Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 97/2024/HS- ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Kha.

2. Ông Lý Đình Đạt.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà:Lương Mỹ Linh- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Ngô Tiến T - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 19/9/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ tên: Lò Văn T1; giới tính: Nam; tên gọi khác: không.

Sinh ngày 29 tháng 8 năm 1989 tại: huyện T, tỉnh Sơn La.

Nơi thường trú: bản Xam Phổng, xã É Tòng, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

Nơi ở: tổ dân phố Quang Biểu, phường Quang Châu, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không.

Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 09/12.

Tiền án, tiền sự: không.

Con ông: Lò Văn D, sinh năm 1943.

Con bà: Lò Thị K, sinh năm 1947.

Vợ: Hoàng Thị Đ, sinh năm 1993 (đã ly hôn)

Con: bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2010.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 19/4/2024, tạm giam từ ngày 27/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên toà).

2. Họ tên: Lò Thị B; giới tính: nữ; tên gọi khác: không.

Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982 tại: huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

Nơi thường trú: Bản Chóng B, xã Xa Dung, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

Nơi ở: tổ dân phố Quang Biểu, phường Quang Châu, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: không biết chữ.

Tiền án, tiền sự: chưa có

Con ông: Lò Văn H, (đã chết).

Con bà: Lò Thị Q.

Chồng: Lường Văn H1. (đã chết).

Con: Bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 19/4/2024, tạm giam từ ngày 27/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên toà).

* Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T1:

Luật sư Nguyễn Văn T2 - Văn phòng luật sư Phạm Xuân A và cộng sự, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. (có mặt)

Địa chỉ: Số B L, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo Lò Văn T1:

Ông Hoàng Trọng N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B.

Địa chỉ: Số F L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo Lò Thị B:

Luật sư Nguyễn Thị L – Văn phòng luật sư Kim Vĩnh A1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B.

Địa chỉ: Số D đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)

* Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo Lò Thị B:

Nguyễn Thị M – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B.

Địa chỉ: Số F L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Thân Quang H2, sinh năm 1976. (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh B. (vắng mặt).

* Người làm chứng:

1. Ông Lò Văn Ú, sinh năm 1993. (vắng mặt)

Địa chỉ: TDP N, thị trấn N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

2. Ông Giáp Văn D1, sinh năm 1989. (vắng mặt).

Địa chỉ: tổ dân phố Q, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các bị cáo Lò Văn T1Lò Thị B bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 19/4/2024, tại đoạn đường thuộc tổ dân phố Q, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang tổ công tác của Công an thị xã V phối hợp với công an phường Q tuần tra, phát Lò Văn T1, sinh năm 1989, trú tại bản X, xã É, huyện T, tỉnh Sơn La có hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ:

- T2 tại lòng bàn tay trái của Lò Văn T1 01 (một) gói giấy hai mặt màu trắng bạc bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý.

- T2 trong túi quần bên phải phía trước của Lò Văn T1 01 (một) gói giấy hai mặt màu trắng bạc bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý.

Cả 02 gói giấy bạc trên được cho vào phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT” (BL: 55-57).

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lò Văn T1 tại lán công trường thuộc tổ dân phố Q, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang thu giữ đồ vật, tài sản sau:

- Thu tại đầu giường ngủ của Lò Văn T1:

+ 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý.

+ 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa viền màu đỏ, bên trong đựng 06 (sáu) gói giấy bạc màu trắng bên trong đều chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý.

+ 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, một mặt túi có nhiều chữ, nhiều màu, bên trong đựng 50 (năm mươi) gói giấy bạc màu trắng và 05 (năm) gói giấy bạc màu nâu xám bên trong các gói đều chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý.

+ 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý.

Tất cả được cho vào phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “KX1”

+ 01 (một) cân tiểu ly.

+ 01 (một) dao lam.

Tất cả được cho vào phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “KX2”.

Ngoài ra, còn thu giữ một số đồ vật, tài sản tài sản khác gồm: Các mảnh giấy bạc, cân điện tử, điện thoại di động, số tiền 5.000.000 đồng, căn cước công dân mang tên Lò Thị B (BL: 58-63).

Quá trình khám xét có Lò Thị B, sinh năm 1982, trú tại Bản C, xã X, huyện Đ, tỉnh Điện Biên là người ở cùng với T1. Khi được mời về Cơ quan điều tra làm việc, Lò Thị B xin đầu thú và khai nhận đã giúp sức cho Lò Văn T1 mua bán trái phép chất ma tuý (BL:180).

Tại kết luận giám định số 938/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:

- Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định:

+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đều là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 3,292 gam.

- Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX1” được niêm phong gửi giám định:

+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, loại heroine, khối lượng 1,162gam.

+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 06 (sáu) gói giấy bạc màu trắng (bên ngoài là 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ) đều là ma tuý, loại heroine, tổng khối lượng 1,495 gam.

+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 55 (năm mươi lăm ) gói giấy bạc gói giấy bạc (trong đó có 50 (năm mươi) gói giấy bạc màu trắng và 05 (năm gói giấy bạc màu nâu -xám) (tất cả được để trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, một mặt túi có nhiều chữ, nhiều màu) đều là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 3,287gam.

+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng là ma tuý, loại Heroine, khối lượng 34,187gam.

- Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX2” được niêm phong gửi giám định:

+ Trên 01 (một) cân tiểu ly có tìm thấy chất ma tuý bám dính, loại Heroine, không xác định được khối lượng mẫu.

+ Trên 01 (một) dao lam bằng kim loại có tìm thấy chất ma tuý bám dính, loại Heroine, không xác định được khối lượng mẫu (BL: 167-170).

Kết quả điều tra xác định diễn biến hành vi phạm tội của Lò Văn T1Lò Thị B như sau:

Tháng 3/2024, Lò Văn T1 đến thuê trọ tại tổ dân phố V, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang làm thuê cho các công trình xây dựng. Khoảng đầu tháng 4/2024, T1 đi xe khách đến huyện T, tỉnh Sơn La gặp một người đàn ông không quen biết mua 14 triệu đồng ma tuý H3 đem về phòng trọ chia ra nhiều gói nhỏ để bán và sử dụng dần.

Ngày 12/4/2024, T1 chuyển đến lán công trường tại tổ dân phố Q, phường Q, thị xã V ở cùng với Lò Thị B sinh năm 1982, trú tại bản C, xã X, huyện Đ, tỉnh Điện Biên là người có quan hệ tình cảm với T1 từ trước. Số ma tuý mua được T1 để trong chiếc túi chéo màu đen, khi đi làm tại công trình xây dựng T1 đeo trên người để bán và sử dụng; khi về lán T1 để ở dưới gối phía đầu giường ngủ (không nói cho B biết). Do điện thoại hết tiền nên T1 mượn điện thoại của B có số thuê bao là 0375034975 để liên lạc bán ma tuý nhưng không nói cho B biết. Từ đó, người có nhu cầu mua ma tuý của T1 đã gọi vào điện thoại của B để liên hệ với T1 mua ma tuý.

Khoảng 11 giờ ngày 17/4/2024, B đang ở lán (T1 đi làm), thì có Thân Quang H2 sinh năm 1976, trú tại tổ dân phố Đ, phường H, thị xã V sử dụng số điện thoại 0369.873.xxx gọi điện nhiều lần cho B hỏi mua ma tuý, B trả lời “không biết”. Đến 11 giờ 24 phút cùng ngày, lúc đó T1 đã làm về lán thì H2 tiếp tục gọi điện, B nghe máy rồi đưa điện thoại cho T1. Hồi hỏi mua của T1 02 phân ma tuý H3, T1 đồng ý bán với giá là 800.000 đồng và hẹn gặp nhau ở đoạn đường gần lán của T1 ở để giao dịch mua bán. Sau đó, T1 nói cho B biết là T1 bán ma tuý, nếu có khách gọi điện đến thì bảo để T1 bán (BL: 213-216; 234).

Đến khoảng 15 giờ chiều cùng ngày, T1B đang lao động tại công trường thì H2 gọi đến số điện thoại của B; B nghe máy và đưa điện thoại cho T1, H2 hỏi mua ma tuý thì T1 nói đang bận đi làm hẹn đến tối gọi lại. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T1B đang trên đường đi làm về thì H2 gọi điện đến số điện thoại của B hỏi mua ma tuý, Bước đưa điện thoại cho T1 nói chuyện thì H2 hỏi mua 500.000 đồng tiền ma tuý, T1 đồng ý và hẹn đến gần lán của T1 ở để giao dịch mua bán. Đến 18 giờ 47 phút cùng ngày, H2 gọi điện thì B nghe máy và chuyển cho T1 nghe, sau đó T1 lấy ma tuý mang ra bán cho Hồi được 500 nghìn đồng.

Khoảng 8 giờ ngày 19/4/2024, T1B đang ngủ ở giường thì Thân Quang H2 gọi điện, B nghe máy rồi đưa cho T1 để nói chuyện. H2 bảo T1 bán cho 02 phân ma tuý, T1 đồng ý và nói giá bán là 800.000 đồng, khi nào đến lấy ma tuý thì gọi điện để T1 đem ra. Sau đó, T1 dặn B có khách gọi đến mua “02 phân” thì gọi T1 dậy để bán, xong T1 nằm ngủ. Bước hiểu ý T1 là “02 phân” ma tuý. Đến 09 giờ 36 phút cùng ngày, H2 gọi điện cho B bảo đến lấy “02 phân”. Bước gọi T1 dậy nói có người đến lấy “02 phân” (tức 02 phân ma tuý) rồi đi ra ngoài. T1 lấy ma tuý Heroine từ trong túi chéo để dưới gối rồi đi bộ ra ngoài đường, khu vực đối diện quán K2 thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 02 gói giấy bạc chứa chất ma tuý Heroin tại bàn tay và trong túi quần của T1. Khám xét nơi ở của T1 thu giữ toàn bộ số ma tuý T1 để ở dưới gối phía đầu giường.

Tiến hành kiểm tra điện thoại hiệu Vivo Y52 màu xanh thu giữ của Lò Thị B thấy: Điện thoại lắp sim thuê bao số 0375034975; kiểm tra điện thoại thấy tại mục nhật ký cuộc gọi ngày 17 và 19/4/2024 có nhiều cuộc gọi đi, đến với số thuê bao 0369873581. Tiến hành rút list đối với 02 thuê bao điện thoại trên thấy: số 0375.034.xxx đăng ký chủ thuê bao là Lò Thị B; số 0369873581 đăng ký chủ thuê bao là Thân Quang H2; ngày 17 và 19/4/2024 có nhiều cuộc gọi đi, đến giữa 02 số điện thoại trên (BL: 284; 312-325).

Về nguồn gốc số ma tuý, bị cáo T1 khai thông qua người bạn cùng làm công nhân tên Nam giới t và cho số điện thoại của người bán ma tuý ở huyện T, tỉnh Sơn La để T1 liên hệ mua. Tuy nhiên, T1 không biết về nhân thân, lai lịch và không nhớ số điện thoại của những người này, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Đối với Thân Quang H2, là người mua ma tuý của Lò Văn T1 để sử dụng, trong đó ngày 17/4/2024 H2 02 lần mua ma tuý của T1 nhưng đã sử dụng hết, không xác định được khối lượng nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với H2. Ngày 19/4/2024, H2 liên lạc mua “02 phân” ma tuý, T1 đem ma tuý H3 đi giao cho H2 nhưng chưa gặp H2 để giao dịch mua bán thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Thân Quang H2 khai sau khi liên hệ bán ma tuý của T1, do hết tiền nên H2 không đến điểm hẹn gặp T1 để nhận ma tuý. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với H2 là có căn cứ. Ngày 17/6/2024, Thân Quang H2 bị Cơ quan CSĐT Công an thị xã V khởi tố, tạm giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (BL: 327-329 ).

Quá trình điều tra vụ án, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được.

Về xử lý tài sản, vật chứng: Vật chứng là chất ma túy hoàn lại sau giám định và toàn bộ những đồ vật, tài sản thu giữ được nhập kho vật chứng theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSBGP1 ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lò Văn T1, bị cáo T1 bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Lò Thị B, bị cáo B bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Lò Văn T1Lò Thị B, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bị cáo T1 trình bày: bị cáo xác nhận cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai. Tháng 4/2024 bị cáo đã mua 14 triệu đồng ma túy của một người đàn ông không quen biết đem về phòng trọ để sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 12/4/2024, bị cáo chuyển đến lán công trường tại tổ dân phố Q ở cùng với Lò thị Bước. Số ma túy mua được bị cáo để trong chiếc túi chéo màu đen nhưng không nói cho B. Do điện thoại hết tiền nên bị cáo mượn điện thoại của B để liên lạc bán ma túy, bị cáo không chia lời nhuận hay trả công gì cho B. Kết luận giám định xác định bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bàn là 43,423 gam ma túy Heroin bị cáo nhất trí không có ý kiến gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Bị cáo B trình bày: Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, không oan sai. Bị cáo ở cùng với T1 nhưng trước đó bị cáo không biết T1 bán ma tuý. Do điện thoại của T1 hết tiền thì bị cáo có cho T1 mượn để liên lạc. Đến trưa ngày 17/4 có người gọi vào điện, sau đó bị cáo có hỏi thì T1 có nói cho bị cáo biết là T1 mua bán ma tuý, có ai gọi hỏi mua thì báo lại cho T1. Chiều ngày 17 và ngày 19/4 có người hỏi mua ma tuý bị cáo đã đưa cho T1 nghe và bảo lại cho T1. Bị cáo đã có hành vi giúp sức cho T1 mua bán ma túy, nhưng bị cáo không được hưởng lợi gì kết luận cáo trạng

xác định bị cáo giúp sức cho T1 02 lần với khối lượng 3,292 gam heroin bị cáo không có ý kiến gì, nhất trí với kết quả giám định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Thân Quang H2 vắng mặt nhưng có lời trình bày tại Cơ quan điều tra như sau: bị cáo có mua ma túy của T1 vài lần để sử dụng, ngày 19/4 anh có hẹn bị cáo để mua ma túy, nhưng do chưa có tiền nên anh không đến chỗ hẹn với bị cáo để ma túy.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đã được Hội đồng xét xử công bố lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo đồng ý và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về trách nhiệm hình sự:
  2. - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lò Văn T1.

    Xử phạt: Bị cáo Lò Văn T1 15 (mười năm) năm 06 (sáu) tháng đến 16 (mười sáu) năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, thời gian tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/4/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T1.

    - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lò Thị B.

    Xử phạt: Bị cáo Lò Thị B 04 (bốn) năm đến 5 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/4/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo B.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  4. * Tịch thu tiêu hủy những vật chứng sau:

    - 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu “QT” được niêm phong bằng dấu đỏ của Phòng K1 công an tỉnh B, có chữ ký cùng tên của Phạm Hữu N1Nguyễn Mạnh Đ1. Bên trong chứa mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đều là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 3,060 gam được hoàn lại sau giám định.

    - 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu “KX1” được niêm phong bằng dấu đỏ của Phòng K1 công an tỉnh B, có chữ ký cùng tên của Phạm Hữu N1Nguyễn Mạnh Đ1. Bên trong chứa:

    - Mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, loại heroine, khối lượng 1,056 gam được hoàn lại sau giám định.

    - Trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ:

    + Mẫu chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại heroine, khối lượng 1,347 gam.

    + 06 (sáu) mảnh giấy bạc màu trắng.

    - Trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, một mặt túi có nhiều chữ và màu:

    + Mẫu chất cụ bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 2,973gam.

    + 55 (năm mươi lăm) mảnh giấy bạc (trong đó có 50 (năm mươi) mảnh giấy bạc màu trắng và 05 (năm) mảnh giấy bạc màu nâu -xám).

    - Mẫu chất cục bột màu trắng được trong 01 (một) túi nilon màu trắng là ma tuý, loại Heroine, khối lượng 33,851gam, được hoàn lại sau giám định.

    - Trong 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu “KX2” được niêm phong bằng dấu đỏ của Phòng K1 công an tỉnh B, có chữ ký cùng tên của Phạm Hữu N1Nguyễn Mạnh Đ1.

    + 01 (một) cân tiểu ly;

    + 01 (một) dao lam bằng kim loại.

    + 05 (năm) mảnh giấy bạc.

    * Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

    - 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu “ĐT” bên trong chứa điện thoại của Lò Văn T1, Lò Thị B.

    - Số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) thu giữ của bị cáo Lò Văn T1 có 1.300.000đồng là tiền mua bán ma tuý, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Số tiền còn lại 3.700.000đồng là tiền của bị cáo đi làm mà có nên cần trả lại bị cáo T1.

    * Trả lại cho bị cáo Lò Thị B:

    - 01 (một) căn cước công dân tên Lò Thị B.

Người bào chữa cho bị cáo T1 trình bày: nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đề nghị. Về các tình tiết giảm nhẹ bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án đầu khung hình phạt.

Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo T1 trình bày: về tội danh điều luật Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là đúng người, đúng tôi, không oan sai. Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, Cơ quan điều tra đã khởi tố đối với H2, bị là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được đại diện viện kiểm sát áp dụng triệt để. Đề nghị xem xét bị cáo hoàn cảnh con nhỏ xử phạt bị có từ 15 năm đến 15 năm 6 tháng để giúp bị cáo sớm trở về sửa chữa lỗi lầm.

Người bào chữa cho bị cáo B trình bày: về tội danh và điều luật nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, về tình tiết giảm nhẹ hình phạt để nghị áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ “bị cáo phạm tội do lạc hậu”. Bị cáo không được nhà nước tuyên truyền về tác hại của ma túy. Khi nghe điện thoại hộ T1 bị cáo

cũng không rõ việc ua bán ma túy như thế nào mà đưa máy điện thoại ngay cho T1. Bị cáo có hai con nhỏ, chồng mất, bản thân bị cáo cũng đang bị bệnh HIV. Đề nghị áp dụng điểm m khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Booh luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm cũng đủ giúp bị cáo nhận thức hành vi cả mình là vi phạm pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo B trình bày tranh luận: nhất trí với quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ tại điểm m khoản 1 Điều 51, nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo không được đi học, vừa mới xuống Bắc Giang; chồng bị cáo chết vì nhiễm HIV, bản thân bị cáo cũng bị lây nhiễm từ chồng; bản thân bị cáo không biết việc bị cáo T1 mua bám ma túy như thế nào, chia ma túy và bán ma túy như thế nào. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, m khoản 1 Điều 51 và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án 03 năm tù.

Các bị cáo T1, B không có ý kiến tranh luận gì.

Kiểm sát viên đối đáp với luật sư bào chữa, trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo: bị cáo B là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tuy nhiên bị cáo biết rõ mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện giúp sức cho T1. Bị cáo do hoàn cảnh xô đẩy, giúp sức với vai trò thấp không đáng kể nên Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự, chứ Viện kiểm sát không đồng ý áp dụng điểm m khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo B.

Bị cáo T1 nói lời sau cùng: không có ý kiến gì.

Bị cáo B nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo còn hai con nhỏ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư bào chữa và trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho các bị cáo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.

[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Thân Quang H2 và một số người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng này đã có lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[3]. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng đầu tháng 4/2024, Lò Văn T1 đã mua 14 triệu đồng ma tuý của người đàn ông không quen biết ở huyện T, tỉnh Sơn La đem về phòng trọ để sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 12/4/2024, T1 chuyển đến lán công trường tại tổ dân phố Q, phường Q, thị xã V ở cùng với Lò Thị B. Số ma tuý mua được T1 để trong chiếc túi chéo màu đen nhưng không nói cho B biết. Do điện thoại hết tiền nên T1 mượn điện thoại của B để liên lạc bán ma tuý.

Buổi trưa ngày 17/4/2024, Thân Quang H2 sinh năm 1976, trú tại tổ dân phố Đ, phường H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đã nhiều lần gọi điện đến số điện thoại của B hỏi mua ma tuý nhưng Bước trả lời không biết. Khi T1 đi làm về, H2 gọi điện thì B nghe máy rồi đưa điện thoại cho T1 nói chuyện; giữa T1H2 đã liện hệ mua bán 02 phân ma tuý Heroine với số tiền 800.000 đồng. Sau đó T1 nói cho B biết việc T1 bán ma tuý và dặn B có người gọi đến thì bảo để T1 bán. Buổi chiều ngày 17/4/2024, H2 gọi điện hỏi mua ma tuý thì B nghe máy và đưa điện thoại cho T1 nói chuyện và bán cho Hồi ma tuý Heroine được 500.000 đồng.

Khoảng 8 giờ ngày 19/4/2024, H2 gọi điện bảo T1 bán cho 02 phân ma tuý, T1 đồng ý và nói giá bán là 800.000 đồng. T1 dặn B có khách gọi điện mua ma tuý thì bảo T1 để bán. Đến 09 giờ 36 phút cùng ngày, H2 gọi điện thì B nghe máy và báo cho T1 biết. T1 lấy 02 gói giấy bạc chứa 3,292 gam ma tuý H3 đi bộ ra ngoài để bán thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Tổng khối lượng chất ma tuý Lò Văn T1 phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán là 43,423 gam Heroine; Lò Thị B giúp sức cho Lò Văn T1 02 (Hai) lần mua bán trái phép chất ma tuý, lần thứ nhất vào ngày 17/4/2024 nhưng không xác định được khối lượng; lần thứ hai vào ngày 19/4/2024 có khối lượng là 3,292 gam Heroine.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn T1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại Điểm b, khoản 3 Điều 251 BLHS năm 2015 và hành vi của bị cáo Lò Thị B đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại điển b khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4]. Xét tính chất của vụ án thì thấy: Trong vụ án có hai bị cáo cùng thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy mục đích để kiếm lời, nhưng không có sự bàn bạc thống nhất từ trước nên đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn.

Hành vi của bị cáo Lò Văn T1 thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Lò Thị B thuộc trường hợp rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì lợi ích cá nhân mà các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy và gây mất trật tự an ninh xã hội. Ma túy là mối hiểm họa, làm xói mòn đạo đức, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do vậy, việc xét xử nghiêm các bị cáo là cần thiết và phải có hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[5]. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Lò Văn T1 là đối tượng trực tiếp mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời, đồng thời là đối tượng thực hiện việc giao dịch mua bán ma túy cho Thân Quang H2. Do đó, bị cáo T1 có vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Lò Thị B, ban đầu không biết việc mua bán giao dịch ma túy của T1, tuy nhiên sau khi biết T1 mua bán ma túy Lò Thị B giúp sức cho Lò Văn T1 02 lần mua bán trái phép chất ma tuý. Do đó, bị cáo B là đồng phạm có vai trò giúp sức không đáng kể 02 lần cho bị cáo T1 thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Các bị cáo đều nhận thức được hành vi thực hiện giao dịch mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm mục đích kiếm lời. Do đó, phải có hình phạt tù phù hợp với hành vi phạm tội của từng bị cáo để nhằm răn đe chung và phòng ngừa riêng với hành vi nguy hiểm cho xã hội này.

[6]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy:

*Đối với bị cáo Lò Văn T1:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qua quá trình điều tra, bị cáo Lò Văn T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Lò Văn D là thương binh, có Huân chương kháng chiến, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T1 nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Phạm tội 02 lần trở lên) quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

*Đối với bị cáo Lò Thị B:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qua quá trình điều tra, bị cáo Lò Văn T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú đây là những tình tiết

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo B không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7]. Về hình phạt chính: Xét bị cáo T1 phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo B phạm tội rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài, mới đủ giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung cho loại tội phạm này.

Xét bị cáo B là đồng phạm với vai trò giúp sức không đáng kể, nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo không biết quá trình T1 mua bán ma túy như thế nào, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng chết, còn hai con nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, như đề nghị của đại diện tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp.

[8]. Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 khoản Điều 251 Bộ luật hình sự còn quy định về hình phạt bổ sung, có thể phạt tiền đối với các bị cáo. Tuy nhiên, các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không có công việc ổn định, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9]. Do các bị cáo đang bị tạm giam nên cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

[10]. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy những vật chứng sau:

- 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu “QT” được niêm phong bằng dấu đỏ của Phòng K1 công an tỉnh B, có chữ ký cùng tên của Phạm Hữu N1Nguyễn Mạnh Đ1. Bên trong chứa mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đều là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 3,060 gam được hoàn lại sau giám định.

- 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu “KX1” được niêm phong bằng dấu đỏ của Phòng K1 công an tỉnh B, có chữ ký cùng tên của Phạm Hữu N1Nguyễn Mạnh Đ1. Bên trong chứa:

- Mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, loại heroine, khối lượng 1,056 gam được hoàn lại sau giám định.

- Trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ:

+ Mẫu chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại heroine, khối lượng 1,347 gam.

+ 06 (sáu) mảnh giấy bạc màu trắng.

- Trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, một mặt túi có nhiều chữ và màu:

+ Mẫu chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 2,973gam.

+ 55 (năm mươi lăm) mảnh giấy bạc (trong đó có 50 (năm mươi) mảnh giấy bạc màu trắng và 05 (năm) mảnh giấy bạc màu nâu -xám).

- Mẫu chất cục bột màu trắng được trong 01 (một) túi nilon màu trắng là ma tuý, loại Heroine, khối lượng 33,851gam, được hoàn lại sau giám định.

- Trong 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu “KX2” được niêm phong bằng dấu đỏ của Phòng K1 công an tỉnh B, có chữ ký cùng tên của Phạm Hữu N1Nguyễn Mạnh Đ1.

+ 01 (một) cân tiểu ly;

+ 01 (một) dao lam bằng kim loại.

+ 05 (năm) mảnh giấy bạc.

* Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

- 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu “ĐT” bên trong chứa điện thoại của Lò Văn T1, Lò Thị B.

- Số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) thu giữ của bị cáo Lò Văn T1 có 1.300.000đồng là tiền mua bán ma tuý, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Số tiền còn lại 3.700.000đồng là tiền của bị cáo đi làm mà có nên cần trả lại bị cáo T1.

* Trả lại cho bị cáo Lò Thị B:

- 01 (một) căn cước công dân tên Lò Thị B.

[11]. Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma tuý., bị cáo T1 khai thông qua người bạn cùng làm công nhân tên Nam giới t và cho số điện thoại của người bán ma tuý ở huyện T, tỉnh Sơn La để T1 liên hệ mua. Tuy nhiên, T1 không biết về nhân thân, lai lịch và không nhớ số điện thoại của những người này, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Đối với Thân Quang H2, là người mua ma tuý của Lò Văn T1 để sử dụng, trong đó ngày 17/4/2024 H2 02 lần mua ma tuý của T1 nhưng đã sử dụng hết, không xác định được khối lượng nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với H2. Ngày 19/4/2024, H2 liên lạc mua “02 phân” ma tuý, T1 đem ma tuý H3 đi giao cho H2 nhưng chưa gặp H2 để giao dịch mua bán thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Thân Quang H2 khai sau khi liên hệ bán ma tuý của T1, do hết tiền nên H2 không đến điểm hẹn gặp T1 để nhận ma tuý. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với H2 là có căn cứ. Ngày 17/6/2024, Thân Quang H2 bị Cơ quan CSĐT Công an thị xã V khởi tố, tạm giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (BL: 327-329 ).

[12]. Về án phí: căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 Nghị quyết 326/2016/UBTVH ngày 16/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

[13]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự:
  2. - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lò Văn T1.

    Xử phạt: Bị cáo Lò Văn T1 15 (mười năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, thời gian tù tính từ ngày tạm giữ 19/4/2024.

    - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lò Thị B.

    Xử phạt: Bị cáo Lò Thị B 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 19/4/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  4. * Tịch thu tiêu hủy những vật chứng sau:

    - 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu “QT” được niêm phong bằng dấu đỏ của Phòng K1 công an tỉnh B, có chữ ký cùng tên của Phạm Hữu N1Nguyễn Mạnh Đ1. Bên trong chứa mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đều là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 3,060 gam được hoàn lại sau giám định.

    - 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu “KX1” được niêm phong bằng dấu đỏ của Phòng K1 công an tỉnh B, có chữ ký cùng tên của Phạm Hữu N1Nguyễn Mạnh Đ1. Bên trong chứa:

    + Mẫu chất cục bột màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ là ma tuý, loại heroine, khối lượng 1,056 gam được hoàn lại sau giám định.

    + Trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ:

    + Mẫu chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại heroine, khối lượng 1,347 gam.

    + 06 (sáu) mảnh giấy bạc màu trắng.

    + Trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, một mặt túi có nhiều chữ và màu:

    + Mẫu chất cục bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine, tổng khối lượng 2,973gam.

    + 55 (năm mươi lăm) mảnh giấy bạc (trong đó có 50 (năm mươi) mảnh giấy bạc màu trắng và 05 (năm) mảnh giấy bạc màu nâu -xám).

    + Mẫu chất cục bột màu trắng được trong 01 (một) túi nilon màu trắng là ma tuý, loại Heroine, khối lượng 33,851gam, được hoàn lại sau giám định.

    - Trong 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu “KX2” được niêm phong bằng dấu đỏ của Phòng K1 công an tỉnh B, có chữ ký cùng tên của Phạm Hữu N1Nguyễn Mạnh Đ1.

    + 01 (một) cân tiểu ly;

    + 01 (một) dao lam bằng kim loại.

    + 05 (năm) mảnh giấy bạc.

    * Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

    - 01 (một) phong bì dán kín ký hiệu “ĐT” bên trong chứa điện thoại của Lò Văn T1, Lò Thị B.

    - Số tiền 1.300.000đồng của Lò Văn T1.

    * Trả lại cho bị cáo Lò Văn T1: số tiền 3.700.000đồng (Ba triệu bẩy trăm nghìn đồng).

    * Trả lại cho bị cáo Lò Thị B:

    - 01 (một) căn cước công dân tên Lò Thị B.

    (Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ- VKS-P2 ngày 12/9/2014 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang Bắc Giang).

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  6. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T1Lò Thị B.

  7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
  8. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Sở tư pháp;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Cổng thông tin điện tử của TAND Tối cao;
  • - Lưu HS,THS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS- ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 97/2024/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QUYẾT ĐỊNH: 1. Về trách nhiệm hình sự: - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lò Văn T1. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn T1 15 (mười năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, thời gian tù tính từ ngày tạm giữ 19/4/2024. - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lò Thị B. Xử phạt: Bị cáo Lò Thị B 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 19/4/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger