|
HTÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2024 “V/v tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trọng Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tua;
2. Ông Huỳnh Minh Kha.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hol – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2024/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 198/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Văn H, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Trần Thị X, sinh năm 1980 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Đặng Văn H trình bày: Ông và bà Trần Thị X tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2000, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn muộn vào năm 2011. Thời gian sống đầu vợ chồng rất hạnh phúc. Thời gian sau, ông và bà X phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân vì bất đồng quan điểm trong cuộc sống kéo dài nên vợ chồng thường xảy ra cải vã, tình cảm rạn nứt, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Mặc dù, vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng tất cả đều không thành. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không giải quyết được. Nay nguyên đơn nhận thấy tình trạng hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bà Trần Thị X.
Về con chung: Có 02 con chung tên Đặng Thị Cẩm N, sinh 2002 và Đặng Hoàng P, sinh ngày 14/12/2012, hiện cháu N đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, đối với cháu P yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của cháu.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Trần Thị X trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Về mâu thuẫn của vợ chồng bà cho rằng nguyên đơn có người đàn bà khác nên bà cũng không muốn hàn gắn. Nay ông H yêu cầu ly hôn bà cũng thống nhất ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung tên Đặng Thị Cẩm N, sinh 2002 và Đặng Hoàng P, sinh ngày 14/12/2012, hiện cháu N đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, đối với cháu P yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của cháu là sống cùng với bị đơn và bị đơn cũng không yêu cầu nguyên đơn cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn xuất phát từ sự tự nguyện, quá trình sống chung có đăng ký kết hôn theo luật định nên được pháp luật thừa nhận. Do mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân: Bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên vợ chồng thường xảy ra cự cãi, gia đình không hạnh phúc. Vợ chồng đã nhiều lần hòa giải, hàn gắn tình cảm nhưng đều không thành. Nguyên đơn, bị đơn đã được Hội đồng xét xử động viên đoàn tụ nhưng vẫn cương quyết ly hôn. Hơn nữa, bị đơn cũng thống nhất ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn. Từ đó, cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
[4] Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có hai con chung tên Đặng Thị Cẩm N, sinh 2002 và Đặng Hoàng P, sinh ngày 14/12/2012, hiện cháu N đã trưởng thành nên không xem xét, đối với cháu P có nguyện vọng là sống cùng với bị đơn và bị đơn cũng yêu cầu nuôi dưỡng cháu P nên Hội đồng xét xử giao cháu P cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con do bị đơn không yêu cầu nguyên đơn cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét
[6] Án phí hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải nộp 300.000đồng.
[7] Các đương sự được quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51; Điều 53; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Văn H được ly hôn với bà Trần Thị X.
- Về con chung: Bị đơn bà Trần Thị X được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đặng Hoàng P, sinh ngày 14/12/2012. Nguyên đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho nguyên đơn không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn ông Đặng Văn H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008544 ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
- Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Hậu Giang;
- - VKSND huyện Vị Thủy;
- - Chi cục THADS huyện Vị Thủy;
- - UBND xã Vị Đông, huyện Vị Thủy;
- - Những người tham gia tố tụng;
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Trọng Nghĩa |
Bản án số 97/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 97/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
