Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PELIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 97/2024/HS-ST

Ngày: 31-5-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Bá Lý;
  • Bà Nguyễn Thị Bích Thủy.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đại Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Nguyễn Thanh An - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 361/TB-TA ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Anh V; tên gọi khác: B; sinh năm 1991 tại Gia Lai; CCCD: [...]; nơi thường trú: Tổ D, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai; chỗ ở: Tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Thợ sắt; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H (đã chết) và bà Phạm Thị H1; có vợ là chị Nguyễn Thị L và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/8/2017, bị Công an thành phố P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy số tiền 1.000.000 đồng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/01/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người chứng kiến: Ông Trần Văn C, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Anh V sử dụng chất ma túy (loại Ketamine và MDMA) từ năm 2017; qua mối quan hệ ngoài xã hội, V có số điện thoại của đối tượng N (không rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 25/12/2023, V gọi điện thoại cho N hỏi mua ma túy để sử dụng; N đồng ý và hẹn gặp nhau tại khu vực đầu hẻm S đường C, tổ F, phường H, thành phố P. Sau đó, V đi bộ từ nhà đến điểm hẹn gặp N mua 04 gói ma túy Khay và 03 viên thuốc Lắc với giá 3.000.000 đồng. V mang số ma túy này về nhà tại hẻm A đường C, tổ F, phường H, thành phố P, rồi cất giấu vào hộp nhựa màu đen để trong thùng gạo tại phòng bếp, với mục đích để sử dụng dần. Từ ngày 26/12/2023 đến ngày 01/01/2024, V đã sử dụng hết 01 gói ma túy Khay và 01 viên thuốc Lắc. Đến 16 giờ ngày 02/01/2024, khi V đang ở nhà tại hẻm S đường C thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an thành phố P phát hiện bắt quả tang; thu giữ trong thùng gạo tại phòng bếp của V vật chứng gồm: 01 hộp nhựa màu đen kích thước (6x4x1,8)cm, bên trong có 03 gói nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể và 01 gói nilon chứa 02 viên nén màu hồng (được niêm phong theo quy định). Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của V 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung, màu đen kèm sim số.

Tại Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 02/01/2024, xác định Huỳnh Anh V dương tính với ma túy loại MDMA và Ketamine.

Tại bản Kết luận giám định số 86/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của phòng K Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 03 gói nilon được niêm phong trong bì công văn là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 2,7672 gam. 02 viên nén màu hồng trong 01 gói nilon được niêm phong trong bì công văn đều là ma túy, loại MDMA, khối lượng 0,7991 gam”.

Vật chứng của vụ án, gồm:

  • + Chất ma túy loại MDMA và Ketamine còn lại sau giám định trong bì công văn ghi số 86/PC09 ngày 10/01/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G;
  • + 01 chiếc điện thoại hiệu Sam Sung màu đen, kèm sim số;
  • + 01 hộp nhựa màu đen kích thước (6x4x1,8)cm;

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên và không có ý kiến gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 104/CT-VKS ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Huỳnh Anh V, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Huỳnh Anh V và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt:

Áp dụng điểm c, g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Anh V từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bì công văn dán kín ghi số 86/PC09 ngày 10/01/2024 dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G (có chữ ký họ và tên của Hoàng V1, Nguyễn Tất N1, Bùi Sỹ T); 01 thẻ sim và 01 hộp nhựa màu đen kích thước (6x4x18)cm. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen.

Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Anh V phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Căn cứ vào các tình tiết, chứng cứ nêu trên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên thành phố P trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào lúc 16 giờ ngày 02/01/2024, tại nhà không số hẻm số A đường C, tổ F, phường H, thành phố P, khi Huỳnh Anh V đang cất giấu 0,7991 gam ma túy loại MDMA và 2,7672 gam ma túy loại Ketamine, nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Như vậy, hành vi tàng trữ 0,7991 gam ma túy loại MDMA và 2,7672 gam ma túy loại Ketamine với mục đích để sử dụng, do bị cáo Huỳnh Anh V thực hiện như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội. Theo Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì tổng khối lượng 02 chất ma túy loại MDMA và Ketamine mà Huỳnh Anh V tàng trữ để sử dụng, dưới mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo Huỳnh Anh V đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c, g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các yếu tố khác có liên quan nhằm xác định tội phạm và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về nhân thân: Bị cáo Huỳnh Anh V có nhân thân xấu, ngày 02/8/2017, bị Công an thành phố P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với số tiền 1.000.000 đồng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Hành vi của bị cáo Huỳnh Anh V là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý sử dụng độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo Huỳnh Anh V là thanh niên có sức khỏe nhưng bị cáo đã đi vào con đường nghiện ngập sử dụng ma túy. Bản thân bị cáo nhận thức được tính nguy hiểm của việc sử dụng trái phép chất ma túy, nó không chỉ là tác nhân gây nguy hại lớn cho sức khoẻ của con người khi sử dụng, người dùng sẽ gặp ảo giác, hủy hoại trí óc và cơ thể nếu ai nghiện ngập nó mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và tội phạm xã hội khác.

Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung đối với tội phạm.

Đối với đối tượng tên N mà bị cáo Huỳnh Anh V khai là người đã bán ma túy cho V vào ngày 25/12/2023: Do bị cáo không biết nhân thân, lai lịch của N; Cơ quan điều tra đã tiến hành mở danh bạ, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn trong chiếc điện thoại đã thu giữ của V nhưng do sau khi liên lạc với N mua ma túy xong, V đã xóa nên không xác định được số điện thoại của N và thông tin liên quan đến việc mua bán ma túy. Do đó, chưa có căn cứ điều tra, xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ xem xét và xử lý sau là phù hợp.

Đối với chị Nguyễn Thị L (là vợ của bị cáo Huỳnh Anh V), qua điều tra xác định: Chị L ở cùng nhà với bị cáo V nhưng việc V cất giấu và sử dụng ma túy trong nhà thì chị L không biết, nên không có căn cứ để xử lý là có cơ sở.

Đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0004850 ngày 02/8/2017 của Công an thành phố P đối với Huỳnh Anh V về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi hết thời hiệu, Huỳnh Anh V chưa nộp số tiền này vào Ngân sách Nhà nước theo quy định, đồng thời Công an thành phố P chưa ra Quyết định cưỡng chế đối với Huỳnh Anh V. Căn cứ Điều 6; Điều 86 và Điều 87 Luật xử lý vi phạm hành chính thì bị cáo Huỳnh Anh V thuộc trường hợp đương nhiên được xóa tiền sự. Hội đồng xét xử kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku xem xét trường hợp Công an thành phố P không ra Quyết định cưỡng chế đối với Huỳnh Anh V trong thời hiệu thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0004850 ngày 02/8/2017 của Công an thành phố P theo quy định pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Huỳnh Anh V không có tài sản riêng, không đảm bảo thi hành án đối với hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bì công văn dán kín ghi số 86/PC09 ngày 10/01/2024 dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G (có chữ ký họ và tên của Hoàng V1, Nguyễn Tất N1, Bùi Sỹ T); 01 thẻ sim và 01 hộp nhựa màu đen kích thước (6x4x18)cm cũ, đã qua sử dụng. Xét vật chứng không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu S màu đen. Xét vật chứng là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Anh V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm c, g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự.
  • - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
  • - Căn cứ Điều 106; 135; 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố:

Bị cáo Huỳnh Anh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt:

Bị cáo Huỳnh Anh V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 02/01/2024).

3. Về vật chứng: Tuyên:

  • - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đen.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì công văn dán kín ghi số 86/PC09 ngày 10/01/2024 dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G (có chữ ký họ và tên của Hoàng V1, Nguyễn Tất N1, Bùi Sỹ T); 01 thẻ sim và 01 hộp nhựa màu đen kích thước (6x4x18)cm cũ, đã qua sử dụng.

Theo Biên bản V/v giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/4/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai.

4. Về án phí:

Bị cáo Huỳnh Anh V phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 31/5/2024), bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - Cơ quan Thi hành án tỉnh Gia Lai;
  • - Cơ quan điều tra - Công an thành phố Pleiku;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an thành phố Pleiku;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ/VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoài Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 97/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Anh V - c,g K1 D249
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger