Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN ND Q.SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 97/2024/HSST

Ngày 30.8.2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:- Bà Dương Thị Bình, Cán bộ hưu trí

-Ông Nguyễn Kim Thành, Cán bộ hưu trí

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Trà - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà TP Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 30.8.2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 93/2024/HSST ngày 20.8.2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/HSST-QĐ ngày 20.8.2024 đối với bị cáo:

Dụng Thị Mỹ H. Sinh ngày: 08.02.1982, tại Thừa Thiên Huế. CCCD số 04182006298 cấp ngày 22.12.2021. Nơi cư trú: tổ A, phường A, quận S, TP.Đà Nẵng; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dụng P (1950) và bà Phạm Thị Lệ T (1952); Chồng Đặng Văn T1 (1982), có 02 con lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, Có mặt.

*Bị hại: Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1980. Trú tại: số E T, phường A, quận S, TP Đà Nẵng. vắng mặt

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Đặng Văn T1, sinh năm 1982. Tổ A, phường A, quận S, TP Đà Nẵng. có đơn xin vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2024, Dụng Thị Mỹ H cho chị Nguyễn Thị Kim H1 (SN 1980; trú: số E, đường T, phường A, quận S, TP.Đà Nẵng) vay tổng số tiền 120.000.000 đồng với lãi suất dao động từ 182,5%/năm đến 243,33%/năm, thu lợi bất chính tổng số tiền 27.150.686 đồng. Đến ngày 27/3/2024, H tiếp tục cho chị H1 vay 167.000.000 đồng để làm ăn và không lấy lãi. Hằng ngày, chị H1 góp trả cho H 300.000 đồng cho đến khi hết

nợ. Chị H1 viết giấy mượn tiền đưa lại cho H và nhận tiền. Sau khi vay tiền, chị H1 góp trả tiền cho H đến ngày 14/4/2024 thì không góp trả cho H nữa. Đến 22 giờ 30 phút ngày 24/4/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode, màu xám, BKS: 43E1-523.77 đi trên đường V, phường N, quận S, TP.Đà Nẵng thì thấy chị H1 đang đứng trước quán N ở số B đường V, phường N, quận S, TP.Đà Nẵng nên dừng xe lại để đòi tiền nợ của chị H1. Khi gặp chị H1, H to tiếng chửi bới chị H1 và nói “tiền mày hứa góp cho tao sao mày đi cả 10 ngày không đưa, đưa tiền góp đây cho tao”. Chị H1 nói không có tiền để trả thì H to tiếng đe dọa đánh chị H1 nếu không trả tiền nợ và tiếp tục chửi bới chị H1. Lúc này, H thấy chị H1 đang cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng trên tay nên H đi tới dùng tay giật lấy chiếc điện thoại và nói chị H1 khi nào trả tiền nợ thì sẽ trả lại điện thoại. Sau khi bị H lấy điện thoại, chị H1 xin H trả lại điện thoại thì H không đồng ý, tiếp tục chửi bới và đe dọa đánh chị H1 nên chị H1 sợ không dám đến xin lại điện thoại. Sau đó, H cất điện thoại vào túi xách rồi bỏ vào cốp xe chuẩn bị rời đi thì tổ tuần tra Đ Công an quận S, TP.Đà Nẵng đến mời về làm việc.

* Tang vật thu giữ:

  • - 01 đĩa CD màu vàng chứa dữ liệu video vụ việc ngày 24/4/2024 (Thu giữ từ Nguyễn Thị Q);
  • - 01 chiếc xe mô tô SH mode, màu xám, gắn BKS: 43E1-523.77; 01 túi xách da màu đen, kích thước khoảng (13 x 20) cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng, số IMEI: 356734886026077; 01 giấy vay tiền ký tên Nguyễn Thị Kim H1 vào ngày 27/3/2024 (thu giữ từ Dụng Thị Mỹ H).

Tại Kết luận định giá tài sản số: 21/KL-HĐĐGTS ngày 22/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận S xác định: 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu trắng, số IMEI: 356734886026077 có giá trị 3.000.000 đồng.

* Về bồi thường dân sự: Chị Nguyễn Thị Kim H1 đã nhận lại điện thoại di động, đồng thời Dụng Thị Mỹ H đã bồi thường cho chị H1 số tiền 2.000.000 đồng, chị H1 không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho H.

Qua điều tra xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode, màu xám, BKS: 43E1-523.77 do anh Đặng Văn T1 (sinh năm: 1982; trú: tổ A, phường A, quận S, TP.Đà Nẵng, chồng của Dụng Thị Mỹ H) đứng tên chủ sở hữu. Vào ngày 24/4/2024, H lấy xe này sử dụng để đi lại thì phát hiện chị Nguyễn Thị Kim H1 nên đã thực hiện phạm tội, không nhằm mục đích sử dụng xe để làm phương tiện phạm tội từ trước nên Cơ quan CSĐT Công an quận S ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho anh Thế là phù hợp.

Tại Bản cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 19.8.2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Dụng Thị Mỹ H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 BLHS. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 170 BLHS; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo.

2

-Về dân sự: Chị Nguyễn Thị Kim H1 đã nhận lại điện thoại di động, đồng thời Dụng Thị Mỹ H đã bồi thường cho chị H1 số tiền 2.000.000 đồng, chị H1 không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho H.

-Xử lý vật chứng: Đề nghị + Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD màu vàng chứa dữ liệu video vụ việc ngày 24/4/2024;

+ Trả lại cho Dụng Thị Mỹ H 01 giấy vay tiền ký tên Nguyễn Thị Kim H1 vào ngày 27/3/2024 vì liên quan đến quyền lợi về dân sự của bị cáo.

+ Tiêu hủy 01 túi xách da màu đen, kích thước khoảng 13x20 cm, do bị cáo không có nhu cầu nhận lại.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo cho rằng cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 BLHS là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã thấy được lỗi lầm, ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét cho bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 24/4/2024, tại số B đường V, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Dụng Thị Mỹ H thấy chị Nguyễn Thị Mỹ H2 đang đứng trước quán Tuyết Q nên dừng xe để đòi nợ chị H2, do chị H2 mượn nhưng đến ngày 14/4/2024 đã không góp tiếp tổng số tiền nợ là 3.000.000 đồng, chị H2 nói không có tiền trả nên bị cáo đã có hành vi chửi bới to tiếng, đe doạ sẽ đánh chị H2 làm chị H2 hoảng sợ, lúc này chị H2 đang cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng trên tay nên bị cáo đi đến dùng tay giật chiếc điện thoại cất vào túi xách rồi bỏ đi thì bị lực lượng công an triệu tập về làm việc. Giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng)

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “ Cưỡng đoạt tài sản” được quy định tại Điều 170 BLHS. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy bị cáo đã có hành vi uy hiếp về tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của cơ quan báo chí cũng như trật tự an toàn xã hội. Do đó,

3

hành vi này phải được xử lý mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo mới phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện khắc phục hậu quả, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, người bị hại cũng có một phần lỗi mượn tiền nhưng không trả gây bức xúc cho bị cáo. Cha ruột bị cáo đã là người có công với cách mạng. Do vậy HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị cáo có nơi cư trú ràng, có nhân thân tốt. Vì vậy, HĐXX xét thấy không cần thiết phải xử cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 BLHS để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương, nơi thường trú cũng trở thành người tốt.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Kim H1 đã nhận lại điện thoại di động, đồng thời Dụng Thị Mỹ H đã bồi thường cho chị H1 số tiền 2.000.000 đồng, chị H1 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét

[6] Đối với hành vi cho vay của Dụng Thị Mỹ H đối với chị Nguyễn Thị Kim H1, do không đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S, TP.Đà Nẵng có tờ trình số: 1470/TTr-CAQ-ĐCSHS để chuyển vi phạm này cho Ủy ban nhân dân quận S, TP.Đà Nẵng xử lý hành chính theo quy định là phù hợp. UBND quận S đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 3934/QĐ-XPHC ngày 02/8/2024 xử phạt Dụng Thị Mỹ H số tiền 15.000.000 đồng về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Dụng Thị Mỹ H đã nộp tiền vào ngày 06/8/2024.

[7] Xử lý vật chứng:

  • + Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD màu vàng chứa dữ liệu video vụ việc ngày 24/4/2024;
  • + Trả lại cho Dụng Thị Mỹ H 01 giấy vay tiền ký tên Nguyễn Thị Kim H1 vào ngày 27/3/2024 vì liên quan đến quyền lợi về dân sự của bị cáo.
  • + Tiêu hủy 01 túi xách da màu đen, kích thước khoảng 13x20 cm, do bị cáo không có nhu cầu nhận lại.

[8] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án thì bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Dụng Thị Mỹ H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản".

4

- Căn cứ: khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS;

Xử phạt: Dụng Thị Mỹ Hạnh 12 tháng ( mười hai tháng) tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dụng Thị Mỹ H cho UBND phường A, quận S, TP Đà Nẵng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, tuyên

  • + Tiêu hủy 01 túi xách da màu đen, kích thước khoảng 13x20 cm, do bị cáo không có nhu cầu nhận lại.(vật chứng thể hiện tại biên bản bàn giao ngày 19.8.2024 Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà đang quản lý).
  • + Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD màu vàng chứa dữ liệu video vụ việc ngày 24/4/2024;
  • + Trả lại cho Dụng Thị Mỹ H 01 giấy vay tiền ký tên Nguyễn Thị Kim H1 vào ngày 27/3/2024 vì liên quan đến quyền lợi về dân sự của bị cáo.

3. Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) bị cáo phải chịu.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Riêng người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - VKSND quận Sơn Trà
  • - VKS ND TPĐN, TAND TΡΕΝ
  • - Công an quận Sơn Trà
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng
  • - Trại giam Công an TPĐN
  • - Sở Tư pháp
  • - Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Thanh Thủy

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HSST ngày 30/08/2024 của Toà án nhân dân Quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng về cưỡng đoạt tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 97/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân Quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Dung Thị Mỹ H bị truy tố về tội "Cưỡng đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 170 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger