TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 970/2024/DS-ST
Ngày : 04/9/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Bích Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Xuân Nam
- Bà Nguyễn Thị Túy Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Bùi Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1000/2023/TLST-DS ngày 07/11/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2024/QÐST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 173/2024/QÐST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ
Trụ sở: B N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Y Warn B, sinh năm 1994, (Giấy ủy quyền số 7750/UQ-PVB ngày 10/10/2022)
Địa chỉ: Lầu B, B L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Trần Ngọc L1, sinh năm 1988
Bà Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm: 1990
Cùng địa chỉ: 1 L, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/10/2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ, có ông Y Warn B đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 04/6/2019, Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh G (gọi tắt là Ngân hàng Đ) có ký Hợp đồng cho vay số 0306/2019/HĐTD/PVB-CN.GĐ (Hợp đồng tín dụng) cùng khế ước nhận nợ số LD1915584102 với ông Trần Ngọc L1 và bà Huỳnh Thị Thanh T để cho ông L1 bà T vay số tiền 848.000.000 đồng. Lãi suất từ ngày 04/6/2019 đến 03/6/2020: 8.99%/năm; từ ngày 04/6/2020 lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần. Thời hạn vay: 72 tháng. Phương thức trả nợ: nợ gốc được chia thành 72 kỳ, mỗi kỳ 01 tháng, trả vào ngày 10 hàng tháng, kỳ thứ 1 đến kỳ thứ 71 trả 11.780.000đồng; kỳ thứ 72 trả 11.620.000đồng. Trả nợ lãi vào ngày 10 hàng tháng. Mục đích vay: thanh toán tiền mua xe ô tô Toyota Fortuner, màu nâu, biển kiểm soát: 51H-061.42.
Để bảo đảm cho khoản vay, ông L1 và bà T đã thế chấp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại: Fortuner, màu nâu, biển số: 51H-061.42 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông L1 bà T theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 472387 do Phòng C, Công an Thành phố H cấp ngày 31/5/2019 bằng hợp đồng thế chấp số 306/2019/HĐBD/PVB-CN.GĐ ngày 04/6/2019 được Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận vào lúc 8 giờ 51 phút ngày 04/6/2019 có số đăng ký 1329153003.
Quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên, ông L1 bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, chỉ thanh toán được tổng số tiền: 291.068.036 đồng (trong đó tiền gốc: 188.524.699đồng, tiền lãi trong hạn: 102.543.337đồng) rồi ngưng cho đến nay mặc dù Ngân hàng Đại chúng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở ông bà. Ngày 26/01/2021, Ngân hàng đã gửi thông báo số 628/PVB-QL&TCTTS v/v vi phạm nghĩa vụ và thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản vay của ông L1 bà T.
Tại biên bản hòa giải không thành và tại phiên tòa hôm nay, Ngân hàng Đại chúng có các yêu cầu cụ thể:
- Buộc ông L1 bà T phải thanh toán ngay một lần tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 04/9/2024 là 1.143.779.953đồng [tổng nợ gốc: 659.475.301đồng, (trong đó gốc trong hạn: 117.640.000đồng, gốc quá hạn: 541.835.301đồng); lãi trong hạn: 204.922.425đồng; lãi quá hạn: 226.048.837 đồng; lãi chậm trả: 53.333.390 đồng].
- Buộc ông L1 bà T thanh toán phần nợ lãi phát sinh tính theo lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 306/2019/HĐTD/PVB-CN.GĐ ngày 04/6/2019 kể từ ngày 05/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông L1 bà T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi quá hạn phát sinh thì N hành TMCP Đại chúng Việt Nam có quyền yêu cầu Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thi hành bản án, kê biên phát mãi tài sản đảm bảo là Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại: FORTUNER, màu sơn: Nâu, Số khung: MHFJB3GS4K1102961, số máy: 2GDC519847, biển số: 51H-061.42, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 472387 do phòng C – công an Thành phố H cấp ngày 31/5/2019 cho ông Trần Ngọc L1 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
- Số tiền thu được từ việc bán xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông L1 bà T đối với Ngân hàng TMCP Đ. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông L1 bà T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
Trong suốt quá trình xét xử và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Trần Ngọc L1 và bà Huỳnh Thị Thanh T vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Về quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T, là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền: ông L1 và bà T cùng có nơi cư trú tại địa chỉ: 1 L, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về tố tụng:
Theo nội dung Hợp đồng cho vay số 306/2019/HĐTD/PVB-CN.GĐ và khế ước nhận nợ số LD1915584102 cùng ngày 04/6/2019, ông L1 bà T cung cấp hộ khẩu thường trú và địa chỉ ở hiện tại: 1 L, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ kết quả cung cấp chứng cứ của Công an phường D, quận P thì: “đương sự Trần Ngọc L1 và Huỳnh Thị Thanh T có hộ khẩu thường trú tại 1 L, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện không thực tế cư trú, không khai báo nơi ở hiện tại”.
Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đương sự làm bản tự khai, ghi nhận ý kiến; thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải với nguyên đơn; quyết định đưa vụ án ra xét xử; giấy triệu tập đương sự tham gia phiên tòa; quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T đều không có mặt tại Tòa nên đã vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ, tự tước bỏ
quyền được chứng minh của mình, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án cũng niêm yết thông báo kết quả phiên họp về giao nộp, tiếp cập, công khai chứng cứ cho bị đơn theo quy định tại Khoản 3 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét giải quyết vụ án sơ thẩm trong phạm vi yêu cầu và các chứng cứ của đương sự giao nộp, các bên đương sự thừa nhận, không có ý kiến phản đối là đảm bảo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 6, Điều 91, 92, 95, 96 và Điều 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu khởi kiện, lời trình bày cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án và tiến hành xét xử vắng mặt ông L1 bà T theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Căn cứ vào hợp đồng cho vay số 306/2019/HĐTD/PVB-CN.GĐ ngày 04/6/2019 được lập và có chữ ký xác nhận giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T, đủ cơ sở để xác định Ngân hàng Đại chúng đã cho ông L1 bà T vay số tiền 848.000.000 đồng.
Căn cứ vào khế ước nhận nợ số LD1915584102, đơn đề nghị giải ngân và Ủy nhiệm chi cùng ngày 04/6/2019, hợp đồng mua bán xe ô tô qua tín dụng ngân hàng, đủ cơ sở xác định Ngân hàng TMCP Đ đã giải ngân số tiền 848.000.000 đồng cho ông L1 bà T, bằng hình thức chuyển khoản qua số tài khoản 114000052145 cho người thụ hưởng: Công ty cổ phần T1 để thanh toán tiền mua xe ô tô Toyota Fortuner, màu nâu, biển kiểm soát: 51H-061.42 mới 100%.
Căn cứ vào hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0306/2019/HĐBĐ/PVB-CN.GĐ ngày 04/6/2019 được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận vào lúc 8 giờ 51 phút ngày 04/6/2019 có số đăng ký 1329153003 được lập và có chữ ký xác nhận giữa Ngân hàng Đ và ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T đủ cơ sở để xác định ông L1 bà T đã thế chấp quyền sở hữu/ sử dụng chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại: Fortuner, màu nâu, số khung: MHFJB3GS4K1102961, số máy: 2GDC519847, biển số: 51H-061.42 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 472387 do Phòng C – công an Thành phố H cấp ngày 31/5/2019 cho ông Trần Ngọc L1 để đảm bảo cho khoản vay 848.000.000đồng.
Theo thỏa thuận trong hợp đồng cho vay số 306/2019/HĐTD/PVB-CN.GĐ ngày 04/6/2019 thì thời hạn vay: 72 tháng kể từ ngày bên vay rút vốn vay lần đầu. Tuy chưa hết thời hạn thanh toán nhưng vì ông L1 bà T đã liên tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán gốc lãi hàng tháng theo định kỳ: nợ gốc được chia thành 72 kỳ, mỗi kỳ 01 tháng, trả vào ngày 10 hàng tháng, kỳ thứ 1 đến kỳ thứ 71 trả 11.780.000đồng; kỳ thứ 72 trả 11.620.000đồng. Trả nợ lãi vào ngày 10 hàng tháng nhưng ông L1 bà T chỉ trả đều được 16 kỳ (từ tháng 7/2019 đến tháng 10/2020) rồi
ngưng cho đến nay là đã vi phạm vào Mục B Thanh toán của Bản Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng của Hợp đồng cho vay và Khế ước nhận nợ cùng ngày 04/6/2019, xâm phạm đến quyền và lợi ích của nguyên đơn nên Ngân hàng Đại chúng yêu cầu ông L1 bà T phải thanh toán gốc và lãi trước thời hạn làm một lần kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật là yêu cầu chính đáng, có căn cứ. Theo xác nhận của Ngân hàng TMCP Đ, ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T còn nợ Ngân hàng Đại chúng tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 04/9/2024 là 1.143.779.953đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đại chúng đối với ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T là có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ vào biên bản làm việc ngày 08/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận với đại diện của Công ty cổ phần T1, thì giữa Công ty và ông L1 bà T có ký kết Hợp đồng mua bán xe ô tô qua tín dụng Ngân hàng số 506/HĐMB/TESC ngày 25/3/2019 để mua bán xe ô tô nhãn hiệu Toyota, F màu nâu và Ngân hàng Đ đã thanh toán thay cho ông L1 bà T số tiền 848.000.000đồng bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 114000052145 của Công ty. Công ty đã bàn giao xe cho ông L1 bà T, 02 bên cũng thanh lý xong hợp đồng và Công ty không liên quan gì đến việc vay nợ của ông L1 bà T với Ngân hàng Đ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết đưa Công ty cổ phần T1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận đã nhiều lần triệu tập ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T đến Tòa để lấy lời khai, ghi nhận ý kiến của ông bà về những vấn đề liên quan đến vụ án nhưng ông L1 bà T vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp cũng như kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông bà vẫn không đến Tòa án và cũng không có văn bản trả lời cho Tòa án biết. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đại chúng đối với ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T là có cơ sở chấp nhận. Tại phiên tòa hôm nay, ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T vẫn vắng mặt không có lý do, cũng như không đưa ra bất kỳ một phản hồi hoặc chứng cứ nào để chứng minh cho quan điểm của mình. Vì vậy, ông L1 bà T phải chịu hậu quả đối với hành vi của mình.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu ý kiến:
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm, ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T phải chịu. Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 280, Điều 299, Điều 323, Điều 351, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền gốc và lãi còn nợ của hợp đồng cho vay số 0306/2019/HĐTD/PVB-CN.GĐ ngày 04/6/2019 tạm tính đến ngày 04/9/2024 là 1.143.779.953đồng, cụ thể:
- Tổng nợ gốc 659.475.301đồng, (trong đó gốc trong hạn: 117.640.000đồng, gốc quá hạn: 541.835.301đồng).
- Nợ lãi trong hạn: 204.922.425đồng.
- Nợ lãi quá hạn: 226.048.837 đồng
- Nợ lãi chậm trả: 53.333.390đồng
Thi hành một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T không thanh toán số tiền còn nợ nêu trên, thì Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sở hữu/sử dụng chiếc xe ô tô màu nâu, nhãn hiệu Toyota, số loại: Fortuner, số khung: MHFJB3GS4K1102961, số máy: 2GDC519847, biển số: 51H-061.42 đứng tên của ông Trần Ngọc L1 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 472387 do Phòng C – Công an Thành phố H cấp ngày 31/5/2019.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử, nếu ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T không thi hành số tiền nêu trên thì ông L1 bà T phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận trong hợp đồng cho vay số 0306/2019/HĐTD/PVB-CN.GĐ ngày 04/6/2019 giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T.
2. Về án phí:
Ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T phải chịu án phí sơ thẩm là 46.313.399đồng (Bốn mươi sáu triệu ba trăm mười ba ngàn ba trăm chín mươi chín đồng).
H lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí 20.741.000đồng theo Biên lai thu tiền số 0022466 ngày 02/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự đã sửa đổi bổ sung năm 2014.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Ông Trần Ngọc L1, bà Huỳnh Thị Thanh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thụy Bích Ngọc |
Bản án số 970/2024/DS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 970/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
