TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 972/2024/DS-PT Ngày: 19-11-2024 V/v: Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; chia thừa kế; chia hoa lợi, lợi tức từ di sản thừa kế. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Chủ tọa phiên tòa - Thẩm phán: | Ông Phạm Trí Tuấn |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Minh |
| Bà Hồ Thị Thanh Thúy |
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 tháng 10, ngày 12 và ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 386/2024/DSTL- PT ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; chia thừa kế; chia hoa lợi, lợi tức từ di sản thừa kế”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 2622/2023/DS –ST ngày 25 – 12- 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1118/2024/QĐPT – DS ngày 09 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1962 (có mặt)
Địa chỉ: Số E đường H (Căn số A), Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:
- Luật sư Nguyễn Trọng Â.
- Luật sư Lê Minh N,
- Luật sư Nguyễn Tuyết N1.
Thuộc Công ty L5 - Đoàn Luật sư Thành phố H.
Trụ sở: Số A đường Số B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1969 (có mặt)
Địa chỉ: Số E ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Xuân Đ, sinh năm 1977 (có mặt)
Địa chỉ: Số C đường B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (Theo Văn bản ủy quyền số 003254 ngày 21/4/2018 tại VPCC N, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1971 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1967 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Hữu P1, sinh năm 1959 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Hữu Mai V, sinh năm 1983; (có mặt)
- Ông Bùi Ngọc T, sinh năm 1986; (vắng mặt)
- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1979 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Như H2, sinh năm 1997 (vắng mặt)
- Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước.
- Văn phòng C4
Địa chỉ: Số E đường H (Căn số A), Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: B C, C, Australia.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1971; địa chỉ: Số E đường H (Căn số A), Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền gồm:
Địa chỉ: Số E đường H (Căn số A), Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; (Theo Giấy ủy quyền số 002846 ngày 05/3/2018 tại Văn phòng C4).
Địa chỉ liên lạc: Căn hộ S Chung cư T, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; hoặc bà Nguyễn Như N2, sinh năm 1999; địa chỉ: Ấp A, Vĩnh Mỹ B, Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu; (Theo Giấy ủy quyền số 009486 ngày 16/10/2023 tại Văn phòng C4).
Cùng địa chỉ: Số E ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bà T1, bà H2: Ông Hoàng Xuân Đ, sinh năm 1977; địa chỉ: Số C đường B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (Theo Văn bản ủy quyền số 010936 ngày 19/11/2018 và số 019937 ngày 19/11/2018 tại Văn phòng C4, Thành phố Hồ Chí Minh). (có mặt)
Địa chỉ: Số E đường Đ, khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Ngô Minh Đ1, sinh năm 1970 hoặc bà Nguyễn Thị Ngọc N3, sinh năm 1986;
Địa chỉ liên lạc: Số D đường T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Văn bản ủy quyền số 05/GUQ ngày 15/12/2021).
( Ông Đ2 có văn bản trình bày ý kiến và xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số A đường B, Khu phố A, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Bà Lý Thị Như H3, chức vụ: Trưởng Văn phòng. (vắng mặt).
Tòa án triệu tập thêm người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn M – Công chứng viên Văn phòng C4, Thành phố Hồ Chí Minh. (đơn xin xét xử vắng)
- Bà Hoàng Thị Minh K – Công chứng viên Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
Địa chỉ: số A đường B, khu phố A, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: số E đường D, khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
Đại diện theo ủy quyền của bà K: bà Nguyễn Thị Ngọc N3, sinh năm 1986.
Địa chỉ: B- 7.22 Chung cư F, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn – ông Nguyễn Thanh S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Hữu P1 và bà Nguyễn Thị Thúy H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
Cụ Trần Thị L (1940 – 2017) và cụ Nguyễn Văn C (1935 – 1983) chung sống với nhau từ trước năm 1945 và có 05 người con chung gồm các ông (bà): Nguyễn Hữu P1 (1959), Nguyễn Thanh S (1962), Nguyễn Ngọc H1 (1967), Nguyễn Văn P (1969), Nguyễn Thị Thúy H (1971). Ngoài 05 người con nêu trên, hai cụ không có con nuôi, con riêng nào khác.
Phần đất diện tích 897m², thuộc thửa 588, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh là di sản của cụ Trần Thị L (1940 – 2017) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSDĐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003.
Ngày 15/4/2015, cụ Trần Thị Len L1 Di chúc số 003855 tại Văn phòng C4, Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung để lại di sản cho 05 người con có tên nêu trên ngay sau khi thời điểm giải chấp tại ngân hàng ngày 14/4/2015. Do đó bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSDĐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003 cho cụ đang được ông Nguyễn Hữu P1 giữ từ thời điểm đó cho đến nay.
Ngày 16/9/2015, cụ Trần Thị L tiếp tục lập Di chúc số 003220 tại Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước với nội dung chỉ để lại di sản là phần đất 897m² trên cho ông Nguyễn Văn P.
Ngày 24/11/2017, cụ Trần Thị Len C1 (Giấy chứng tử số 1967/TLKT-BS ngày 30/11/2017 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện H).
Hiện nay nhà, đất đang tranh chấp do gia đình bị đơn quản lý sử dụng, gồm ông Nguyễn Văn P (1969) và vợ bà Trần Thị T1 (1979), con gái là chị Nguyễn Thị Như H2 (1997). Hiện trạng nhà, đất không thay đổi, thống nhất với hiện trạng tại Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 21/12/2018. Nguyên đơn không yêu cầu đo vẽ lại hiện trạng tài sản tranh chấp.
Thống nhất với giá trị tài sản tranh chấp theo Chứng thư thẩm định giá số 230319.CT ngày 22/3/2019 của Công ty Cổ phần T5. Nguyên đơn không yêu cầu thẩm định giá lại tài sản tranh chấp.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề:
- Hủy Di chúc số 003220 ngày 16/9/2015 tại Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước.
- Chia thừa kế đối với di sản của bà Trần Thị L là quyền sử dụng đất đối với thửa đất 588, tờ bản đồ 18 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSDĐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003.
- Chia đều hoa lợi và lợi tức có được từ tài sản chung do cha mẹ chết để lại từ phần đất thuộc thửa đất 588, tờ bản đồ 19 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh là 48.000.000 (bốn mươi tám triệu) đồng.
* Tại các bản khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn có ông Hoàng Xuân Đ đại diện ủy quyền trình bày:
Phần đất diện tích 897m², thuộc thửa 588, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh là di sản của cụ bà Trần Thị L (1940-2017) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386QSDĐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003.
Năm 2015, cụ Len lập Di chúc số 003220 ngày 16/9/20215 tại Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước (gọi tắt là Di chúc 003220) với nội dung chỉ để lại di sản là 897m² đất cho ông Nguyễn Văn P.
Thống nhất với lời khai của nguyên đơn về việc cụ Trần Thị L và cụ Nguyễn Văn C có 05 người con chung gồm các ông (bà): Nguyễn Hữu P1 (1959), Nguyễn Thanh S (1962), Nguyễn Ngọc H1 (1967), Nguyễn Văn P (1969), Nguyễn Thị Thúy H (1971). Ngoài 05 người con nếu trên, không có con nuôi, con riêng nào khác.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông P không đồng ý vì bị đơn đã được mẹ để lại di sản theo Di chúc 003220, đồng thời bị đơn phản tố yêu cầu Tòa án hủy Di chúc số 003855 ngày 15/4/2015 tại Văn phòng C4 (sau đây gọi tắt là Di chúc 003855). Tuy nhiên bị đơn không hề biết việc mẹ lập Di chúc 003220 lúc nào và không biết ai đưa cụ Trần Thị L đi đến tỉnh Bình Phước lập Di chúc trên.
Ngoài ra bị đơn không giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386QSDĐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003 cho cụ Trần Thị Len . Bản chính Giấy chứng nhận nêu trên bị mất ngay thời điểm cụ Trần Thị Len C1, không biết anh em ai đã mở tủ để lấy mất.
Tại nhà đất đang tranh chấp, bị đơn có cho thuê khoảng 06 phòng trọ, giá thuê là 1,000,000 đồng/phòng. Những người thuê trọ đã được liệt kê tại Số đăng ký tạm trú dùng cho nhà trọ. Tuy nhiên, đa số những người thuê không còn thuê và đã dọn đi khỏi phòng trọ do dịch Covid 19, theo danh sách trên chỉ còn bà Nguyễn Thị Tuyết H4, bà Nguyễn Thị Mỹ L2, Ông Võ Công N4, bà Danh Thị Thanh N5, là Nguyễn Thị Thanh T2, ông Danh C2, ông Trần Thanh C3, bà Huỳnh Thị Thúy L3, ông Nguyễn Chí B, bà Nguyễn Thị T3 còn đang thuê. Đồng thời xác định những người thuê nhà không liên quan đến tranh chấp, đề nghị không đưa vào tham gia tố tụng vì nếu có tranh chấp liên quan đến hợp đồng thuê nhà trọ sẽ tự giải quyết bằng 1 vụ án khác.
Hiện trạng nhà, đất không thay đổi, thống nhất với hiện trạng tại Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 21/12/2018. Bị đơn không yêu cầu đo vẽ lại hiện trạng tài sản tranh chấp.
Thống nhất với giá trị tài sản tranh chấp theo Chứng thư thẩm định giá số 230319.CT ngày 22/3/2019 của Công ty Cổ phần T5. Bị đơn không yêu cầu thẩm định giá lại tài sản tranh chấp.
Ông Hoàng Xuân Đ đại diện cho bà Trần Thị T1 và bà Nguyễn Thị Như H2 xác nhận các bà có cùng ý kiến với bị đơn.
Tại các bản khai, bà Nguyễn Hữu Mai V là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Hữu P1 trình bày:
Thống nhất với lời trình bày và toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Hiện trạng nhà, đất không thay đổi, thống nhất với hiện trạng tại Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 21/12/2018. Ông Nguyễn Hữu P1 không yêu cầu đo vẽ lại hiện trạng tài sản tranh chấp.
Thống nhất với giá trị tài sản tranh chấp theo Chứng thư thẩm định giá số 230319.CT ngày 22/3/2019 của Công ty Cổ phần T5. Ông P1 không yêu cầu thẩm định giá lại tài sản tranh chấp.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Thúy H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác, bà Nguyễn Ngọc H1 trình bày:
Thống nhất với lời trình bày và toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Hiện trạng nhà, đất không thay đổi, thống nhất với hiện trạng tại Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 21/12/2018. Bà không yêu cầu đo vẽ lại hiện trạng tài sản tranh chấp.
Thống nhất với giá trị tài sản tranh chấp theo Chứng thư thẩm định giá số 230319.CT ngày 22/3/2019 của Công ty Cổ phần T5. Bà không yêu cầu thẩm định giá lại tài sản tranh chấp.
Bà không đồng ý với Di chúc số 003220 tại Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước của cụ Trần Thị Len . Lý do là vì trong quá trình sử dụng khi cụ còn sống, bị đơn đã nhiều lần cầm giấy tờ nhà đi thế chấp và bà H1 phải bỏ tiền để chuộc lại, nhưng không có yêu cầu đối với số tiền đã bỏ ra.
* Tại các bản khai, Văn phòng C4 - bà Lý Thị Như H3 trình bày:
Ngày 15/4/2015 Công chứng viên Nguyễn Văn M của Văn phòng C4 đã chứng nhận Di chúc số 003855 cho bà Trần Thị L, đối với thửa đất số 588 tờ bản đồ số 18 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm công chứng, hồ sơ công chứng đầy đủ, hợp lệ theo quy định; bà L có năng lực hành vi dân sự; bà L không đọc không viết được nên nhờ ông Dương Văn Q đến làm chứng, lập di chúc và ghi chép lại ý chí của bà L; bà L đã nghe đọc lại, xác nhận nội dung di chúc là chính xác và đúng ý chí của bà L, không sửa đổi, bổ sung thêm gì.
Văn phòng C4 đã thực hiện việc công chứng di chúc trên theo đúng quy định về pháp luật dân sự, đất đai, công chứng. Tại thời điểm lập công chứng bà L tự nguyện, không bị đe dọa, lừa dối, cưỡng ép.
Văn phòng C4 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và xin vắng mặt tại Tòa án các cấp.
* Tại các bản khai, Văn phòng C4 do bà Nguyễn Thị N6 đại diện ủy quyền trình bày:
- Ngày 16/9/2015, theo yêu cầu của bà Trần Thị L, Văn phòng C4 ghi nhận, đánh máy lại và công chứng Di chúc do cụ Trần Thị Len L1 với nội dung: Bà Trần Thị L có quyền sử dụng đất đối với 897m² đất, thuộc thửa đất số 588, tờ bản đồ số 18, đất tọa lạc tại địa chỉ: xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 3386 QSDÐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003.
- Khi tiếp nhận hồ sơ công chứng, công chứng viên đã kiểm tra bản chính, đối chiếu các loại giấy tờ do cụ Trần Thị L cung cấp; kiểm tra, xác định hành vi các bên tham gia lập Di chúc, công chứng viên đã giải thích về quyền, nghĩa vụ và hậu quả pháp lý việc lập Di chúc;
- Tại thời điểm lập Di chúc, cụ Trần Thị L có mời hai người có năng lực hành vi dân sự theo quy định là bà Trịnh Thị H5 và ông Hoàng Xuân Đ để làm chứng cho việc lập Di chúc;
- Tại thời điểm lập Di chúc, cụ Trần Thị L có đủ năng lực hành vi dân sự, minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép trong khi lập Di chúc, tự nguyện lập Di chúc, cam đoan chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung Di chúc và việc lập Di chúc; mục đích, nội dung Di chúc không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong Di chúc và ký vào Di chúc trước mặt công chứng viên;
- Tại thời điểm chứng nhận Di chúc cho cụ Trần Thị L, công chứng viên đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 40, 41, 56 Luật Công chứng năm 2014.
Tài sản là căn nhà cấp 4 (ngang 12m x dài 14m) mái ngói, nền gạch men, nhà tọa lạc tại địa chỉ: 5 N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc thửa đất số 588 nêu trên, nhà chưa được cơ quan thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.
Sau khi cụ Trần Thị L qua đời thì ông Nguyễn Văn P, chứng minh nhân dân số: [...], địa chỉ cư trú: 5 N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh được thừa kế đối với tài sản nêu trên;
Văn phòng C4 đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa sơ thẩm sơ thẩm:
Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, đối với phần chia đều hoa lợi và lợi tức có được từ tài sản chung do cha mẹ chết để lại từ phần đất thuộc thửa đất 588, tờ bản đồ 19 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh là 48.000.000 (bốn mươi tám triệu) đồng. Giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện còn lại, về việc: Hủy Di chúc số 003220 ngày 16/9/2015 tại Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước; Chia thừa kế đối với di sản của bà Trần Thị L theo Di chúc số 003855 ngày 15/4/2015 tại Văn phòng C4 là quyền sử dụng đất đối với thửa đất 588, tờ bản đồ 18 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSDĐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003. Yêu cầu chia bằng tiền.
Nguyên đơn và các đồng thừa kế thống nhất nhận giá trị, không yêu cầu chia hiện vật. Đồng thời tại phiên tòa nguyên đơn đã xuất trình Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSDĐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003 cho cụ Trần Thị L được cho là bản chính. Đồng thời, Hội đồng xét xử đã yêu cầu nguyên đơn mang Giấy chứng nhận sao y chứng thực bản chính để nộp lại cho HĐXX.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Di chúc số 003220 ngày 16/9/2015 tại Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước là hợp pháp. Ý nguyện của người mẹ cho toàn bộ tài sản cho con trai út để làm di sản thờ cúng cha mẹ là cũng phù hợp với văn hóa, phong tục tập quán của người miền N4. Đề nghị không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn nêu không biết việc mẹ đã tự ý đi lập di chúc cho riêng tài sản cho ông. Lý do được mẹ cho riêng tài sản này theo ông là do bản thân có sức khỏe kém không làm việc để có thu nhập.
Ông Nguyễn Hữu P1 do bà Nguyễn Hữu Mai V và ông Bùi Ngọc T đại diện ủy quyền, bà Nguyễn Thị Thúy H thống nhất với trình bày của phía nguyên đơn.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 2622/2023/DS –ST ngày 25/12/2023 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Áp dụng Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 464, điểm đ khoản 1 Điều 469, điểm a khoản 1 Điều 470, điểm a khoản 1 Điều 478 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 5, khoản 11 Điều 26; Điều 172; Điều 179; điểm b, điểm d khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 630; khoản 5 Điều 643 Bộ luật Dân sự;
Áp dụng Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước C5 ngày 30/12/2016 hướng dẫn về án phí, lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu của ông Nguyễn Thanh S chia đều hoa lợi và lợi tức có được từ tài sản chung do cha mẹ chết để lại từ phần đất thuộc thửa đất 588, tờ bản đồ 19 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh là 48.000.000 (bốn mươi tám triệu) đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh S Hủy Di chúc số 003220 ngày 16/9/2015 tại Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước, do Di chúc có hiệu lực pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông Nguyễn Thanh S đối với di sản của cụ Trần Thị L là quyền sử dụng đất đối với thửa đất 588, tờ bản đồ 18 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSDĐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn P hủy Di chúc số 003855 ngày 15/4/2015 của cụ Trần Thị Len L1 tại Văn phòng C4, Thành phố Hồ Chí Minh do không có hiệu lực pháp luật.
- Buộc ông Nguyễn Hữu P1 (1959), Nguyễn Thanh S (1962), Nguyễn Ngọc H1 (1967), Nguyễn Thị Thúy H (1971) trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSDĐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003 cho cụ Trần Thị Len . Trường hợp, hết thời hạn quy định sau khi bị đơn có yêu cầu trả giấy tại cơ quan thi hành án mà ông Nguyễn Hữu P1 (1959), Nguyễn Thanh S (1962), Nguyễn Ngọc H1 (1967), Nguyễn Thị Thúy H (1971) không thực hiện. Ông Nguyễn Văn P có quyền liên hệ Cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSDĐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003 cho cụ Trần Thị L; đồng thời, yêu cầu cấp mới Giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Văn P theo Di chúc số 003220 ngày 16/9/2015 của Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 26/12/2023, ông Nguyễn Hữu P1 (có đại diện ủy quyền là ông Nguyễn Hữu Mai V) và bà Nguyễn Thị Thúy H (Nguyễn Ngọc H1 ủy quyền cho bà H) làm đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Ngày 27/12/2023 ông Nguyễn Thanh S làm đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Nội dung kháng cáo của các đương sự cùng yêu cầu cấp phúc thẩm phân chia di sản thừa kế của cha mẹ cho 5 người con.
Tại phiên tòa người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đưa ra luận cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn:
- Hủy di chúc số 003220 ngày 16/9/2015 tại Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước.
- Chia thừa kế đối với di sản là quyền sử dụng đất thửa 588, tờ bản đồ số 18 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSDĐ/2003 do UBND huyện H cấp ngày 06/12/2003.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn và bị đơn không đồng ý yêu cầu của người kháng cáo, yêu cầu bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị bác tất cả kháng cáo của đương sự có kháng cáo, y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào trình bày của các đương sự, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của các đương sự nộp trong hạn luật định nên được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ án, cụ thể: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Ngọc H1 đang định cư tại nước ngoài. Do đó, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 464, điểm đ khoản 1 Điều 469, điểm a khoản 1 Điều 470, điểm a khoản 1 Điều 478 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.3] Xác định đúng quan hệ tranh chấp, cụ thể: Nguyên đơn yêu cầu khởi kiện hủy Di chúc số 003220 ngày 16/9/2015 tại Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước; công nhận Di chúc số 003855 ngày 15/4/2015 và chia thừa kế đối với di sản của cụ Trần Thị L là quyền sử dụng đất đối với thửa đất 588, tờ bản đồ 18 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSDĐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003 và chia đều hoa lợi lợi tức từ di sản thừa kế. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do Di chúc số 003220 ngày 16/9/2015 là hợp pháp, đồng thời có yêu cầu phản tố hủy Di chúc số 003855 ngày 15/4/2015 của Văn phòng C4, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, xác định quan hệ tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; chia thừa kế; chia hoa lợi, lợi tức từ di sản thừa kế, theo quy định tại khoản 5, khoản 11 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.4] Những người tham gia tố tụng: Căn cứ Sổ đăng ký tạm trú dùng cho nhà trọ, thì nội dung thể hiện trong số những người thuê thời hạn ngắn. Bị đơn có lời khai tự chịu trách nhiệm và nếu có tranh chấp với những việc liên quan đến thuê nhà trọ thì tự chịu trách nhiệm. Không yêu cầu đưa vào tham gia tố tụng, nếu có tranh chấp liên quan đến việc thuê nhà trọ thì giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu. Nguyên đơn rút yêu cầu chia hoa lợi và lợi tức có được từ tài sản chung do cha mẹ chết để lại từ phần đất thuộc thửa đất 588, tờ bản đồ 19 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh là 48.000.000 (bốn mươi tám triệu) đồng và không yêu cầu đưa những người này vào tham gia tố tụng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa những người thuê nhà trọ vào tham gia tố tụng như yêu cầu của các bên đương sự.
[1.5] Xét xử vắng mặt đương sự: Tòa án cấp phúc thẩm triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác có đơn xin xét xử vắng mặt, hoặc đã có ủy quyền. Do đó, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng đương sự.
[2] Xét nội dung kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy:
Cụ Trần Thị L, sinh năm 1940 chết năm 2017 và cụ Nguyễn Văn C, sinh năm 1935 chết năm 1983 chung sống với nhau và có 05 con chung là các ông ( bà): Nguyễn Hữu P1, sinh năm 1959, Nguyễn Thanh S, sinh năm 1962, Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1967, Nguyễn Văn P, sinh năm 1969 và Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1971. Hai cụ không có con nuôi, con riêng.
Cụ Trần Thị L được quyền sử dụng phần đất diện tích 879 m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSDĐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003 cho cụ Trần Thị L có nguồn gốc của cha mẹ cụ Nguyễn Văn C, chết để lại cho vợ chồng cụ Trần Thị Len . Cụ Nguyễn Văn C chết năm 1983. Đến năm 1999 cụ Trần Thị L đứng tên kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 29/5/2007 cụ Trần Thị L vay tiền tại Ngân hàng N7 thế chấp bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đến ngày 14/4/2015 các con của cụ L đã đứng ra trả nợ Ngân hàng và xóa thế chấp để nhận lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 15/4/2015, cụ Trần Thị Len L1 Di chúc số 003855 tại Văn phòng C4, Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung để lại di sản cho 05 người con có tên nêu trên ngay sau khi thời điểm giải chấp tại ngân hàng ngày 14/4/2015. Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSDĐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003 cho cụ đang được ông Nguyễn Thanh S cất giữ từ thời điểm đó.
Cụ Trần Thị Len L1 Di chúc số 003220 ngày 16/9/20215 tại Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước (gọi tắt là Di chúc 003220) với nội dung chỉ để lại di sản là 897m² đất cho ông Nguyễn Văn P.
Ngày 24/11/2017 cụ Trần Thị Len C1, các anh, chị em của ông P chuẩn bị thủ tục khai nhận di sản thừa kế thì mới biết di chúc số: 003220 nên tiến hành thủ tục khởi kiện đối với ông Nguyễn Văn P.
[2.1] Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét tính, đánh giá hợp pháp của di chúc 003220 ngày 16/9/20215 tại Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước (gọi tắt là Di chúc 003220):
Hồ sơ thể hiện khi lập di chúc số: 003200 ngày 16/9/2015 khi bà Trần Thị L không có bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Khoản 8 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014 quy định:
“Người yêu cầu công chứng đồng ý toàn bộ nội dung trong dự thảo hợp đồng giao dịch thì phải ký tên vào từng trang của hợp đồng, giao dịch. Công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng xuất trình bản chính các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này để đối chiếu trược khi ghi lời chứng, ký vào từng trang của hợp đồng giao dịch”.
Khoản 3 Điều 41 Luật công chứng năm 2014 quy định:
“Người yêu cầu công chứng tự đọc dự thảo hợp đồng, giao dịch công chứng hoặc công chứng viên đọc cho người yêu cầu công chứng nghe. Trường hợp người yêu cầu công chứng đồng ý toàn bộ nội dung trong dự thảo hợp đồng, giao dịch thì ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch. Công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng xuất trình bản chính của các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này để đối chiếu trước khi nghi lời chứng, ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch”.
Khoản 1 Điều 36 Nghị định 23/2025/CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ cũng quy định:
“c/ bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp các hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó; trừ trường hợp người lập di chúc đang bị cái chết đe dọa đến tính mạng”.
Đại diện hợp pháp của Văn phòng C4 khai nhiều mâu thuẫn:
Bản tự khai của ông Nguyễn Thanh P2 ngày 09/11/2020 và bà Nguyễn Ngọc N3 ngày 20/12/2021: “Tài sản là căn nhà địa chỉ 5 N, xã T, huyện H, TP . chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” (bl 436 – 437).
Bản tự khai ngày 15/8/2018 của ông Trần Minh T4 khai: “Di chúc lập ngày 16/9/2015 do V1 lập, bà L không xuất trình giấy tờ bản chính chỉ xuất trình bản phô tô ( bl 438).
Thực tế thì phía nguyên đơn và người liên quan giữ bản chính nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên tại điểm 5 phần quyết định.
Như vậy, Công chứng viên khi công chứng di chúc cho cụ Trần Thị L đã không tuân thủ quy định về việc xuất trình bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích trong di chúc.
[2.2] Vấn đề cụ Trần Thị L có biết chữ hay không?
Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 24/3/2022 và các đơn từ khác của cụ Trần Thị L gửi UBND xã T và các cơ quan nhà nước tại phần chữ ký thường do con con cháu viết, kê khai, làm dùm. Ví dụ: ký kê khai đất là “con kt”, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6140 LCT - 2014 ngày 24/10/2014 (bl 290), người làm chứng ông Nguyễn Quốc K1 ghi nhận: “Tôi có chứng kiến bà Trần Thị Len L1 hợp đồng này, bà L có nghe công chứng đọc và giải thích nội dung hợp đồng”. Di chúc số 003855 lập ngày 15/4/2015 lập tại Văn phòng C4, người làm chứng ông Dương Văn Q ghi nhận: “Bà Trần Thị L đã nghe tôi đọc lại di chúc đồng thời đã nghe Công chứng viên đọc lại”, phần lời chứng của công chứng viên cũng ghi nhận: “bà Trần Thị L đã nghe người làm chứng đọc lại di chúc, đồng thời công chứng viên đã đọc lại và giải thích rõ tính pháp lý của di chúc”.
Các người con của cụ L, trừ bị đơn đều cho rằng mẹ ông (bà) không biết chữ.
Như vậy, hồ sơ ngoài việc thể hiện có một vài chữ ký của bản thân, cụ Trần Thị L không có chứng cứ cho việc biết đọc, biết viết.
Trong khi đó bản di chúc số: 003220 lập ngày 16/9/2015 tại Văn phòng C4, Bình Phước có 02 người làm chứng là ông Hoàng Xuân Đ và bà Trịnh Thị H5 và công chứng viên đều khẳng định: “Cụ L đã tự đọc lại nội dung di chúc” ( bl 424-425). “Tôi đã đọc lại nội dung di chúc ..” ( bl 425). Bản di chúc này cũng không đề cập đến việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập trước đó.
Có cơ sở khẳng định cụ Trần Thị L không tự đọc được dự thảo di chúc trước khi ký tên, điểm chỉ. Theo Điều 131, 132 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn, lừa dối.
Hồ sơ vụ án thể hiện ông Nguyễn Văn P không biết cụ Trần Thị Len L1 di chúc số 003220 ngày 16/9/2015 vào thời gian nào? Không biết ai đã dẫn cụ Trần Thị L đến Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước để lập di chúc trên. Trong khi cụ Trần Thị L ở cùng nhà với ông Nguyễn Văn P, khoảng cách từ nơi cụ Trần Thị L ở đến Văn phòng C4 khoảng 100 km. Thời điểm này cụ Trần Thị L đã 75 tuổi và theo Hồ sơ khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đa khoa huyện H ngày 13/4/2015 và 14/9/2015 thì cụ Trần Thị L bị nhiều bệnh nền: Thoái hóa xương khớp, lão thị, tiếp xúc chậm, cao huyết áp ....
Luật sư của nguyên đơn đưa ra chứng cứ về người làm chứng và Văn phòng C4, Bình Phước tại thời điểm lập di chúc là thành viên của Thịnh Trí G 02 người làm chứng ông Hoàng Xuân Đ và bà Trịnh Thị H5 là luật sư/chuyên viên pháp lý của Công ty L6.
“Hai người làm chứng kể trên là do tôi lựa chọn và mời đến”. (bl 425).
Trong khi tại phiên tòa ông Hoàng Xuân Đ khai ông vô tình đi đến Văn phòng C4.
[2.3] Di sản trong di chúc là tài sản riêng của cụ Trần Thị L hay tài sản chung của vợ chồng cụ Trần Thị L:
Bản án sơ thẩm tại mục [5.1] cho rằng: “Mặc dù tài sản có nguồn gốc của cha mẹ cụ Nguyễn Văn C chết để lại cho vợ chồng cụ Trần Thị Len . Cụ Nguyễn Văn C chết năm 1983. Đến năm 1999 cụ Trần Thị L đứng tên kê khai và được cấp giấy chứng nhận, trong quá trình giải quyết vụ án những người thừa kế hợp pháp của cụ Nguyễn Văn C và Trần Thị L không yêu cầu hủy giấy chứng nhận của cụ Trần Thị L”.
Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:
Khi còn sống cụ Trần Thị L tranh chấp với hộ ông Nguyễn Văn H6. Tại Biên bản hòa giải tranh chấp ngày 03/6/2011 và 24/6/2011 tại UBND xã T có ghi nhận: “Phần đất thửa 588 tờ bản đồ số 18 (TL1995) diện tích 897 m² (do bà L đứng tên quyền sử dụng đất số 3386QSD Đ/2003 do UBND huyện H cấp ngày 06/12/2003 thì phần đất này và thửa 71, tờ bản đồ số 18 thuộc một phần thửa đất số 94 (thửa cũ), tờ bản đồ số 2, thửa đất này (theo tài liệu trước năm 1975) do ông Nguyễn Văn L4 (là cha của ông Nguyễn Văn C – chồng bà L đăng ký).
Theo tài liệu chỉ thị số 299/TTg (năm 1982) phần đất này thuộc thửa 565 và 566, tờ bản đồ số 2 do ông Nguyễn Văn C là chồng bà L đăng ký.
Đến năm 1999 cụ L đăng ký nhà, đất (theo tờ đăng ký nhà, đất ngày 08/9/1999) cụ L khai: đất của ông bà để lại từ năm 1970.
Công văn số 1149/UBND –TNMT của UBND huyện H ngày 29/5/2023 cũng xác định; “theo danh sách do UBND xã T lập các hộ dân đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003, đất bà Trần Thị L đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc “đất thân tộc”.
Với những chứng căn cứ trên nguồn gốc thửa đất tranh chấp tại di chúc là của vợ chồng cụ Trần Thị Len . Tòa án cấp sơ thẩm cho là tài sản riêng của cụ L là không phù hợp.
Cụ Nguyễn Văn C chết năm 1983. Ngày 06/12/2017 ông Nguyễn Thanh S khởi kiện chia thừa kế là còn trong thời hiệu 30 năm theo Khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2015 và án lệ số 26/2018 về xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia thừa kế là bất động sản.
[3] Từ những phân tích trên cho thấy yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ chấp nhận.
Xác định di chúc số 003220 ngày 16/9/2015 của cụ Trần Thị Len L1 tại Văn phòng C4 vô hiệu. Hủy bản di chúc này.
Xác định di chúc số 003855 ngày 15/4/2015 của cụ Trần Thị Len L1 tại Văn phòng C4 vô hiệu một phần – phần tài sản của cụ Nguyễn Văn C.
Ông Nguyễn Văn P cung cấp các chứng cứ xác định mua bán vật tư, thuê nhân công xây dựng trên đất, phía nguyên đơn và người liên quan kháng cáo không đưa ra được chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử xác định phần tài sản trên đất là của bị đơn Nguyễn Văn P.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn rút lại yêu cầu chia đều hoa lợi và lợi tức có được từ tài sản chung do cha mẹ để lại từ phần đất đang tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn, không ai kháng cáo, không bị kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
Do ngay sau khi bà Trần Thị Len C1 đã xảy ra tranh chấp và ông Nguyễn Văn P đã hưởng hoa lợi trên đất nên không được chia công sức đóng góp.
Do cụ Trần Thị Len L1 chi chúc số 003855 ngày 15/4/2015 chia đều tài sản cho các con, cụ Nguyễn Văn C không để lại di chúc nên tài sản của cụ Nguyễn Văn C cũng được chia đều cho những người thừa kế.
Từ đó, phần diện tích tại thửa 588, tờ bản đồ số 18 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSD Đ/2003 do UBND huyện H (theo giấy 897 m² theo đo đạc thực tế 866,7 m²) được phân chia đều cho 5 người con của hai cụ là Nguyễn Thanh S, Nguyễn Thanh P3, Nguyễn Hữu P1, Nguyễn Ngọc H1 và Nguyễn Thị Thúy H. Mỗi người là 866,8 m²/5 = 173,36 m². Bà Nguyễn Ngọc H1 đang sinh sống tại Australia nên phần di sản bằng hiện vật giao cho bà Nguyễn Thị Thúy H nhận và phân trả bằng tiền. Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được thì giao diện tích đất trên cho cơ quan Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh bán đấu giá để phân chia bằng tiền cho các đương sự. Phần tài sản trên đất của bị đơn Nguyễn Văn P, các đương sự phân chia bằng đất thì được sở hữu, sử dụng công trình, vật kiến trúc trên đất và phải trả cho ông P giá trị tài sản theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T5 ngày 22/3/2019, mỗi người là 1/5 giá trị công trình: 827.820.000 đồng : 5 = 165.564.000 đồng.
Do kháng cáo được chấp nhận nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, án phí dân sự sơ thẩm được tính lại trên di sản được phân chia.
Giá trị quyền sử dụng đất theo chứng thư định giá là 22.615.571 đồng/m². Ông Nguyễn Thanh S và bà Nguyễn Ngọc H1 là người cao tuổi nên được miễn.
Phần giá trị tài sản thừa kế mỗi đương sự được hưởng: 22.615.571 đồng/m² x 866,7 m² = 3.920.635.000 đồng (ba tỷ, chín trăm hai mươi triệu, sáu trăm ba lăm nghìn đồng). Tiền án phí dân sự sơ thẩm theo giá ngạch bằng: 72.000.000 đồng + (3.920.635.000 đồng – 2.000.000.000 đồng) x 2% = 110.412.600 đồng.
Ông Nguyễn Thanh S phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng (Do có yêu cầu và đã nộp xong).
Ông Nguyễn Văn P khởi kiện (phản tố) được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí phần phản tố.
Về án phí dân sự: Các đương sự không phải chịu do kháng cáo được chấp nhận.
Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Hữu P1, bà Nguyễn Thị Thúy H; sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng Khoản 5, khoản 11 Điều 26, Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 296, Điều 464, điểm đ khoản 1 Điều 469, điểm a khoản 1 Điều 470, điểm a khoản 1 Điều 478 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 126, 127, 128, khoản 1, khoản 4 Điều 630; khoản 4 Điều 643 Bộ luật Dân sự;
Khoản 8 Điều 40, khoản 3 Điều 41 Luật Công chứng;
Áp dụng Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước C5 ngày 30/12/2016 hướng dẫn về án phí, lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận việc rút yêu cầu của ông Nguyễn Thanh S về việc chia hoa lợi, lợi tức có được từ tài sản chung do cha mẹ để lại. Đình chỉ yêu cầu của ông Nguyễn Thanh S chia đều hoa lợi và lợi tức có được từ tài sản chung do cha mẹ chết để lại từ phần đất thuộc thửa đất 588, tờ bản đồ 19 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh là 48.000.000 (bốn mươi tám triệu) đồng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh S, Hủy Di chúc số 003220 ngày 16/9/2015 tại Văn phòng C4, tỉnh Bình Phước, do Di chúc có hiệu lực pháp luật.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông Nguyễn Thanh S đối với di sản của cụ Trần Thị L là quyền sử dụng đất đối với thửa đất 588, tờ bản đồ 18 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSDĐ/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 06/12/2003.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn P hủy một phần Di chúc số 003855 ngày 15/4/2015 của cụ Trần Thị Len L1 tại Văn phòng C4, Thành phố Hồ Chí Minh phần di sản của cụ Nguyễn Văn C (phần di sản của cụ L có hiệu lực pháp luật).
- Phân chia di sản của cụ Trần Thị L và cụ Nguyễn Văn C thành 5 phần bằng nhau, mỗi người con của cụ L, cụ C được hưởng 1/5 di sản của 2 cụ để lại, cụ thể:
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền được thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu khởi kiện thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Diện tích đất tại thửa 588, tờ bản đồ số 18 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3386 QSD Đ/2003 do UBND huyện H (theo giấy 897m² theo đo đạc thực tế 866,7 m²) là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và Trần Thị L; phân chia đều cho 5 người con của hai cụ là Nguyễn Thanh S, Nguyễn Thanh P3, Nguyễn Hữu P1, Nguyễn Ngọc H1 và Nguyễn Thị Thúy H. Mỗi người là 866,8 m²/5 = 173,36 m². Do bà Nguyễn Ngọc H1 đang sinh sống tại Australia nên phần di sản bằng hiện vật giao cho bà Nguyễn Thị Thúy H nhận và phân trả bằng tiền. Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được thì giao diện tích đất trên cho cơ quan Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh bán đấu giá để phân chia bằng tiền cho các đương sự.
Phần tài sản, công trình, vật kiến trúc trên đất là của bị đơn Nguyễn Văn P.
Trường hợp các đương sự phân chia bằng đất thì được hưởng công trình, vật kiến trúc trên đất và trả giá trị tài sản trên đất cho ông P, mỗi người trả: 165.564.000 đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thanh S (1962) không phải chịu do có đơn xin miễn giảm án phí thuộc trường hợp người cao tuổi. Ông Nguyễn Văn P được chấp nhận toàn bộ yêu cầu không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Thanh S được nhận lại số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu số AA/2017/0048533 ngày 03/01/2018 và được nhận lại số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu số AA/2019/0045053 ngày 28/11/2019 cùng của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Văn P được nhận lại số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu số AA/2019/0045069 ngày 29/11/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Thanh S phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng đã tạm ứng gồm đo vẽ, thẩm định tại chỗ, thẩm định giá. Ghi nhận đã thực hiện xong.
Thực hiện tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thúy H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, bà H được nhận lại số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo B1 lại thu số 0031657 ngày 15/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1); - TAND Tp Hồ Chí Minh (1); - VKSND Tp Hồ Chí Minh (1); - Cục THADS Tp Hồ Chí Minh (1); - Đương sự (18); - Lưu VP(6), HS(2). 30b.TTPT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Phạm Trí Tuấn |
Bản án số 972/2024/DS-PT ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; chia thừa kế; chia hoa lợi, lợi tức từ di sản thừa kế.
- Số bản án: 972/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; chia thừa kế; chia hoa lợi, lợi tức từ di sản thừa kế.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Thanh S kiện Ông Nguyễn Văn P về việc “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; chia thừa kế; chia hoa lợi, lợi tức từ di sản thừa kế”. Tuyên xử Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thanh S, ông Nguyễn Hữu P, bà Nguyễn Thị Thúy H; sửa bản án sơ thẩm
