7.751m². Tại Danh sách thu hồi đất kèm theo các Quyết định trên thì diện tích 288,3m² thể hiện là “đất chuyên dùng” và “đường” trong bản đồ thu hồi đất được ghi rõ ở các thửa đất như Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định. Như phân tích ở trên, Quyết định số 903/1998/QĐ-UB xác định đất thu hồi của ông C là 7.751m², đồng ý đền bù 7.462,7m², trong đó UBND đồng chấp nhận đền bù thửa 142 là 2.663,7m², UBND không chấp nhận bồi thường, hỗ trợ 288,3m² đất là không đúng. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C.

[3] Đối với yêu cầu xác định giá đất bồi thường:

Giá đất được tính toán bồi thường cho hộ ông C được UBND tỉnh B áp dụng theo Bảng giá các loại đất định kỳ 05 năm (2014-2019), ban hành kèm theo Quyết định số 65/QĐ-UBND ngày 19-12-2014 của UBND tỉnh B. Trước và trong cùng thời điểm hộ ông C được phê duyệt kinh phí bồi thường về đất bị thu hồi (năm 2017), đơn giá đất cụ thể được phê duyệt cho các dự án, công trình trên địa bàn thành phố V có sự chênh lệch so với giá đất hàng năm theo Quyết định số 65 (Quyết định số 2049/QĐ-UBND ngày 29-7-2016 thì giá đất nông nghiệp là 6.072.000đ/m², giá đất ở: 22.072.000đ/m²; bảng giá theo Quyết định số 65 thì giá đất nông nghiệp thuộc đường loại 2 - VT1 là 158.000đ/m², giá đất ở là 10.920.000đ/m²; Quyết định số 2925/QĐ-UBND ngày 26-10-2016 và Quyết định số 2508/QĐ-UBND ngày 05-9-2017 cũng chênh lệch nhiều). Qua đó, cho thấy định giá của cơ quan có thẩm quyền và giá đất được phê duyệt cho các dự án thì giá đất nông nghiệp và giá đất ở tại các địa bàn trong thành phố V cao hơn nhiều lần bảng giá đất do UBND tỉnh ban hành, không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người có đất bị thu hồi.

Sau đó, ngày 22-5-2017, Chủ tịch và UBND thành phố V lần lượt ban hành Quyết định số 2541/QĐ-UBND, Quyết định số 2542/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và bổ sung khoản bồi thường, hỗ trợ cho ông C theo Quyết định giải quyết khiếu nại số 240 trên. Điều này làm chậm chi trả bồi thường cho người có đất bị thu hồi, ảnh hưởng đến quyền lợi của hộ ông C trong việc nhận giá trị bồi thường, hỗ trợ về đất nên cần xem xét tính lại giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm ban hành quyết định mới về phương án bồi thường, hỗ trợ. Trước đó, ngày 27-12-2013, UBND tỉnh B cũng ban hành Quyết định số 2985/QĐ-UBND về việc hủy bỏ việc đền bù cho ông C tại Quyết định 903/1998/QĐ-UB. Như vậy, trước khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực UBND tỉnh B- Tàu có phương án phê duyệt kinh phí đền bù cho ông C nhưng sau đó bị hủy bỏ là không đúng quy định pháp luật (khoản 4 Điều 34 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ).

[4] Đối với yêu cầu về cấp đất tái định cư và giao đất ở mới: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa phúc thẩm người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị kiện thừa nhận hộ ông C bị thu hồi toàn bộ đất nông nghiệp và đất ở là 230m², nhưng chỉ đồng ý bố trí 01 lô tái định cư khoảng 100m² cho ông C (trong khi hộ gia đình ông C có rất nhiều thành viên trưởng thành đã xây dựng gia đình nhỏ còn chung sống trên đất bị thu hồi) là không đúng. Cần thiết áp dụng chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Quyết định số 11/2020/QĐ-UBND ngày 19-6-2020, Quyết định số 25/QĐ-UBND ngày 18-6-2016 (Sửa đổi, bổ sung Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND ngày 31-10-2014) được thay thế bởi Quyết định số 19/2022/QĐ-UBND ngày 23-9-2022 của UBND tỉnh B và tinh thần của Nghị định số 47/2014/QĐ-CP của Chính phủ quy định về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở với nguyên tắc bảo đảm cuộc sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.

[5] Đối với yêu cầu về vị trí lô đất tái định cư và các yêu cầu còn lại:

Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích khách quan vị trí thể hiện tại Quyết định số 2541/QĐ-UBND, Văn bản số 3448/UB-VP ngày 10-9-1999 của UBND tỉnh B chỉ đạo chi trả tiền bồi thường cho ông C. Tuy nhiên tại số thứ tự trong Bảng tổng hợp chi trả đền bù (kèm theo) xác định việc tính toán đền bù là “tạm tính”, không đền bù 1.390m² là trái với Quyết định số 903/1998/QĐ-UB nên phải hủy bỏ phần nội dung này.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định hủy Quyết định số 2542/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung giải quyết khiếu nại của ông C theo Quyết định giải quyết khiếu nại số 240 làm chậm chi trả bồi thường, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của hộ ông C trong việc nhận giá trị bồi thường, hỗ trợ về đất nhưng lại không đề cập rõ nên Hội đồng điều chỉnh lại cho phù hợp.

Từ phân tích trên, không có cơ sở chấp nhận đơn kháng cáo của người bị kiện Ủy ban nhân dân tỉnh B. Chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hủy một phần các quyết định hành chính của người bị kiện. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Về án phí:

Đơn kháng cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh B và Chủ tịch Ủy ban nhân dân và tỉnh B không được chấp nhận nên phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ nêu trên;

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Bộ Luật tố tụng hành chính năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện Ủy ban nhân dân tỉnh B và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B. Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 51/2023/HC-ST ngày 17-5-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    Tuyên xử:

    Áp dụng Khoản 1 Điều 75 Luật Đất Đai; Khoản 1 và khoản 2 Điều 6, Điều 13, khoản 4 Điều 34 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ; Điều 4 của Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ban hành kèm theo theo Quyết định số 19/2022/QĐ-UBND ngày 23-9-2022 của UBND tỉnh B.

    Căn cứ Điều 29 Luật tố tụng hành chính 2015; khoản 2 Điều 30; khoản 1 Điều 34 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án

    Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C và bà Phạm Thị T:

    • - Hủy một phần Quyết định số 240/QĐ-UBND ngày 09-02-2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B. Cụ thể: Hủy nội dung bồi thường, hỗ trợ diện tích 6.072,7m² tại khoản 1 Điều 2; hủy nội dung đồng ý giao 01 lô đất ở mới tại khoản 2 Điều 2; hủy nội dung bác khiếu nại bồi thường diện tích 1.390m², nội dung bác yêu cầu giao 05 lô đất tái định cư tại khoản 3 Điều 2; hủy Điều 3 của quyết định này.
    • - Hủy Quyết định số 2541/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V, về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Thành C.
    • - Hủy Quyết định số 2542/QĐ-UBND ngày 22-5-2017 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung giải quyết khiếu nại của ông (bà) Nguyễn Thành C.
    • - Hủy một phần Quyết định số 903/1998/QĐ-UB ngày 21-4-1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh B; cụ thể hủy nội dung STT 5 trong “Bảng tổng hợp kinh phí đền bù công trình thu hồi, giao đất cho công ty TNHH M1 (Đ) tại khu vực phường A, Phường A thành phố V và nội dung STT 5 trong “Bảng chiết tính chi tiết công trình thu hồi, giao đất cho công ty TNHH M1 tại khu vực Phường A, Phường A thành phố V (Đợt 6) ký ngày 16/4/1988 (kèm theo Tờ trình số 372/TT-UB ngày 17-4-1998 của UBND thành phố V) kèm theo quyết định số 903/1998/QĐ-UB ngày 21-4-1998 của Ủy ban nhân dân tỉnh B”.
    • - Hủy một phần Văn bản số 3448/UB-VP ngày 10-9-1999 của Ủy ban nhân dân tỉnh B “V/v giải quyết chi trả tiền đền bù đối với đất không thuộc ngành lâm nghiệp quản lý tại Phường A, Phường A thành phố V”, cụ thể hủy nội dung số thứ tự 11 trong “Bảng tổng hợp chi trả tiền đền bù cho số hộ sử dụng đất tại khu vực phường A được xác định không liên quan đến đất do lâm nghiệp quản lý” kèm theo Công văn này.
    • - Buộc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ, công vụ đối với việc bồi thường diện tích 7.751m² đất thu hồi của hộ ông Nguyễn Thành C, gồm đất nông nghiệp và đất ở tại Phường A thành phố V; xác định giá đất cụ thể để bồi thường; xác định vị trí đất thu hồi; bố trí tái định cư, các khoản hỗ trợ khi thu hồi đất và xem xét giao đất ở mới cho hộ ông Nguyễn Thành C theo đúng quy định pháp luật.
  2. Đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu của ông Nguyễn Thành C, bà Phạm Thị T sau đây:
    • - Hủy nội dung thu hồi đất của ông Nguyễn Thành C trong Danh sách thu hồi đất kèm theo các Quyết định thu hồi đất số 36/QĐ.UBT ngày 04-1-1997; Quyết định thu hồi đất số 37/QĐ.UBT ngày 04-01-1997; Quyết định thu hồi đất số 39/QĐ.UBT ngày 04-01-1997 và Quyết định thu hồi đất số 456/QĐ.UBT ngày 08-3-1997 của UBND tỉnh B. Buộc Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành các quyết định thu hồi đất mới.
    • - Buộc Ủy ban nhân dân tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật đối với yêu cầu bồi thường, hỗ trợ đối với: Diện tích 7.789m² đất nông nghiệp thuộc 1 phần thửa số 12, tờ bản đồ địa chính số D, Phường A, thành phố V. Diện tích đất của 10% tiền bồi thường tạm giữ theo biên bản chi trả ngày 19-02-1998. Bồi thường các khoản còn thiếu như: Hoa màu, tài sản.
  3. Về án phí:

    Ủy ban nhân dân tỉnh B và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B mỗi người phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm mỗi người đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai lần lượt số 0006069 và số 0006070 cùng ngày 15-6-2023 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ủy ban nhân dân tỉnh B và Chủ tịch Ủy ban nhân dân và tỉnh B đã nộp đủ án phí.

Các Quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (14 - 11 -2023)./.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Lê Thúy Cầu

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. HCM;
  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Cục THA DS tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Đương sự;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án (UMTT).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 975/2023/HC-PT ngày 14/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thu hồi và bồi thường đất

  • Số bản án: 975/2023/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực thu hồi và bồi thường đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger