TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 973/2024/DS-PT Ngày 20 tháng 11 năm 2024 V/v: “Tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu chia di sản thừa kế QSDĐ”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Phan Tô Ngọc
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 13 và 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 612/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 8 năm 204 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1280/2024/QĐPT-HC ngày 28 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1948;
- Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Phan Huỳnh Bảo B, sinh năm 1972 (có mặt).
- Cùng địa chỉ: Số C, N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thành T1– Thuộc Văn phòng luật sư Cao Minh T2 – Thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).
- Bị đơn: Phan Huỳnh Bảo Q, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số A, Đ, Khu phố B, Phường D, thị xã G, tỉnh Tiền Giang, (có mặt).
- Đại diện ủy quyền của bị đơn: Ông Trương Thanh P, sinh năm 1970 (có mặt)
Địa chỉ: I T, phường H, thành phố M, tỉnh Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Võ Trọng K – Thuộc Chi nhánh Văn phòng L2 –Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Phan Huỳnh Bảo B, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số C, N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Phan Huỳnh Bảo Q1 (B1), sinh năm 1975; Địa chỉ: Số H B, E, CA 95624, USA, Hoa Kỳ.
- Phan Huỳnh Bảo L, sinh năm 1979 (mất ngày 26 tháng 7 năm 2023); Địa chỉ: Số C, N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1948; Địa chỉ: Số C, N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Bà Dương Thị Ái L1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số I, H, Phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (vắng mặt)
- Phan Dương Bảo N, sinh năm 2014. (vắng mặt)
- Phan Dương Bảo D, sinh năm 2016. (vắng mặt)
- Phan Gia K1, sinh năm 2007. (vắng mặt)
- Hồ Thị Kim C, sinh năm 1970 (có mặt).
- Phan Hồ Tường V, sinh năm 1992; (vắng mặt)
- Phan Hồ Thùy H, sinh năm 2003; (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà Q1: Phan Huỳnh Bảo B, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số C, N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng ông L:
Người đại diện theo pháp luật: Dương Thị Ái L1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số I, H, Phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ôn Yến T3, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số C, Hậu Giang, Phường A, Quận F, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà L1, bà Yến T3: Phan Huỳnh Bảo B, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số C, N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Võ Trọng K – Thuộc Chi nhánh Văn phòng L2 –Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
Cùng địa chỉ: Số A, Đ, Khu phố B, Phường D, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của chị V1, chị H: Phan Huỳnh Bảo Q, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số A, Đ, Khu phố B, Phường D, thị xã G, tỉnh Tiền Giang, (có mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn là ông Phan Huỳnh Bảo Q.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vợ chồng nguyên đơn là Huỳnh Ngọc T và Phan Kim Q2 (sinh năm 1948 mất ngày 28/8/1994 không để lại di chúc) có tất cả 04 con chung gồm: Phan Huỳnh Bảo Q (bị đơn), Phan Huỳnh Bảo B, Phan Huỳnh Bảo L, Phan Huỳnh Bảo Q1 (Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan). Nguyên đơn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng nguyên đơn và chia di sản thừa kế của chồng nguyên đơn để lại cho vợ và các con, nội dung cụ thể như sau:
Nguyên cha mẹ chồng nguyên đơn là Phan Văn T4, sinh năm 1919 chết năm 2006 và cụ Lý Thị H1, sinh năm 1919 chết năm 1984, trước năm 1975 có tạo lập 01 ngôi nhà ở và 01 nhà xưởng sản xuất nước mắm thương hiệu N, tọa lạc tại số A Đ, Khu phố B, Phường D, thị xã G;
Năm 1975, chính quyền Cách mạng trưng thu xưởng làm nước mắm, còn nhà ở thì để lại cho cha mẹ chồng sở hữu sử dụng;
Theo Quyết định số 209/QĐ-UB ngày 24/3/1989 UBND tỉnh T chuyển giao phân xưởng sản xuất nước mắm II (N) thuộc Xí nghiệp chế biến nước mắm cho UBND thị xã G;
Theo Quyết định số 89/QĐ-UB ngày 10/4/1989 của UBND thị xã G hóa giá tài sản cố định thuộc Cơ sở nước mắm P1 với tổng giá trị 40.000.000 đồng cho ông Phan Kim Q2 (chồng nguyên đơn).
Sau đó, vợ chồng nguyên đơn cùng tiến hành các thủ tục thành lập Xí nghiệp T7 (tên gọi tắc là N1) chuyên ngành sản xuất nước mắm và mắm tôm chà (Bản sao Giấy Chứng nhận vốn pháp định ngày 02/8/1990 trong đó có diện tích xây dựng nhà xưởng 2.434,9m² trên tổng diện tích đất 3.340,2m², Điều lệ Xí nghiệp T7 ngày 20/7/1990, Khế ước kiêm kỳ hạn nợ 60.000.000 đồng ngày 18/9/1989, Đơn xin vay kiêm Giấy nhận nợ 160.000.000 đồng ngày 26/12/1989, Bản vẽ họa đồ vị trí thửa đất số 4 tờ bản đồ số 25 diện tích 3.340,2 m² của Xí nghiệp có xác nhận của UBND phường D1, thị xã G kèm).
Năm 1994, chồng nguyên đơn chết, nguyên đơn đứng ra trực tiếp quản lý điều hành Xí nghiệp, do đã thế chấp nhà đất của Xí nghiệp để vay tiền Ngân hàng, nên nguyên đơn chưa hợp thức hóa quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà đất của Xí nghiệp được.
Năm 1997, Xí nghiệp ngưng hoạt động vì kinh doanh thua lỗ, nhà xưởng xuống cấp hư hỏng nặng, không có tiền tu bổ sửa chữa và cũng chưa trả hết nợ vay + lãi cho Ngân hàng;
Năm 2008, với sự đồng ý của nguyên đơn và các con, thì B và Q hùn vốn xây dựng 02 căn nhà kiên cố, 01 căn diện tích 100m² và 01 căn diện tích 150m²
để nuôi yến trên thửa đất số 4 tờ bản đồ số 25 diện tích 3.340,2 m² là phần đất làm nhà xưởng sản xuất nước mắm trước đây của vợ chồng nguyên đơn.
Chi phí xây dựng 02 căn nhà nuôi yến này là 600.000.000 đồng do B và Q hùn vốn theo tỷ lệ 7/3, trong đó B góp 70%, Q góp 30%, cụ thể B góp 420.000.000 đồng, Q góp 180.000.000 đồng;
Ngày 06/11/2018, B cũng đã bỏ ra số tiền 400.000.000 đồng để trả hết các khoản nợ + lãi cho Ngân hàng TMCP C1, chi nhánh T8 thay cho vợ chồng nguyên đơn đã vay của Ngân hàng từ năm 1989 (Bản sao Đơn xin xác nhận của Ngân hàng ngày 06/11/2018 đính kèm) để giúp nguyên đơn có điều kiện xin hợp thức hóa quyền sử dụng đất nhà xưởng của Xí nghiệp T7.
Nhưng ngày 14/12/2018, khi nguyên đơn, B và L hợp đồng với chi nhánh V2 đăng ký đất đai thị xã G đến tiến hành đo đạc xin cấp quyền sử dụng đất, thì vợ chồng Q và C cản trở không cho, mặc dù Q và C đã chiếm dụng căn nhà thờ của cha mẹ chồng nguyên đơn để lại, nay còn lộ rõ ý đồ tham lam muốn chiếm dụng luôn cả phần đất nhà xưởng của vợ chồng nguyên đơn, tức cha mẹ Q, đã được UBND thị xã Gò Công hóa giải tài sản cố định từ năm 1989.
Tại 02 Biên bản hòa giải ở Tổ hòa giải Khu phố B, Phường D, thị xã G ngày 27/12/2018 và 04/01/2019. Sau đó tại Biên bản hòa giải ở D1, thị xã G ngày 08/01/2019, cả 03 lần Q đều vắng mặt nên hòa giải không được.
Do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:
- Chia phần đất tại thửa đất số 4, tờ bản đồ số 25, diện tích 3.340,2m² đất thổ vườn, địa chỉ Phường D, thị xã G, tỉnh Tiền Giang, đây tài sản chung của vợ chồng Phan Kim Q2 và Huỳnh Ngọc T đã được Ủy ban nhân dân thị xã G ra Quyết định hóa giá tài sản cố định từ ngày 10/4/1989, hiện nay đất trên chưa có ai đứng tên. Chia quyền sử dụng 3.340,2 m² làm 02 phần bằng nhau, mỗi người được quyền sử dụng 1.670,1m².
- 50% diện tích đất chia di sản thừa kế theo pháp luật của ông Phan Kim Q2 cho những người thừa kế là Huỳnh Ngọc T (vợ), Phan Huỳnh Bảo Q (con), Phan Huỳnh Bảo B(con), Phan Huỳnh Bảo Q1 (con) và Phan Huỳnh Bảo L(con) làm 05 kỷ phần bằng nhau.
Bà Huỳnh Ngọc T và anh Phan Huỳnh Bảo B, chị Phan Huỳnh Bảo Q1, anh Phan Huỳnh Bảo L yêu cầu được gộp chung ½ tài sản chung và 04 kỷ phân thừa kế, cụ thể là quyền sử dụng đất trên, bà T yêu cầu được nhận quyền sử dụng đất, hoàn giá trị bằng tiền cho bị đơn Phan Huỳnh Bảo Q theo biên bản định giá của Tòa án.
Trên phần đất tranh chấp có 02 căn nhà yến do bị đơn Phan Huỳnh Bảo Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Huỳnh Bảo B góp vốn xây dựng vào năm 2008. Không yêu cầu tranh chấp với 02 căn nhà yến nêu trên.
Đồng ý xác định đường đi hiện tại là đường đi chung không tranh chấp.
* Bị đơn – ông Phan Huỳnh Bảo Q trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Lý do đất tranh chấp là đất của ông nội Phan Văn T4.
- Đối với phần đất tại thửa đất số 4, tờ bản đồ số 25, diện tích 3.340,2m² đất thổ vườn, địa chỉ Phường D, thị xã G, tỉnh Tiền Giang, đây không phải là phần tài sản chung của Phan Kim Q2 và Huỳnh Ngọc T do bà T không có chứng cứ gì để chứng minh là chủ sở hữu.
- Do không đồng ý với việc công nhận phần đất trên là tài sản chung của ông Q2 và bà T nên không đồng ý yêu cầu chia thừa kế của bà T.
- Đối với 02 căn nhà yến thì tôi thừa nhận đây là tài sản chung của tôi và ông Phan Huỳnh Bảo B, trong đó xác định giá trị của mỗi bên là ½. Nếu ông B có yêu cầu thì tôi đồng ý trả giá trị và xin nhận hiện vật.
- Phần tài sản trên đất không tranh chấp.
- Phần lối đi trên đất không có ý kiến.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Phan Huỳnh Bảo B:
- Đối với phần đất tranh chấp thì thống nhất lời trình bày của anh L. Yêu cầu chia kỷ phần thừa kế theo pháp luật. Ông B và ông L, bà Q1 thống nhất giao phần được chia cho bà Huỳnh Ngọc T.
- Đối với 02 căn nhà yến thì không có yêu cầu tranh chấp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người đại diện theo ủy quyền bà Phan Huỳnh Bảo Q1 – ông Phan Huỳnh Bảo L trình bày:
- Đối với phần đất tranh chấp thì thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà T. Yêu cầu chia kỷ phần thừa kế theo pháp luật. Ông L và ông B, bà Q1 thống nhất giao phần được chia cho bà Huỳnh Ngọc T.
- Đối với 02 căn nhà yến thì không có yêu cầu tranh chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Hồ Thị Kim C trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bị đơn – Phan Huỳnh Bảo Q.
Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Phan Huỳnh Bảo B là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị xác định thửa đất số 4, tờ bản đồ số 25, diện tích 3.340,2m², địa chỉ Phường D, thị xã G, tỉnh Tiền Giang, đây tài sản chung của vợ chồng Phan Kim Q2 và Huỳnh Ngọc T đã được Ủy ban nhân dân thị xã G ra Quyết định hóa giá tài sản cố định từ ngày 10/4/1989, hiện nay đất trên chưa có ai đứng tên. Chia quyền sử dụng 3.340,2m² làm 02 phần bằng nhau, mỗi người được quyền sử dụng 1.670,1m². Trong đó tài sản của ông Phan Kim Q2 được chia thừa kế theo pháp luật do ông Q2 chết không để lại di chúc, sau khi khấu trừ số tiền 200.000.000đồng tiền nợ ngân hàng do anh B trả thay, số tiền 200.000.000đồng còn lại nợ ngân hàng mà anh B đã trả thay cho ông Q2 – bà T tổng cộng 400.000.000đồng thì thuộc trách nhiệm hoàn trả của bà T trả cho anh B thì anh B chưa yêu cầu. Bà T và các con gồm Phan Huỳnh Bảo B, Phan Huỳnh Bảo Q1 Và Phan Huỳnh Bảo L (do những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của anh L được hưởng thừa kế) sẽ nhận chung cùng với 50% tài sản của bà T để sử dụng chung và
tự phân chia. Đề nghị chia kỉ phần thừa kế cho ông Q trị giá bằng tiền theo kết quả định giá của tòa án sơ thẩm.
Bị đơn thì không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng nguyên đơn khởi kiện mà không có chứng cứ chứng minh tài sản đang tranh chấp là của ông Q2, bà T. Các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ gì mới để chứng minh.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 10/4/2024, Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang quyết định:
Căn cứ Điều 26, Điều 37, Điều 147, Điều 264, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 169, 170,219, 223,224, 631, 632, 633, 634, 635, 636, 637, 674, 675,676,683 và Điều 685 của Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Ngọc T về việc yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất tại thửa đất số thửa đất số 4, tờ bản đồ số 25, diện tích 3.340,2m² (theo đo đạc thực tế 3.328,9m²), địa chỉ Phường D, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; Yêu chia di sản thừa kế của ông Phan Kim Q2 theo quy định của pháp luật;
- Xác định quyền sử dụng tại thửa đất số thửa đất số 4, tờ bản đồ số 25, diện tích 3.340,2m² (theo đo đạc thực tế 3.328,9 m²), địa chỉ Phường D, thị xã G, tỉnh Tiền Giang là tài sản chung của vợ chồng bà Phạm Ngọc T5, ông Phan Kim Q2.
- Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc xác định phần đất có diện tích (S1= 122,7m²) nằm trong thửa đất số 4, tờ bản đồ số 25, diện tích 3.340,2m² (theo đo đạc thực tế 3.328,9 m²), địa chỉ Phường D, thị xã G, tỉnh Tiền Giang là lối đi chung của các đương sự.
- Chia tài sản chung của vợ chồng bà T5 và ông Q2 là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 4 tờ bản đồ số 25, diện tích (3.328,9 m² – 122,7m²) = 3.206,2m², mỗi người 50% quyền sử dụng đất. Ông Phan Kim Q2 được chia 50% tương đương 1.603, 1m². Phần tài sản này là di sản thừa kế của ông Q2 được chia làm 06 kỷ phần bằng nhau.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà T5 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án (thuộc hàng thừa kế của ông Q2) đồng ý chia cho ông Phan Huỳnh Bảo Q 01 kỷ phần thừa kế là 330m² đất nằm trong thửa đất số 4, tờ bản đồ số 25, diện tích 3.340,2m² (theo đo đạc thực tế 3.328,9 m²). Phần diện tích đất chia cho ông Q ký hiệu S3=330,0m² theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 15/11/2023 của Công Ty TNHH T9 (có sơ dồ kèm theo). Phần đất ông Q được chia địa chỉ Phường D, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
(Sơ đồ lối đi chung theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 15/11/2023 của Công Ty TNHH T9).
- Phần tài sản còn lại phần đất có diện tích 2.876,2 m² - 242,4m² (di sản cụ T4 được hưởng) = 2.633.8m² chia cho bà Phạm Ngọc T5 cùng các đồng thừa kế bao gồm Phan Huỳnh Bảo B, Phan Huỳnh Bảo Q1 và Phan Huỳnh Bảo L (do Dương Thị Ái L1 (vợ anh L) và các con anh L gồm Phan Dương Bảo N, Phan Dương Bảo D và Phan Gia K1 thừa hưởng). Phần đất được chia nằm trong thửa đất số 4, tờ bản đồ số 25, diện tích 3.340,2m² (theo đo đạc thực tế 3.328,9 m²) tại Phường D Thị xã G tỉnh Tiền Giang.
- Tạm giao kỷ phần thừa kế là 242,4m² đất kỷ phần của cụ T4 tương đương số tiền 326.028.250 đồng giao cho bà T5 quản lý sử dụng.
- Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký đứng tên quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Phan Ngọc T6 về việc chia kỷ phần di sản thừa kế của Phan Huỳnh Bảo Q trị giá bằng tiền.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/4/2024, bị đơn là ông Phan Huỳnh Bảo Q kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 25/4/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang có quyết định kháng nghị đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa rút lại Quyết định kháng nghị đề nghị hủy bản án sơ thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm với các lý do Bản án sơ thẩm chưa xác định được nguồn gốc đất khai phá đất của ông bà N2, chưa xác định được nguồn gốc của người theo thừa kế pháp luật. Nguyên đơn có thừa nhận được đất của ông nội đây không phải tài sản của bà T6 và ông Q2 nên không chia theo thừa kế được từ đó đề nghị hủy bản án sơ thẩm để về xét xử lại theo quy định.
- Nguyên đơn (do ông Phan Huỳnh Bảo B đại diện) đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay thấy rằng Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang và bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về tố tụng:
- Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang và đơn kháng cáo của ông Phan Huỳnh Bảo Q làm trong hạn luật định và hợp lệ được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 26, 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên rút Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang. Do đó, căn cứ Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Về nội dung:
[1] Về hàng thừa kế:
Theo hồ sơ vụ án thể hiện và các đương sự thống nhất thừa nhận: Ông Phan Kim Q2 (sinh năm 1948 mất ngày 28/8/1994); Hàng thừa kế thứ nhất của ông Q2 gồm cha là ông Phan Văn T4 (chết năm 2006); vợ là bà Huỳnh Ngọc T và 04 người con gồm ông Phan Huỳnh Bảo Q, ông Phan Huỳnh Bảo B, bà Phan Huỳnh Bảo Q1, ông Phan Huỳnh Bảo L (đã chết năm 2023 có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông L bà Dương Thị Ái L1, Phan Dương Bảo N, Phan Dương Bảo D, Phan Gia K1).
[2] Về di sản thừa kế:
Nguyên đơn cho rằng trước năm 1975 cha mẹ chồng của nguyên đơn có tạo lập tài sản là xưởng nước mắm; sau giải phóng Cách mạng thu xưởng và đến năm 1989 thì hóa giá lại cho ông Phan Kim Q2 với giá 40.000.000 đồng để vợ chồng ông Q2 làm xí nghiệp sản xuất nước mắm. Năm 1994, ông Q2 chết, nguyên đơn vẫn tiếp tục quản lý kinh doanh và sử dụng phần diện tích 3.340,2m² đất thuộc thửa số 4, tờ bản đồ 25 tọa lạc tại khu phố B, phường D, thị xã G đến nay. Nên nguyên đơn yêu cầu xác định quyền sử dụng diện tích 3.340,2m² đất nêu trên là tài sản chung của nguyên đơn và ông Q2, đồng thời yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Q2 theo quy định của pháp luật.
Xét, theo Phiếu cung cấp thông tin của Ủy ban nhân dân phường D1, thị xã G tại Công văn số 116/CV-UBND ngày 27/12/2021 thể hiện: Hồ sơ 299 của thửa đất số 4, tờ bản đồ 25, tọa lạc tại khu phố B, phường D, thị xã G, trước đây chỉ do khoanh bao nên không có tên đăng ký của chủ sử dụng đất...
Theo các tài liệu chứng cứ do Ủy ban nhân dân thị xã G cung cấp thể hiện trước năm 1989 phần diện tích 3.340,2m² đất thuộc thửa số 4, tờ bản đồ 25 tọa lạc tại khu phố B, phường D, thị xã G là cơ sở nước mắm N3, theo quyết định hóa giá tài sản cố định số 89/QĐ-UB ngày 10/4/1989 thì Ủy ban nhân dân thị xã G đã hóa giá toàn bộ tài sản cố định thuộc cơ sở nước mắm N3 cho ông Phan Kim Q2. Sau khi nộp tiền hóa giá thì ông Phan Kim Q2 cùng vợ là bà Huỳnh Ngọc T thành lập Xí nghiệp T7 từ ngày 20/7/1990. Sau đó do xí nghiệp hoạt động không hiệu quả và ông Q2 chết năm 1994 nên xí nghiệp đã ngưng hoạt động từ năm 1997 cho đến nay; Tuy nhiên sau khi ông Q2 chết và xí nghiệp ngưng hoạt động thì bà T không làm thủ tục giải thể xí nghiệp mà bà T cùng các con bà T vẫn quản lý, sử dụng phần diện tích 3.340,2 m² đất tại thửa đất số 4, tờ bản đồ số 25 mà vợ chồng bà T được Nhà nước hóa giá năm 1989 cho đến nay.
Đối chiếu theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật đất đai 2003; Điều 18, Điều 21 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chín Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Khoản 1 Điều 100 của luật đất đai năm 2014; Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 1986 thì có căn cứ xác định phần diện tích 3.340,2 m² đất tại thửa đất số 4, tờ bản đồ số 25 tọa lạc tại Phường D, thị xã G là tài sản chung của ông Q2 và bà T.
Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu xác định ½ quyền sử dụng thửa đất số 25 nêu trên thuộc sở hữu riêng của bà T; ½ quyền sử dụng đất còn lại thuộc sỡ hữu riêng của ông Kim Q2 và do ông Q2 chết không để lại di chúc nên ½ tài sản thuộc phần tài sản riêng của ông Q2 là di sản thừa kế được chia theo pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Q2 là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về phân chia tài sản chung và chia di sản thừa kế của ông Q2:
Căn cứ Biên bản do đạc thực tế ngày 15/11/2023 của Công ty TNHH T9 và Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án xác định phần đất tranh chấp gồm 04 phần: S1 =122,7m² là phần lối đi chung do các bên thỏa thuận, S2= 64,5m² là phần bị đơn yêu cầu mở rộng thêm lối đi, S3= 330,0m² là phần đất nguyên đơn đề nghị chia cho bị đơn, S4 = 2.811,7m² là phần diện tích đất còn lại.
Quá trình giải quyết vụ án các đương sự cùng thống nhất chừa phần S1 có diện tích 122,7m² làm lối đi chung, không tranh chấp đối với phần này và phần này có chiều ngang lối đi vị trí nhỏ nhất 4,66m, vị trí lớn nhất 5,38m là đảm bảo thông thoáng nên bị đơn yêu cầu mở rộng lối đi tại vị trí S2 không được nguyên đơn và các đương sự khác đồng ý. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự về chừa phần S1 làm lối đi là phù hợp với quy định của pháp luật.
Theo đó, xác định tài sản chung của ông Kim Q2 và bà T gồm (S2= 64,5m²+ S3= 330,0m² + S4 = 2.811,7m² ) = 3.206, 2 m²; phần tài sản thuộc sở hữu riêng của bà T tương đương 1.603,1m²; ông Q2 tương đương 1.603,1m².
Theo kết quả định giá tại chứng thư định giá ngày 27/11/2020 thì 1m² đất thuộc thửa 25 có giá 1.345.000 đồng, nên tổng diện tích đất tranh chấp thành tiền là 4.312.339.000đồng. Trong đó, xác định 50% là tài sản của bà T tương đương
1.603, 1m², thành tiền 2.156.169.500đồng. Còn lại 50% là di sản thừa kế của ông Kim Q2 tương đương 1.603, 1m², thành tiền 2.156.169.500đồng.
[3.1] Về thực hiện nghĩa vụ tài sản cua người để lại di sản thừa kế:
Quá trình giải quyết vụ án các đương sự thừa nhận khi còn sống và làm chủ Xí nghiệp tư doanh Nam Phương thì ông Kim Q2 có thế chấp toàn bộ tài sản của Xí nghiệp T7 vay Ngân hàng TMCP C1 - Chi Nhánh T8 số tiền 190.000.000 đồng vào ngày 26/12/1989 để bổ sung vốn sản xuất mắm tôm chà.
Theo xác nhận tại Văn bản số 826/CNTG-TH ngày 19/8/2022 thì số tiền vay tạm tính đến ngày 29/10/218 của X ngiệp tư doanh N còn nợ ngân hàng 181.700.000 đồng và lãi 796.634.084 đồng. Ngày 29/10/2018 ông Phan Huỳnh Bảo B là con ông Q2 và bà T đại diện cho gia đình xin trả ngân hàng số tiền 400.000.000 đồng, trong đó trả vốn gốc 181.700.000đồng và 218.300.000 đồng, số lãi còn lại 578.334.084 đồng thì đề nghị ngân hàng cho miễn lãi; ông B đã thanh toán số tiền 400.000.000 đồng tại Ngân hàng. Nên, cần xác định số nợ 400.000.000đồng tại ngân hàng thì bà T phải có trách nhiệm hoàn trả cho ông B 200.000.000 đồng; đồng thời khi chia di sản thừa kế của ông Kim Q2 thì phải ưu tiên thanh toán cho ông B số tiền 200.000.000đồng theo Điều 658 Bộ luật dân sự và được khấu trừ vào giá trị quyền sử dụng đất và giao bằng quyền sử dụng đất cho ông B.
Riêng đối với số tiền 200.000.000 đồng bà T có trách nhiệm trả cho ông B thì ông B chưa có yêu cầu, các bên không tranh chấp, nếu không tự thỏa thuận được thì ông B có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
Theo đó, di sản thừa kế của ông Q2 còn lại trị giá bằng tiền là 2.156.169.500 đồng – 200.000.000 đồng (do ông B trả cho ngân hàng)= 1.956.169.500 đồng, được chia là 06 kỷ phần bằng nhau. Mỗi kỷ phần tương tương 326.028.250 đồng. Ông T4 (phần ông T4 tạm giao cho bà T quản lý), bà T, anh B, chị Q1, anh L (do vợ và các con được hưởng) và ông Q mỗi người được hưởng 01 kỷ phần.
[3.2] Về cách phân chia:
Nguyên đơn cùng ông B, bà Q1, ông Bảo L (anh L đã chết, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng cùng ủy quyền cho anh B) thống nhất giao cho bị đơn diện tích 330m² đất ở vị trí cuối thửa đất tranh chấp có 01 cạnh giáp với phần đất có căn nhà của bị đơn đang sử dụng.
Thấy rằng, phần diện tích 330m² mà nguyên đơn tự nguyện chia cho bị đơn trị giá 330m² x 1.345.000 đồng/m² = 443.850.000 đồng là cao hơn trị kỷ phần mà ông Bảo Q được nhận (326.028.250đồng) là có lợi cho ông Q nên được chấp nhận và chia cho ông Q 01 kỷ phần thừa kế là 330m² đất theo sơ đồ bản vẽ kèm theo. Nguyên đơn tự nguyện phân chia 330m², cao hơn kỷ phần được hưởng (330m² - 242,4m²) = 87,6m², phần diện tích này sẽ được khấu trừ vào kỷ phần của bà T được hưởng.
Riêng đối với kỷ phần của cụ T4 (đã chết) được hưởng là 242,4m² đất tương đương số tiền 326.028.250 đồng hiện chưa tìm được hàng thừa kế của T4, nên tạm giao cho cho bà T tiếp tục quản lý sử dụng, khi các đồng thừa kế của cụ
T4 có yêu cầu thì bà T có trách nhiệm giao trả lại kỷ phần thừa kế mà cụ T4 được hưởng từ con ruột là ông Kim Q2. Nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Như vậy, bà T được chia 50% tài sản chung 1.603, 1m², thành tiền 2.156.169.500đồng cùng 01 kỷ phần (di sản thừa kế của ông Q2) là 242,4m² đất tương đương số tiền 326.028.250 đồng và tạm giao 01 kỉ phần ( cụ T4 được hưởng) là 242,4m² đất tương đương số tiền 326.028.250đồng;
Ông Bảo B được chia là 242,4m² đất tương đương số tiền 326.028.250đồng + 148,69m² đất tương đương số tiền 200.000.000 đồng (do anh B trả nợ thay cho ông Q2);
Bà Bảo Q1 được chia 242,4m² đất tương đương số tiền 326.028.250 đồng;
Ông Bảo L được chia 242,4m² đất tương đương số tiền 326.028.250 đồng (do người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh L được hưởng gồm Dương Thị Ái L1 (vợ anh L) và các con anh L gồm Phan Dương Bảo N, Phan Dương Bảo D và phan Gia K1);
[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; Không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Huỳnh Bảo Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đình chỉ xét xử đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Huỳnh Bảo Q phải nộp 300.000 đồng theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự,
Tuyên xử:
Căn cứ Điều 26, Điều 37, Điều 147, Điều 264, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 169, 170,219, 223,224, 631, 632, 633, 634, 635, 636, 637, 674, 675, 676, 683 và Điều 685 của Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
- Đình chỉ xét xử đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang; Không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Huỳnh Bảo Q; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Về án phí: Ông Phan Huỳnh Bảo Q phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào biên lai tạm ứng án phí đã nộp theo số 0000207 ngày 12/4/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Phạm Trí Tuấn |
Bản án số 973/2024/DS-PT ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất
- Số bản án: 973/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Ngọc T kiện Phan Huỳnh Bảo Q về việc “Tranh chấp chia tài sản chung, yêu cầu chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất”. Tuyên xử Đình chỉ xét xử đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang; Không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Huỳnh Bảo Q; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang
