|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2024/HS-ST Ngày: 27/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Minh Hùng.
- Ông Nguyễn Danh Long.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 27/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2024/TLST- HS ngày 04/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HS, ngày 13/8/2024, đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh ngày 22/6/1999 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Nơi cư trú: thôn V, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1, sinh năm 1973 và bà Trần Thị L, sinh năm 1976; vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1999; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022; anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/01/2024 đến 21/6/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. (Có mặt tại phiên toà)
- Người bị hại: Anh Ma Công T2, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện S, tỉnh T. (Có mặt tại phiên toà)
- Người làm chứng:
- Ông Phạm Văn D, sinh năm 1971; trú tại: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt tại phiên tòa)
- Anh Đàm Trung H1, sinh năm 1982; trú tại: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 23/01/2024, tại nhà anh Phan Huy G, trú tại thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang tổ chức ăn cơm, uống rượu tổng kết năm 2023. Trong đó có Phạm Văn D, Phạm Văn T, anh Đàm Trung H1 và anh Ma Công T2 và một số người khác.
Khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, anh T2 ăn uống xong ra ngồi ở bàn uống nước. D và T đang ngồi uống rượu thì có người đến mời rượu. Do chiếc ca nhựa đựng rượu ở bàn đã hết rượu nên D cầm vứt ra phía cổng. T2 đi ra nhặt chiếc ca nhựa vào nói với D “Anh ơi hết rượu thì bảo anh em vào lấy chứ ném ca đi làm gì”. Sau đó, D và T2 xảy ra mâu thuẫn nên cùng nhau đi ra ngoài đường để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. H1 đi đến, đứng giữa D và T2 can ngăn, không cho đánh nhau. Do thấy D và T2 cãi chửi nhau nên T đứng dậy đi vào phía sau nhà anh G cầm 01 con dao phay dài 43,6cm (chuôi gỗ, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 29,5cm, bản rộng nhất 6,5cm) giấu vào sau tay áo đi ra vị trí D và T2 đang đứng cãi nhau. T đứng đối diện, cách H1 khoảng 61cm xem D và T2 cãi nhau thì bị rơi dao xuống đường. T cúi xuống dùng tay phải nhặt dao lên chém 02 phát về phía Trình theo hướng từ sau ra trước từ trên xuống dưới trúng vào vùng mặt của T2. H1 dùng tay phải ấn vào ngực của T đẩy T ra thì T vung dao phát thứ 03 chém về phía Trình thì trúng vào vùng trán của H1. H1 dùng tay phải túm vào cổ tay phải của T can ngăn và cầm giằng được con dao trong tay T. T bỏ con dao ra rồi bỏ về nhà. Trình được mọi người đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đ.
Hậu quả: Anh T2 bị thương ở vùng mặt bên phải (dài 11cm, từ góc trán cách phía ngoài chân tóc 02cm qua sát phía ngoài đuôi mắt xuống đến gò má phải) và tai phải (dài 06cm, từ 1/3 trên gờ luân dọc theo gờ đối luân đến dái tai); anh H1 bị thương ở vùng trán (vết rách da chảy máu, kích thước (5,5 x 0,3)cm).
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 06/2024/KLTTCT-TTPY ngày 25/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T về thương tích của anh M Công Trình: Vết thương chưa liền sẹo vùng mặt như mô tả 9%, vết thương vành tai phải chưa liền sẹo vùng mặt như mô tả 3%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Ma Công T2 tại thời điểm giám định là 12% (Mười hai phần trăm). Thương tích như trên là do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã tạm giữ, thu giữ: 01 con dao phay chuôi gỗ, tổng chiều dài 43,6cm, bản rộng nhất 6,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 29,5cm, trên mặt lưỡi dao có khắc chữ “Thư Ngó”; 02 mảnh giấy bám dính tạp chất màu đỏ khô tại vị trí số 01; 03 lá cây bám dính chất màu đỏ tại vị trí số 02 (thu tại hiện trường).
Cáo trạng số 81/CT-VKSSD ngày 04/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Phạm Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ 27/01/2024 đến ngày 21/6/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận bồi thường 30.000.000đ, hai bên đã giao nhận tiền xong nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao phay chuôi gỗ, tổng chiều dài 43,6cm, bản rộng nhất 6,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 29,5cm, trên mặt lưỡi dao có khắc chữ “Thư Ngó”; 02 mảnh giấy bám dính tạp chất màu đỏ khô tại vị trí số 01; 03 lá cây bám dính chất màu đỏ tại vị trí số 02 (thu tại hiện trường).
- + Trả lại cho bị cáo số tiền 10.000.000đ do chị Nguyễn Thị H (vợ bị cáo nộp thay).
- Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nội dung vụ án: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng mình bằng: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết luận giám định thương tích; vật chứng thu giữ; lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 23/01/2024, tại đoạn đường bê tông trước cửa nhà anh Phan Huy G, thuộc thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Phạm Văn T đã cầm 01 con dao (dạng dao phay), chuôi gỗ, lưỡi bằng kim loại sắc, dài 29,5cm, bản rộng nhất 6,5cm (là hung khí nguy hiểm) chém 02 phát trúng vào vùng mặt anh M Công Trình gây tổn thương cơ thể 12% (Mười hai phần trăm). Trước khi gây thương tích cho Ma Công T2, giữa T và T2 không có mâu thuẫn gì, nên hành vi của T có tính chất côn đồ.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Phạm Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
[2] Về việc xem xét hành vi của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an tại địa phương, trực tiếp xâm hại đến quyền được bảo hộ về sức khoẻ của con người. Hành vi của bị cáo là cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy cần
phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; người phạm tội ra đầu thú; bị cáo có ông ngoại là Trần Văn T3 có 04 năm 04 tháng công tác trong quân đội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt cần áp dụng cho bị cáo để có mức án phù hợp.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng mức án dưới khung hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát như vậy là phù hợp, cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn T và người bị hại Ma Công Trình đã thỏa thuận bồi thường dân sự: Bị cáo T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh T2 tổng số tiền là 30.000.000đ, hai bên đã giao nhận tiền cho nhau xong.
Xét thấy sự thỏa thuận trên là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên HĐXX ghi nhận bị cáo T đã bồi thường xong phần dân sự cho anh T2.
[5] Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 con dao phay chuôi gỗ, tổng chiều dài 43,6cm, bản rộng nhất 6,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 29,5cm, trên mặt lưỡi dao có khắc chữ “Thư Ngó”; 02 mảnh giấy bám dính tạp chất màu đỏ khô; 03 lá cây bám dính chất màu đỏ (thu tại hiện trường). Không còn giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về số tiền 10.000.000₫ ngày 21/3/2024, chị Nguyễn Thị H là vợ bị cáo Phạm Văn T đã giao nộp để bồi thường cho Ma Công T2. Hiện đang gửi tại tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương. Tại phiên tòa bị cáo và bị hại đã bồi thường cho nhau xong, do vậy trả lại cho bị cáo số tiền trên. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
[6] Các vấn đề có liên quan:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Phạm Văn T và Ma Công T2 khai nhận nguyên nhân vụ việc do Phạm Văn D xúi giục T đánh gây thương tích cho T2. Tuy nhiên Phạm Văn D không thừa nhận việc xúi giục. Anh Đàm Trung H1 là người trực tiếp can ngăn không nghe thấy. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không đủ căn cứ xác định Phạm Văn D xúi giục T nên không có căn cứ để xử lý đối với Phạm Văn D về vai trò đồng phạm.
Đối với anh Đàm Trung H1 bị thương tích nhẹ, đã từ chối giám định thương tích, không yêu cầu T phải bồi thường nên không xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến Công an huyện S để xử lý vi phạm hành chính theo quy định.
Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ 27/01/2024 đến ngày 21/6/2024.
2.Về dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường xong phần dân sự cho anh M Công Trình.
3. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao phay chuôi gỗ, tổng chiều dài 43,6cm, bản rộng nhất 6,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 29,5cm, trên mặt lưỡi dao có khắc chữ “Thư Ngó”; 02 mảnh giấy bám dính tạp chất màu đỏ khô; 03 lá cây bám dính chất màu đỏ.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), do gia đình bị cáo T nộp. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
(Số tiền trên hiện đang trong tài khoản số 3949.0.1064844.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S).
4. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Nguyễn Minh Hùng - Nguyễn Danh Long |
Hoàng Thị Minh Khánh |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |
Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 97/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 23/01/2024, tại đoạn đường bê tông trước cửa nhà anh P.H.G, thuộc thôn C, xã TT, huyện SD, tỉnh TQ. P.V.T đã cầm 01 con dao (dạng dao phay), chuôi gỗ, lưỡi bằng kim loại sắc, dài 29,5cm, bản rộng nhất 6,5cm (là hung khí nguy hiểm) chém 02 phát trúng vào vùng mặt anh M.C.Tr gây tổn thương cơ thể 12% (Mười hai phần trăm). Trước khi gây thương tích cho M.C.Tr, giữa T và Tr không có mâu thuẫn gì, nên hành vi của T có tính chất côn đồ.
