TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 973/2024/HC-PT Ngày: 10 - 9 - 2024 V/v “Khởi kiện quyết định hành chính về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Toàn
Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 291/2024/TLPT-HC ngày 15 tháng 3 năm 2024 về việc “Khởi kiện quyết định hành chính về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 177/2023/HC-ST ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2182/2024/QĐPT ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968 và ông Trần T1, sinh năm 1965. Cùng địa chỉ thường trú: khu phố Q, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Địa chỉ liên hệ: số B Đường T, tổ A, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số B T, tổ A, khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có mặt.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thị xã P; Địa chỉ: Quốc lộ E, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T2 - Chủ tịch UBND, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Võ Mạnh H – Phó Trưởng
phòng Tài nguyên và Môi trường, vắng mặt; ông Phạm Hoàng V - Chuyên viên Phòng T5, có mặt; ông Phạm Doãn N – Trưởng phòng nghiệp vụ Trung tâm phát triển quỹ đất, vắng mặt; bà Hồ Thị Kim A – Chuyên viên Trung tâm phát triển quỹ đất, vắng mặt; ông Lê Thành T3 – Chủ tịch UBND phường P, vắng mặt; ông Tô Văn Q - Công chức Địa chính - Xây dựng - Đô Thị - Môi trường phường P, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, phía người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung như sau:
- - Hủy Quyết định số 1210/QĐ-UBND ngày 07/07/2022 của UBND thị xã P về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông Trần T1 và bà Nguyễn Thị T, địa chỉ: khu phố Q, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để thu hồi đất giao cho Ban QLDA Đầu tư Xây dựng thị xã P đầu tư xây dựng dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư P, phường P, thị xã P (Đ);
- - Buộc UBND thị xã P phải xác định lại vị trí đất của gia đình bà T bị thu hồi là thuộc vị trí 5, đường T;
- - Buộc UBND thị xã P phải khảo sát lại giá để tính bồi thường cho gia đình bà T;
- - Buộc UBND thị xã P phải đồng ý cho gia đình bà Thu m 01 lô đất ở trong khu tái định cư P, theo bảng giá Nhà nước.
Căn cứ để yêu cầu:
Vợ chồng ông bà Nguyễn Thị T, Trần T1 là chủ sử dụng 02 thửa đất số 112 tờ bản đồ 03 và thửa 580 tờ bản đồ 12. Tổng diện tích đất nông nghiệp, bị thu hồi để làm dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư P, phường P, thị xã P (Đ) là 2.559m².
Ngày 07/07/2022, UBND thị xã P ra Quyết định phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ số 1210/QĐ-UBND với mức giá bồi thường về đất là 1.308.000đ/m².
Theo Quyết định số 2798/QĐ-UBND ngày 15/9/2020 của UBND tỉnh B về việc phê duyệt giá đất cụ thể để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư P, phường P, thị xã P; đơn giá 1.308.000 đồng/m² được áp dụng cho đất nông nghiệp thuộc vị trí 5 của đường phía Đông khu tái định cư 44ha và những tuyến đường nhựa, bê tông có chiều rộng từ 4m trở lên. Tuy nhiên, thửa đất của bà T nằm gần đường T hơn đường Đ và những con đường nhựa, bê tông 4m trở lên khác. Cụ thể: thửa 580 tờ bản đồ 12 cách đường 81 nối tiếp (đường T) khoảng 160m và cách đường Đ khu tái định cư 44ha hơn 300m, thửa 112 tờ bản đồ 03 cách đường T khoảng 140m và cách đường nhựa >4m gần nhất (đường N 8m) khoảng 150m. Như vậy, UBND phải áp dụng mức giá bồi thường theo đơn giá đất nông nghiệp thuộc vị trí 5 của đường T, tương đương 1.400.000 đồng/m².
Ngoài ra, giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư P, phường P quy định tại Quyết định số
2798/QĐ-UBND ngày 15/09/2020 là quá thấp so với giá thị trường cũng như so với giá bồi thường những khu vực khác không phải khu vực trung tâm như phường P.
Hiện tại gia đình bà T gồm có 05 nhân khẩu (vợ chồng bà T và 03 người con đã trưởng thành) nhưng hiện tại chỉ có 01 nơi ở duy nhất là thửa đất số 1989 tờ bản đồ 10 tại phường P, bao gồm 100m² đất ở và 70m² đất nông nghiệp. Việc UBND thị xã P thu hồi nhiều đất của gia đình mà không cấp đất ở làm cho gia đình bà T gặp nhiều trở ngại trong việc sắp xếp cuộc sống, các con đã trưởng thành không thể thành lập gia đình riêng vì không có đất ở để an cư lạc nghiệp.
Do vậy, bà T ông T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy các quyết định nêu trên để giải quyết lại theo quy định pháp luật.
* Phía người bị kiện, UBND thị xã P: Có văn bản số 6634/UBND-TNMT ngày 16/10/2023 về yêu cầu khởi kiện như sau:
I. Đối với yêu cầu khảo sát lại giá đất:
1.1. Việc quyết định phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của UBND thị xã P:
Căn cứ Quyết định số 2798/QĐ-UBND ngày 15/9/2020 của UBND tỉnh B về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư P, phường P, thị xã P.
Ngày 07/7/2022, UBND thị xã P ban hành Quyết định số 1210/QĐ- UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho Ông Trần T1 và bà Nguyễn Thị T, địa chỉ: Khu phố Q, phường P, thị xã P để thu hồi đất giao cho Ban QLDA Đầu tư Xây dựng thị xã P đầu tư xây dựng dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư P, phường P, thị xã P (Đ). Tại quyết định này, U Quyết định phê duyệt giá đất cụ thể số 2798/QĐ-UBND của UBND tỉnh để làm cơ sở tính bồi thường về đất nông nghiệp.
Như vậy, Quyết định số 2798/QĐ-UBND ngày 15/9/2020 của UBND tỉnh đã khảo sát giá đất thực tế, do đó UBND thị xã căn cứ Quyết định số 2798/QĐ-UBND để áp giá bồi thường về đất là đúng quy định.
1.2. Về quy trình bồi thường theo quy định của Luật Đất đai:
Căn cứ Điều 28 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thời gian niêm yết, lấy ý kiến.
Căn cứ theo quy trình bồi thường theo quy định của Luật Đất đai thì sau khi có giá đất cụ thể do UBND cấp tỉnh quyết định thì UBND thị xã mới có căn cứ pháp lý để lập, thẩm định, niêm yết công khai và lấy ý kiến người dân về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Sau khi hoàn tất thủ tục này thì UBND cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật Đất đai năm 2013 quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
1.3. Căn cứ pháp lý để Quyết định phê duyệt giá đất cụ thể:
Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 114 Luật Đất đai năm 2013.
Việc xác định giá đất cụ thể không bắt buộc phải thuê đơn vị tư vấn để thẩm định giá và hồ sơ xác định giá đất cụ thể, không bắt buộc có chứng thư thẩm định giá. Theo khoản 7 mục II Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 05 kèm theo Thông tư số 28/2015/TT-BTC ngày 06/3/2015 của Bộ T6 ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 05, 06, 07 thì chứng thư thẩm định giá chỉ là cơ sở để tham khảo chứ không là căn cứ để xác định giá đất cụ thể và phê duyệt bồi thường khi thu hồi đất. Vì vậy, căn cứ các quy định của pháp luật đất đai không có quy định thời hiệu của Quyết định phê duyệt giá đất cụ thể của UBND tỉnh có thời hiệu trong thời gian 06 tháng kể từ ngày Chứng thư thẩm định giá có hiệu lực; không có quy định về việc ban hành quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải trong thời hạn 06 tháng có hiệu lực của Chứng thư thẩm định giá đất; chỉ quy định bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định. Chứng thư của đơn vị tư vấn thẩm định giá đất chỉ là tài liệu có liên quan để UBND tỉnh tham khảo, xem xét và sau đó UBND tỉnh quyết định phê duyệt giá đất cụ thể theo thẩm quyền đối với từng dự án.
Bà Nguyễn Thị T và ông Trần T1 yêu cầu khảo sát lại giá đất nhưng không đưa ra được tài liệu chứng minh giá đất do UBND tỉnh phê duyệt thấp hơn mức giá.
1.4. Về chứng cứ do bà Nguyễn Thị T cung cấp: “Báo cáo số 1373/BC-CATX-AN ngày 29/4/2022 của Công an thị xã P”:
Công an thị xã P có Báo cáo số 1373/BC-CATX-AN ngày 29/4/2022 gửi Thường trực Thị ủy P, UBND thị xã P dưới hình thức là báo cáo về tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương do có đơn tập thể của các hộ dân. Công an thị xã P không phải là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng nên những nhận định tại báo cáo này là để tham khảo, xem xét, không phải là văn bản quyết định nội dung vụ việc. Đối với đơn tập thể này, UBND thị xã P đã hướng dẫn người dân làm đơn cá nhân để được xem xét từng trường hợp cụ thể và các hộ dân đã tách nội dung đơn tập thể thành đơn cá nhân gửi các cơ quan có thẩm quyền để được xem xét giải quyết. Qua xem xét đơn của các hộ dân và Báo cáo số 1373/BC-CATX-AN ngày 29/4/2022 của Công an thị xã P, UBND thị xã P và UBND tỉnh B đã ban hành một số quyết định giải quyết khiếu nại bác các yêu cầu khiếu nại (tài liệu cung cấp cho Tòa án gửi kèm theo).
1.5. Lý do khách quan khác:
Trong thời gian này tình hình dịch bệnh Covid -19 đang có diễn biến hết sức phức tạp trên cả nước, Nhà nước nhiều lần áp dụng biện pháp dãn cách xã hội nên công tác thu hồi đất nói riêng và nhiều công việc khác của U1, tình hình toàn xã hội trên cả nước bị đóng băng, đình trệ, nên ảnh hưởng rất lớn đến công việc thực hiện, kéo dài thời gian thực hiện hơn so với kế hoạch. Đồng thời tình hình biến động tăng giá đất trong khoảng thời gian này hoàn toàn không thể xảy ra do dịch Covid-19 đang hoành hành, không có nhiều giao dịch đất đai xảy ra trong giai đoạn khó khăn chung này, thậm chí nhiều nơi trên địa bàn thị xã P nói riêng
và cả nước nói chung có giá đất giảm hơn so với năm trước đó.
Vào thời gian này, UBND tỉnh phải thực hiện việc cách ly toàn xã hội trong vòng 15 ngày kể từ 0 giờ ngày 01/4/2020 trên phạm vi toàn quốc theo đúng yêu cầu của Chỉ thị số 16/CT-TTg, kể từ đấy tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp kẻo dài đến tận năm 2022.
1.6. Tại khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai 2013 về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định;
“2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.”
Cụm từ “thời điểm” ở đây quy định không rõ, “thời điểm” này được hiểu là cùng ngày, cùng tháng, cùng năm, hay cùng thời điểm thực hiện dự án. Tại cùng một dự án các hộ dân có đất thu hồi phải được bồi thường, hỗ trợ và các chính sách như nhau. Hộ dân cho rằng mức giá bồi thường thấp hơn giá thị trường nhưng không đưa ra được tài liệu chứng minh cho việc này.
1.7. Các trường hợp tương tự đã được Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tuyên xử bác đơn khởi kiện, bản án đã có hiệu lực pháp luật:
Bản án sơ thẩm số 58/2023/HC-ST ngày 25/5/2023 và Bản án sơ thẩm số 114/2023/HC-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
1.8. Các trường hợp có tính chất tương tự đã được Chủ tịch UBND tỉnh B giải quyết bác đơn khiếu nại (lần hai):
- - Quyết định số 1316/QĐ-UBND ngày 05/06/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh B về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Xuân B;
- - Quyết định số 1289/QĐ-UBND ngày 30/05/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh B về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn L1;
- - Quyết định số 727/QĐ-UBND ngày 31/03/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh B về việc giải quyết khiếu nại của ông Bùi Văn V1;
- - Quyết định số 480/QĐ-UBND ngày 15/3/2023 của Chủ tịch UBND tỉnh B về việc giải quyết khiếu nại của ông Đỗ Văn T4.
1.9. Giá đất của một số dự án cùng địa bàn phường P tại thời điểm năm 2022 gồm có:
- - Quyết định số 3629/QĐ-UBND ngày 25/11/2022 của UBND tỉnh về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính bồi thường khi thu hồi đất.
- - Quyết định số 3267/QĐ-UBND ngày 21/10/2022 của UBND tỉnh về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính bồi thường khi thu hồi đất đối với phần diện tích đất còn lại chưa lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- - Quyết định số 2740/QĐ-UBND ngày 06/9/2022 của UBND tỉnh về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính bồi thường khi thu hồi đất đối với phần diện tích đất còn lại chưa lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
* Đối với dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư P, UBND thị xã thực hiện khảo sát lại giá đất và được UBND tỉnh phê duyệt giá đất cụ thể tại Quyết định số 3629/QĐ-UBND ngày 25/11/2022. Qua so sánh với Quyết định số 2798/QĐ-UBND ngày 15/9/2020 của UBND tỉnh thì UBND thị xã nhận thấy 02 dự án không có sự chênh lệch, không có sự biến động lớn về giá đất, cụ thể:
- + Đường loại 3 hệ số 0,5 vị trí 5 tại Quyết định số 3629/QĐ-UBND ngày 25/11/2022 có đơn giá 1.330.000 đ/m², trong khi đó tại Quyết định số 2798/QĐ-UBND ngày 15/9/2020 có đơn giá 1.308.000 đ/m².
- + Đường loại 3 vị trí 5 tại Quyết định số 3629/QĐ-UBND ngày 25/11/2022 có đơn giá 1.420.000 đ/m², trong khi đó tại Quyết định số 2798/QĐ-UBND ngày 15/9/2020 có đơn giá 1.400.000 đ/m².
* So sánh với 02 dự án được UBND tỉnh phê duyệt giá đất cụ thể tại Quyết định số 3267/QĐ-UBND ngày 21/10/2022 và Quyết định số 2740/QĐ-UBND ngày 06/9/2022. Mục giá đất nông nghiệp tại 02 dự án lân cận trên, đối với 02 tuyến đường: đường loại 3 và đường loại 3, hệ số 0,5 (cùng loại đường, độ rộng đường, kết cấu hạ tầng kỹ thuật so với các tuyến đường tại Quyết định số 2798/QĐ-UBND ngày 15/9/2020 của UBND tỉnh) thì có giá đất không có nhiều chênh lệch, không có biến động lớn so với giá đất tại Quyết định số 2798/QĐ/UBND ngày 15/9/2020 của UBND tỉnh.
Như vậy, giá đất trên địa bàn thị xã P trong khoảng thời gian phê duyệt kinh phí bồi thường cho bà T thì không có sự biến động lớn so với thời điểm UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2798/QĐ- UBND ngày 15/9/2020.
II. Đối với yêu cầu xác định lại vị trí đất bị thu hồi là vị trí 5, Đường Trường C:
Tại điểm 1 (Bồi thường về đất) mục I, Quyết định số 1210/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của UBND thị xã P quyết định: “Bồi thường đất nông nghiệp bằng tiền: Đơn giá quyền sử dụng đất nông nghiệp đường phía Đông khu tái định cư 44ha và những tuyến đường giao thông trong đô thị được trải nhựa, bê tông có chiều rộng lòng đường từ 4m trở lên thuộc Đường L - Hệ số 0,5 - Vị trí 5, với đơn giá 1.308.000 đ/m²”
Tại điểm b khoản 1 Điều 4 Quyết định số 38/2019/QĐ-UBND ngày
20/12/2019 của UBND tỉnh B quy định Bảng giá các loại đất định kỳ 05 năm (01/01/2020 - 31/12/2024) trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, quy định: “Trong trường hợp thửa đất không có lối ra hợp pháp đến đường chính thì vị trí đất được xác định là vị trí 5 của đường chính gần nhất (có khoảng cách ngắn nhất tính từ tâm thửa đất đến đường đó), nhưng có mức giá không cao hơn mức giá vị trí 5 thấp nhất tính theo các thửa đất có lối ra hợp pháp liền kề trực tiếp với thửa đất này".
2.1. Đối với thửa đất số 112 tờ bản đồ số 03, phường P:
Theo Sơ đồ vị trí đất do Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh B đo vẽ, xác nhận ngày 25/9/2023 có khoảng cách tính từ tâm thửa đất số 112 tờ bản đồ số 03 đến đường T là 142,97m và đến đường trải nhựa có chiều rộng lòng đường từ 4m trở lên là 141,22m, như vậy khoảng cách tính từ tâm thửa đất số 112 đến đường trải nhựa có chiều rộng lòng đường từ 4m trở lên có khoảng cách ngắn nhất. Do đó, thửa đất số 112 tờ bản đồ số 03 được xác định là vị trí 5 của đường trải nhựa có chiều rộng lòng đường từ 4m trở lên là đúng quy định.
2.2. Đối với thửa đất số 580 tờ bản đồ số 12, phường P:
Theo Sơ đồ vị trí đất do Tòa án nhân dân tỉnh thuê Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh đo vẽ, xác nhận ngày 25/9/2023, UBND thị xã P nhận thấy Trung tâm K tỉnh đã thể hiện sai tuyến đường T nên Sơ đồ vị trí căn cứ theo Quyết định số 38/2019/QĐ- UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh B về việc quy định Bảng giá các loại đất định kỳ 05 năm (01/01/2020 - 31/12/2024) trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, dẫn đến việc thể hiện kích thước, khoảng cách từ tâm thửa đất số 580 đến tuyến đường T có sai sót rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả đã phê duyệt của UBND thị xã P, ảnh hưởng đến phán quyết của Tòa án nhân dân tỉnh. Cụ thể:
Tại số thứ tự 31, khoản 1 trong Phụ lục III kèm theo Quyết định số 38/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh quy định.
Tại thời điểm thu hồi đất (tháng 7/2022), tuyến đường tiếp giáp với Công an thị xã P được xác định là “Những tuyến đường giao thông trong đô thị chưa được xác định ở trên, được trải nhựa, bê tông có chiều rộng lòng đường từ 4m trở lên và không phải là vị trí 2 của đường loại 3 và hẻm chính, hẻm phụ hay hẻm của hẻm của các đường phố loại 1,2” (theo quy định tại số thứ tự 33, khoản 1 trong Phụ lục III kèm theo Quyết định số 38/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh). Theo Sơ đồ vị trí do Trung tâm K vẽ xác nhận ngày 25/9/2023 ghi “Đường Trường Chỉnh - nhựa” là không đúng tại thời điểm thu hồi đất tháng 7/2022.
Theo Sơ đồ vị trí do Trung tâm K vẽ xác nhận ngày 25/9/2023 thì khoảng cách đúng tính từ tâm thửa đất số 580 tờ bản đồ số 12 đến đường T phải là 385,02m (Trung tâm K lại đo vẽ thể hiện đo đến đường nhựa 385,02m mà không phải là đương T - đường H là sai).
Theo Bản đồ địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thị xã P quản lý, xác nhận thì khoảng cách tính từ tâm thửa đất số 580 tờ bản đồ số 12 đến
đường T là khoảng 385m; khoảng cách tính từ tâm thửa đất số 580 tờ bản đồ số 12 đến các đường nhựa lần lượt là khoảng 280m và 231m; khoảng cách tính từ tâm thửa đất số 580 tờ bản đồ số 12 đến đường phía Đông khu tái định cư 44ha là khoảng 342m.
Do đó, thửa đất số 580 tờ bản đồ số 12 được xác định là vị trí 5 của đường trải nhựa có chiều rộng lòng đường từ 4m trở lên là đúng quy định.
III. Đối với yêu cầu cho gia đình bà Thu m 01 lô đất ở trong khu tái định cư P, theo bảng giá Nhà nước:
Ông Trần T1 và bà Nguyễn Thị T có diện tích sử dụng 2.729 m² (100m² đất ở và 2.629m² đất nông nghiệp), gồm các thửa đất số 580, 112, 1989 tờ bản đồ số 12, 03, 10, phường P (Văn bản số 262/CNVPĐK -TTLT của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thị xã P).
- + Thửa đất số 112 có DT: 1.512 m² đất nông nghiệp;
- + Thửa đất số 580 có DT: 1.047m² đất nồng nghiệp;
- + Thửa đất số 1989 có DT: 170m² (100m² đất ở và 70m² đất nông nghiệp).
Diện tích thu hồi: 2.559 m² đất nông nghiệp, thửa đất số 580; 112 đã thu hồi hết thửa. Diện tích còn lại: 170m² (100m² đất ở và 70m² đất nông nghiệp).
Trên diện tích 2.559m² đất nông nghiệp thu hồi, bà T và ông T1 không được bồi thường đất ở hoặc giao đất ở, hỗ trợ giao đất ở do không có đất ở thu hồi, không có nhà ở giải tỏa, không phải di chuyển chỗ ở.
Tại khoản 1 và khoản 2 Điều 79 Luật Đất đai năm 2013 quy định:
Tại khoản 4 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định: “4. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định”
UBND thị xã P thu hồi đất của bà Nguyễn Thị T và ông Trần T1 là đất nông nghiệp, không có nhà ở giải tỏa nên không phải di chuyển chỗ ở. Bà Nguyễn Thị T và ông Trần T1 còn sử dụng đất và nhà ở tại thửa đất số 1989 tờ bản đồ số 10 tại phường P có diện tích 170m² (100m² đất ở và 70m² đất nông nghiệp). UBND thị xã P nhận thấy đã tính đúng, tính đủ chính sách bồi thường, hỗ trợ cho bà Nguyễn Thị T và ông Trần T1 theo quy định.
Từ những cơ sở nêu trên, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T và ông Trần T1; giữ nguyên Quyết định số 1210/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của UBND thị xã P.
- Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 177/2023/HC-ST ngày 22 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quyết định:
- - Căn cứ khoản 1, Điều 4 Quyết định 38/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh B; Điểm a khoản 3 Điều 69, khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013; Khoản 2 Điều 22 Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh B.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần T1 và bà Nguyễn Thị T;
- - Hủy một phần (Hủy Mục 1/Bồi thường về đất tại Điều I) của Quyết định số 1210/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của UBND thị xã P về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông Trần T1 và bà Nguyễn Thị T, địa chỉ: khu phố Q, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để thu hồi đất giao cho Ban QLDA Đầu tư Xây dựng thị xã P đầu tư xây dựng dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư P, phường P, thị xã P (Đ);
- - Buộc UBND thị xã P phải khảo sát lại giá đất để tính bồi thường cho ông T1 bà T theo quy định pháp luật.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần T1 và bà Nguyễn Thị T về yêu cầu: Buộc UBND thị xã P phải xác định lại vị trí đất thu hồi của gia đình theo vị trí 5, đường T.
3. Kiến nghị UBND thị xã P, căn cứ vào chính sách đất ở mới và hoàn cảnh thực tế cũng như nhu cầu của gia đình ông T1, bà T để xem xét giao đất ở mới có thu tiền sử dụng đất hoặc cho gia đình ông T1, bà Thu m một căn hộ chung cư dành cho người có thu nhập thấp để ổn định cuộc sống.
Bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của đương sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 04/01/2024 người bị kiện Ủy ban nhân dân thị xã P làm đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện về xác định lại giá đất cụ thể bồi thường.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm về việc giải quyết như sau: Án sơ thẩm xử là có căn cứ và đúng pháp luật. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, phía người bị kiện là Ủy ban nhân dân Thị xã P kháng cáo một phần quyết định của bản án sơ thẩm về việc buộc Ủy ban nhân dân Thị xã P phải khảo sát lại giá đất để tính bồi thường cho ông Trần T1 và bà Nguyễn Thị T theo quy định của pháp luật. Thấy rằng:
Ngày 07/7/2022, UBND thị xã phú M ban hành Quyết định số 1210 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để làm dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư P, phường P, thị xã P (Đ). Theo đó, Ủy ban nhân dân Thị xã P đã căn cứ Quyết định số 2798/QĐ-UBND ngày 15/9/2020 của UBND tỉnh B về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư P, phường P, thị xã P. Trong đó, tổng diện tích đất thu hồi của gia đình ông T1, bà T là 2.559 m2. Vị trí đất thu hồi là vị trí 5 - Đường phía đông khu tái định cư 44ha, thị xã P với giá tiền bồi thường 1.308.000đ/m2. Ông T1, bà T không đồng ý với việc áp dụng giá bồi thường này.
Qua xem xét, so sánh giá đất nông nghiệp tại Quyết định số 2798/QĐ-UBND ngày 15/9/2020 của UBND tỉnh thì đơn giá vị trí 5 đất nông nghiệp 1.308.000đồng/m2, thấp hơn nhiều so với giá đất nông nghiệp có cùng vị trí tại Quyết định số 3861/QĐ-UBND ngày 23/12/2020 của UBND tỉnh về giá đất của Dự án khu dân cư số 9 đô thị mới P, phường P, thị xã P là 1.956.000 đồng/m2 và Quyết định số 3689/QĐ-UBND ngày 08/12/2020 của UBND tỉnh về phê duyệt giá đất nông nghiệp khi thu hồi của Dự án đường II nối dài, phường H, thị xã P là 2.021.000 đồng/m2.
Như vậy, ở trường hợp này việc Ủy ban nhân dân Thị xã P ban hành Quyết định số 1210 ngày 07/7/2022 phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ... cho ông T1, bà T căn cứ Quyết định số 2798/QĐ-UBND ngày 15/9/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án Hạ tầng khi kỹ thuật tái định cư P (sau hơn 20 tháng) là không đúng. Ở trường hợp này, phía người bị kiện nếu cho rằng, việc áp giá bồi thường như trên là có căn cứ và không ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân có đất bị thu hồi khi đưa ra được bằng chứng hợp pháp để chứng minh rằng giá đất phê duyệt theo Quyết định số 2798/QĐ-UBND ngày 15/9/2020 so với giá đất năm 2022 là tương đương nhau.
Trong khi đó, phía người bị kiện có ý kiến trình bày rằng:
- + Đường loại 3 hệ số 0,5 vị trí 5 tại Quyết định số 3629/QĐ-UBND ngày 25/11/2022 có đơn giá 1.330.000 đ/m2, trong khi đó tại Quyết định số 2798/QĐ-UBND ngày 15/9/2020 có đơn giá 1.308.000 đ/m2.
- + Đường loại 3 vị trí 5 tại Quyết định số 3629/QĐ-UBND ngày 25/11/2022 có đơn giá 1.420.000 đ/m2, trong khi đó tại Quyết định số 2798/QĐ-UBND ngày 15/9/2020 có đơn giá 1.400.000 đ/m2.
Để từ đó cho rằng, “giá đất trên địa bàn thị xã P trong khoảng thời gian phê duyệt kinh phí bồi thường (năm 2022) cho bà T thì không có sự biến động lớn so với thời điểm UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2798/QĐ- UBND ngày
15/9/2020....” là không phù hợp. Bởi lẽ, so sánh từ số liệu do chính người bị kiện đưa ra đã cho thấy về giá đất là có sự chênh lệch và có ảnh hưởng nhiều đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân có đất bị thu hồi.
[2] Từ nhận định và phân tích trên cho thấy, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc Ủy ban nhân dân Thị xã P phải khảo sát lại giá đất để tính bồi thường cho ông Trần T1 và bà Nguyễn Thị T theo quy định của pháp luật là có căn cứ. Yêu cầu kháng cáo của phía người bị kiện Ủy ban nhân dân thị xã P là không có cơ sở chấp nhận.
[3] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: UBND thị xã phú M phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1, Điều 241 Luật tố tụng hành chính.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện Ủy ban nhân dân Thị xã P.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 177/2023/HC-ST ngày 22 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- - Căn cứ Quyết định 38/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh B; Điểm a khoản 3 Điều 69, khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013; Khoản 2 Điều 22 Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND ngày 31/10/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh B.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần T1 và bà Nguyễn Thị T;
- - Hủy một phần (Hủy Mục 1/Bồi thường về đất tại Điều I) của Quyết định số 1210/QĐ-UBND ngày 07/7/2022 của UBND thị xã P về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho ông Trần T1 và bà Nguyễn Thị T, địa chỉ: khu phố Q, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để thu hồi đất giao cho Ban QLDA Đầu tư Xây dựng thị xã P đầu tư xây dựng dự án: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư P, phường P, thị xã P (Đ);
- - Buộc UBND thị xã P phải khảo sát lại giá đất để tính bồi thường cho ông T1, bà T theo quy định pháp luật.
2. Về án phí hành chính phúc thẩm:
- UBND thị xã P phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính phúc thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng theo Biên lai thu số 0000201 ngày 18/01/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
Bản án số 973/2024/HC-PT ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khởi kiện quyết định hành chính về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
- Số bản án: 973/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khởi kiện quyết định hành chính về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần T1 và bà Nguyễn Thị T
